TỰ THUẬT

(Kỳ 28)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

Tiểu Chủng Viện Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu

Có lẽ Người thấy con chỉ mãi cắm đầu vào công việc củng cố, mà nền nhân đức chưa cứng rắn đủ? Nên Người liệu cách cho con đi một nơi khác, ở đó Người sẽ dưỡng sức cho linh hồn con, và tỏ Người ra cho con thấy. Ở đó Người sẽ tỏ cho con thấy sứ mạng tuyệt đối của con, là làm "tông đồ" bằng Tình yêu, hơn là bằng lời nói hoặc hành động gắt gao bên phía ngoài. Bằng "Tình yêu Tuyệt Ðối" nghĩa là con chỉ âm thầm cầu nguyện và hy sinh.

Và ở đó Người sẽ gửi đến cho con một thầy dậy về khoa thánh đức. Con sẽ được dẫn dụ và sẽ thành nên gương mẫu.

Và Chúa còn muốn gì ở đó thì, thưa Cha, con xin thành thực kể tiếp theo:

Vậy lễ Sinh nhật vừa qua, con được tin anh bạn Tân từ Lạng Sơn gửi về cho hay Cha Giám đốc muốn nhận học trò trong dịp này, và anh yêu cầu có con lên. Trước đây ba tháng anh đã được nhập tiểu chủng viện Lạng Sơn. Khi đi, anh cũng muốn có con cùng đi với anh ta cho có bạn. Nhưng lực học của con còn kém, vả lại Cha xứ không muốn, vì đây thuộc về địa phận Bắc-Ninh.

Anh Tân đi, con hết sức nhớ tiếc, vì ngoài gia đình, anh là một người tâm phúc quí mến nhất của con. Anh ưa con cũng chỉ vì anh ham cái thành thật và tính cương nghị của con. Anh vẫn thường khen con:

- Ðường của Văn đi là con đường thẳng tuột.

Khi được thư anh Tân, con liền đệ trình lên cha xứ và xin phép người cho con nhập Tiểu Chủng viện Thánh Nữ Têrêsa ở Lạng Sơn. Người bàn qua với ông già, rồi ưng thuận cho con đi ngay. Nhưng người chẳng cho thêm được một bộ quần áo, không một đôi dép, và cũng không gì cả.

Con nhập Tiểu Chủng viện vào dịp đầu năm 1942. Anh Tân hơi thẹn vì thấy người bạn trẻ của anh nghèo xác nghèo xơ, đi vào Tiểu Chủng viện mà lại mặc chiếc áo dài thâm bạc đến mấy đời, chân đeo đôi dép bẩn như ma, lại đứt mất một quai.

Sáng hôm đến gặp cha Giám đốc ở sân trường, anh em xúm lại quanh con để xem cậu học sinh mới. Họ reo lên:

- Ha em Tân đến! Em Tân đến!.

Anh Tân thì cứ đỏ gay cả mặt lên và ra sức cải chính:

- Em đâu mà em? Tớ làm gì có em tồi thế?

Con tự cảm thấy hơi thẹn mặt với anh Tân, vì thấy anh phải khó chịu về cái nghèo khó của con. Và con cảm thấy trong mình làm sao ý, muốn rớt nước mắt ra, khi nghe các anh em xì xèo với nhau ở đàng sau:

- Gớm chửa con ông cụ xứ nào mà "xo" như cụ lý toét thế?

Ngày hôm sau anh Tân vứt đôi dép của con vào sọt rác, và mua cho con đôi mới. Sau đó ít ngày, món quà Sinh nhật của các chị Nhà kín Saigon gửi đến nhà trường cho những chú nghèo, trong ấy có cả bút giấy lẫn áo quần. Mà con là một trong những chú nghèo, nên cũng nhận phần ở món quà ấy.

Cũng do món quà đầu năm ấy, mà con biết đến các chị Nhà kín. Con cũng được nghe anh em kể rằng: Nhà kín Saigon vẫn có tình liên lạc riêng với tiểu chủng viện Lạng Sơn, vì là một chủng viện đầu tiên ở Á Châu, nhận Thánh Nữ Thêrêsa Hài đồng Giêsu làm bổn mạng.

Tuy nhiên, con cũng chẳng để ý lắm. Mãi cho đến năm ở Saigon (1950), đi viếng nhà nguyện của các chị, con mới sực nhớ đến món quà năm xưa. Và ở đây, con dâng lại lời nguyện cám mến của con đối với các chị, con xin Giêsu đền ơn báo nghĩa thay cho con, vì ngày nay con đã trọn vẹn là của Giêsu.

Bắt đầu vào cảnh sống của một nhà trường, con thấy nó làm sao ý. Ở nhà thì nhất mẹ nhì con cơ đấy, nhưng vào đến đây con thấy mình chẳng ăn thua gì hết. Cả đến cái nghịch ngợm con cũng kém. Trong nhà xứ Hữu Bằng xưa nay con có thể gọi được là tướng tá nhất, thế mà vào đến đây. cứ nguyên một cái phải chịu anh em trêu mình là "cụ lý xác" cũng phải rớt nước mắt rồi. Nhưng có cái khó nhất cho con là phải sống với các cố Tây.

Úy chà! Cố tây! nhắc đến cái tên "cố tây" hồi đó, con lại phải rùng mình. Vì con đã được nếm thử "ba tông" của một "ông cố tây" ở Thái Nguyên rồi. Nên con cứ quan niệm rằng "các ông cố tây" đều tai ác như thế hết. "Ghét" thì đã dĩ nhiên là con không dám ghét, nhưng mà "sợ" thì không biết đâu mà tả hết cái sợ của con.

Cho nên ở trong nhà trường hễ lúc nào con thấy "cố tây" là con chạy đi núp. Chỉ có hôm đầu, con phải đến trình diện với cha Giám đốc. thì con còn ép tình đứng trước mặt một "cố tây" còn ngoài ra, con không bao giờ dám đứng nói truyện, hoặc chơi đùa với "cố tây" như các anh em khác.

Trong nhà cơm, cái khổ nhất cho con là cái phải ngồi mãi tận trên mí bàn, gần sát với bàn ăn của các cố. Nên hễ ngồi vào bàn ăn, thay vì ngồi ngang, con lại cố tìm cách ngồi xiên xiên, quay mặt trở xuống, và quay lưng về phía bàn các cha. Con ngồi như thế mấy ngày đầu thì không ai nói. Nhưng sau có cha giáo Việt nam, cha Ngữ, đến bảo con ngồi cho tử tế. Con vâng lời, nhưng chốc chốc lại phải liếc trộm xem có cố tây nào nhìn con không. Một lần con gặp thấy đôi mắt mầu "nâu lợt" của cha Drayer du Fer chăm chú vào con, con tự cảm thấy nóng ran cả người, và như mất cả cảm giác con đang ngồi ăn. Nhưng đột nhiên, con thấy miệng cha hé một nụ cười điềm đạm. Con thấy vui ngay, và yên trí ngồi ăn ngon như thường.

Ít lâu sau, có lẽ cha Giám đốc cũng hiểu đến cái thái độ của con?

Nhân một ngày Chủ nhật, người gọi riêng con vào bàn giấy của người, người lấy hai tay nâng bổng con và đặt ngồi trên một chiếc ghế bành, vừa làm người vừa hát ồ ề nghe đến tức cười; người vỗ má con vài cái, rồi quay đi, miệng vẫn cứ hát cái cung giọng nực cười ấy.

Người đi lại phía bàn, vặn máy hát cho con nghe, và hỏi con:

- Con "p’tit vằn" có (hiểu) "yếu" k’ồng?

Con bẽn thẽn mỉm cười, lắc đầu thưa:

- Hay, nhưng mà con không hiểu.

Nhưng người không chú ý đến câu con trả lời. Mà lại lấy tay múa máy lên xuống theo điệu nhạc. Người châm một điếu thuốc lá, rồi rút ngăn kéo lấy ra bàn cờ đầm và bảo con nhắc ghế lại gần chơi với người.

Con e ngại chẳng hiểu ra làm sao, nhưng cũng làm theo như ý người.

Sắp quân xong, người đưa tay tắt máy nói, rồi cùng con chơi cờ.

Nhưng mà làm sao ý, con chơi một cách khờ khạo như ép tình, và chỉ muốn khóc.

Chốc chốc con lại nhìn cha để định xin phép đi ra, nhưng con lại sợ thất lễ, nên con cứ cố chơi cho xong một ván. Mà cha đừng quên là ván đó con thắng.

Cha Giám đốc chịu thua một cách hết sức vui vẻ. Người đập hai tay vào cạnh bàn, đầu gật gù cười ồ ồ, khen con chơi cờ giỏi. Rồi người rút ngăn kéo thưởng cho con vài chiếc kẹo, người cầm một cái bóc giấy và bắt con phải ăn ngay tại chỗ.

Con cảm thấy nóng ran cả mặt, nhưng cũng không sao nín cười được, khi miệng con hỏm hẻm nhai lốc cốc, mà mãi nó không chịu tan hết.

Ðang lúc con ăn kẹo, cha Giám đốc mở bao lấy thuốc ra hút, và người lại đứng dậy vặn máy hát, rồi người quay lại hỏi con:

- Bonbon có ngọt k’ồng?

Con thì cười, rồi bịt miệng thưa thật nhanh:

- Bẩm cha có ạ.

- Con có thích chơi bi không?

- Bẩm cha, con thích, nhưng con chơi vụng lắm.

- À, thế thì chơi với cha.

Hai cha con dẹp ghế lại, rồi chơi bi. Lúc đầu, thỉnh thoảng con còn phải liếc trộm cha Giám đốc như thể giữ miếng. Nhưng một lúc sau con chẳng còn để ý liếc trộm nữa, con chơi thật lực, và "trùy" cho cha Giám đốc những "cái" bắn vào mãi tận trong xó nhà. Nhưng rút cuộc thì con thua, mà cũng không biết lấy gì để đền cho cha.

Còn người thì cứ gật gù khen con chơi khá. Ðến đây con xin phép đi ra ngoài. Trước khi ra người bảo con lại gần người, rồi người gật gù mỉm cười, và hỏi con:

- Con có sợ cha K’ông?

Con cũng cười và thành thật thưa:

- Bẩm, bây giờ con hết sợ rồi ạ.

- Ồ phải, t’ì con k’ông nên sợ làm gì á.

Rồi người cho con đi.

Lúc ra khỏi phòng người, lòng con như trút đi được cái ách nặng, con cảm thấy tâm hồn nhẹ lâng, và từ đó con không còn sợ cố tây nữa. Ðối với cha Giám đốc con cũng chẳng còn phải e dè điều gì, và điều gì con cũng cảm thấy dễ bày tỏ. Thỉnh thoảng người lại gọi con đến bàn giấy để tập nói tiếng Pháp cho con. Ngày ấy, bởi được chăm chút như thế, nên con đã biết nói tiếng pháp khá. Cha Giám đốc khen con có giọng nói, và nói sõi như người ở Paris. Ngày nay, trái lại con đã thấy mình thua kém xa hồi còn là một đứa trẻ mười bốn tuổi.

Cha giữ việc nhà trường (cha Drayer du Fer) tỏ ra hiểu con hơn cả. Người hiền từ và có đôi mắt dịu dàng như người mẹ, luôn luôn nhìn thấy trên khuôn mặt người nở sẵn một nụ cười giữa chòm râu thưa thớt, tỏ ra lúc nào cũng sẵn sàng tha thứ, và bênh đỡ. Người vốn lo riêng về các chú nhỏ, mà lại là cha giữ việc, nên thường kẹo bánh cũng dễ lọt vào tay những chú nào có tật hay "ngủ nhè." Con phải thành thật mà thú nhận rằng con cũng còn hay "ngủ nhè" lắm, nhưng thường làm một cách kín đáo cơ. Nhưng cha Tân thì chẳng cần phải thấy con khóc mới cho kẹo, lần nào người thấy đôi mắt con hoe hoe đỏ là người lôi vào phòng cho kẹo. Con nhận thấy ở đây con được cưng như ở nhà thày mẹ vậy. Thành thử mối tình của con đối với các cha cũng có một sức lưu luyến chặt chẽ, và sâu xa như mối tình đối với gia đình. Từ ngày con đi tu, cho đến đây, con mới thấy có những vị cha có những tư cách của một người cha. Con gọi các ngài là cha, mà không bao giờ còn cần phải tự vấn: Sao họ lại là cha tôi? Bởi vì cử chỉ của các ngài đã tất nhiên là cử chỉ của một người cha.

Ðể hiểu con, cha Tân đã phải quan sát con từng điều nhỏ mọn. Con nhận thấy rằng người hay theo dõi con, và hay tìm dịp để dò hỏi tâm sự con. Bởi vì người cũng hiểu rằng, hễ người không hỏi thì con sẽ không bao giờ nói, và thật tình con cũng hãy còn nhút nhát như thế. Có lắm điều con muốn bày tỏ, mà phần thì không biết bày tỏ thế nào cũng có, nhưng nhất là con chỉ sợ người ta không hiểu con.

Có một câu truyện như thế này, tỏ ra cha Drayer du Fer người đã có tài quan sát con. Một buổi sáng, con đi ra vườn cỏ để tìm hoa. Thứ hoa con thích nhất là hoa cúc nhỏ, bởi vì chỉ có thứ hoa ấy mới cân đối với chiếc bình bé tí tẹo của con vẫn để trong hộc bàn trước một mẫu ảnh Ðức Mẹ.

Vậy trước khi lên sân chơi, con rẽ ngang vào vườn để kiếm hoa. Bất chợt con gặp cha Drayer du Fer đi lại, người hỏi con:

- Con đi đâu, sao không lên chơi với các cậu?

Thưa cha có, nhưng con có ý rẽ vào đây để hái mấy bông hoa.

Người gật nghiêng đầu một cái, tủm tỉm cười hỏi con:

- Con thích hoa lắm phải không?

- Thưa cha con. không thích, nhưng mà. chắc Ðức Mẹ thích lắm, nên con đi kiếm cho Người vài cái.

Vẫn giữ một vẻ điềm đạm, người nói:

- Phải, cha biết, một tâm hồn như con mà ưa hoa thì không lạ gì. Thế thì được, con đi tìm đi, cha cũng đi tìm với con.

- Cám ơn cha.

Hai cha con xắn áo vào vườn cỏ còn ngập đầy sương mai.

Con đã lựa được vài ba bông vừa ý, và thôi không hái thêm nữa. Cha Drayer du Fer chưa có một bông nào trên tay, nhưng người vẫn lúi húi tìm. Một lúc con mới thấy người bứt lấy một bông cúc trắng nhỏ tí, rồi gọi con lại, tủm tỉm vừa cười vừa chỉ cho con thấy một giọt sương trong vắt còn đọng trong đài hoa. Người nói:

- Con có hiểu không?

- Thưa cha có ạ.

- Con hiểu thế nào?

- Bẩm là bông hoa cúc trắng ạ.

- Ồ thì thì con hiểu sai rồi.

Con bỡ ngỡ nhìn người, và tỏ ra lúc này thật con không hiểu gì về câu người vừa hỏi. Nhưng người lại giải thích ngay, người chỉ vào giọt sương trên đài hoa, và nói bằng một điệu vui chơi:

- Giọt sương này là giọt nước mắt của bông hoa, mà bông hoa có nghĩa là. chính con.

Con phá lên cười, và thật ra con cũng chẳng hiểu gì cho lắm đến cái câu nói ý nghĩa của người. Mãi cho đến khi thuyền con đã cập bến Dòng Chúa Cứu Thế, nhìn lại bước đường qua, con mới hiểu rõ ý nghĩa câu nói của người.

Cha Drayer du Fer đưa cho con bông hoa và bảo đem về cho Ðức Mẹ. Con cám ơn cha rồi chạy về cắm vào bình, con làm hết sức gượng dẹ để khỏi rụng mất giọt sương quí hóa ấy.

Một tháng sau khi nhập trường, cha Drayer du Fer nhận con vào hội "Ðệ Tử của Ðức Mẹ" (cadet de Notre Dame) do ngài điều khiển. Mục đích của hội là để đào tạo nên những vị truyền giáo thánh thiện và nhiệt thành, nhờ Nữ Trưởng Maria hướng dẫn, ngoài ra hội còn có ý tập cho Ðệ Tử biết sống một cuộc đời đơn giản, biết tự lập, để một mai trên bước đường tông đồ, không còn một trở ngại nào có thể làm cho người truyền giáo phải lúng túng. Vậy nên chương trình huấn luyện cũng tương tợ như của Hướng đạo sinh. Hay cũng có thể nói đây là đoàn Hướng đạo sinh của Ðức Mẹ, và hành động cho Ðức Mẹ.

Mới nhập đoàn, con phải chịu huấn luyện như một em sói nhỏ, nhưng đến lễ Hiện Xuống năm ấy, con được tuyên lời hứa lên đoàn Tráng sinh"second place." Con nhận tên là chú sóc "Écurevil" và nhập đội Hươu "cerf."

Không bao lâu đời "Vui sống" lại biến đổi con nên một người khác trước. Con thiết nghĩ đó cũng là do một phần bởi con được giáo huấn trong tinh thần bác ái, nhưng phần cốt yếu chính là do ơn Chúa điều động ở trong con.

Con nhận thấy lúc nào con cũng dễ dãi được với Chúa, và Chúa như một cái gì mà ở đâu con cũng có thể va chạm được. Con cảm thấy rõ ràng như thế.

Tâm hồn con như bị một chứng bệnh ưu tư, và làm cho cảnh sống của con như bị ép vào trong một khuôn khổ hẹp hòi, khô khẳng, và dầu nó đã được Chúa cứu chữa cho khỏi trong đêm Sinh nhật năm ngoái (1940), nhưng nó vẫn còn đeo đẳng mãi cái tang chứng gầy còm, như chưa lại hẳn được như hồi thư bé.

Ở đây Chúa đã làm cho tan biến tất cả những mầu sắc xanh xao vàng bủng còn in trong khuôn lòng con. Chúa đã dùng đời "Vui sống" để uốn nắn nụ cười con trở nên như ngày trước. Người mở rộng lòng con ra bằng cho xem thấy những cảnh vật thiên nhiên, và thắt chặt mối giây tình lòng con lại với Người bằng những buổi thân mật thầm lặng dưới đêm trăng, bên khe suối, hoặc êm đềm dưới bóng cây thanh tùng ngoài mé núi.

Ðến đây, con nhớ lại những ngày đi cắm trại. A! Cắm trại, hai tiếng ấy bao giờ cũng làm cho con sung sướng, và ôn tưởng lại được tất cả những gì vui trong những buổi đi cắm trại.

Ði cắm trại đối với con là một cuộc tĩnh tâm êm thú nhất. Ở đây chỉ còn một mình con với Chúa, với Anh Trưởng Giêsu thôi, cây cối, núi non, và mọi sự vật chỉ là những cái giúp con càng thêm bền chặt với Chúa. Hoa càng đẹp bao nhiêu, gió càng dịu bao nhiêu, cây càng xanh bao nhiêu, suối càng réo bao nhiêu, đồng càng thắm bao nhiêu, là bấy nhiêu nấc thang nâng bổng lòng con lên đến cõi trời xa tít. Ở đấy con yêu mến Chúa, và Chúa ấp ủ con. Ôi! đôi lòng mật thiết dường nào trong những phút giây êm đềm và chặt chẽ ấy. Ở đấy, con suy tưởng lại cuộc đời đã qua, và con thấy không một giây phút nào, một cử động cỏn con, hay một hành vi nào trong đời con, mà không do ơn Chúa chủ động. Và ở đấy con đã thành tâm hứa với Chúa: Toàn thân con và cả cuộc đời con, lâu dài hay vắn vỏi, điều xin dâng cho Chúa, để làm cho danh Chúa được hiển vinh.

Nguyện vọng làm linh mục của con không lúc nào sôi nổi bằng lúc này. Con muốn làm linh mục, và là một linh mục thánh. Mà nguyện vọng của con càng sôi nóng bao nhiêu càng thôi thúc con gắng gổ bấy nhiêu.

Con đã dốc lòng một điều:

Không khinh thường những cái nhỏ. Mỗi một điều luật là một hạt kim cương danh dự cho người Ðệ-tử của Ðức Mẹ. Vậy tôi nhất quyết không bao giờ rời bỏ nó ra khỏi đời tôi.

Ngày nhập đoàn, đứng trước ba lá cờ hiệu: Ðoàn, Hội-thánh, và Tổ quốc; bên cạnh cha Tuyên-úy và anh đoàn trưởng, con đã long trọng giơ tay ngang vai mà tuyên thệ: "Nhờ ơn Chúa, tôi xin lấy danh dự tôi mà thề hứa: Tôi sẽ trọn niềm trung thành làm tôi Chúa, yêu mến Hội Thánh, bênh đỡ Tổ quốc, lại hằng tưởng đến và qiúp đỡ mọi người chẳng kỳ lúc nào, và tuân theo luật "Ðệ Tử Nữ Vương."

Ðứng trước lương tâm, cho đến ngày nay, con vẫn chưa bao giờ thấy mình bị hổ thẹn, vì đã đi ngược với lời con tuyên thệ. Sai lỗi? Chắc có, nhưng nó chỉ đáng hổ thẹn cho khi nào mình biết lỗi mà không chừa cãi. Chừa cãi, vẫn là một nếp danh dự quí mến nhất của người muốn nên hoàn hảo. Nhưng thưa cha, chắc cha cũng có thể hiểu, hoàn hảo ở nơi con người không bao giờ vì ngẫu nhiên mà thành? Nó phải có cố gắng. Vâng phải cố gắng nhiều lắm, và con lại còn một phương thế trợ lực nữa là cố gắng cùng với ơn Chúa.

Con nhập đội Hươu, biểu hiệu sự lanh lẹ và mau tiến. Ngày nào họp đội, con cũng nghe anh đội trưởng căn cặn một câu ý nghĩa như thế này:

"Mau tiến trong hết mọi vấn đề. Ðừng khi nào chúng ta đứng dừng lại để ngắm xem trời hừng đông, hay xem chiều ảm đạm, nhiệm vụ của chúng ta là: tiến, và phải tiến mau cho tới cái đích đang chờ đợi chúng ta."

Cái đích đang chờ đợi đó là cái gì? Ðó chẳng phải là Chúa sao! Vâng chỉ có "Cái đích" đáng yêu ấy, mới thôi dục được bước tiến của con nên mau lẹ.

Tên con là Sóc, khẩu hiệu của con đã có nghĩa là "vui tươi và mau lẹ" nhưng con đã lấy phần kinh khi họp đội để áp dụng vào "đời vui và mau lẹ" của con, với một câu như thế này:

Khi đã hoàn tất mọi sự, con chỉ xin "vui tươi và mau lẹ"nhận lấy Thánh ý của Chúa làm công thưởng cho mình mà thôi.

Bởi vì chỉ lấy Thánh ý Chúa làm công thưởng, nên mỗi câu phải giúp đáp anh em xong, con chỉ biết vui tươi và mau lẹ nhận lấy tất cả những gì người ta tặng, dù là một lời ân tình, hay bất cứ bằng một cử chỉ nhửng nhưng, và dù có phải người vô ân bạc nghĩa, cho mình vài câu châm chích, con cũng cứ "vui tươi và mau lẹ" nhận, vì đó là phần thưởng do Thánh ý Chúa ban tặng.

(còn tiếp)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com