TRONG DÒNG ÐỜI 

Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR.

NHỮNG LẦN VƯỢT THOÁT

(Tiếp  theo)

Vượt biên đường biển

Ðể tránh bị bắt lại, tôi phải ẩn náu trong nhà suốt chín tháng. Ðang tuổi thanh niên sôi nổi mà phải sống trong cảnh "cá chậu chim lồng" như thế, tôi cảm thấy thật khổ sở. Trong thời gian này, tôi tự ôn lại số vốn Anh Văn đã học được trong trường khi trước. Ðang khi đó, nhiều người trong xứ đã tung tin rằng tôi đã vượt biên đi Mỹ.

Trong thời gian này, gia đình tôi mừng Ngân Khánh Thành Hôn của ba mẹ, nhưng tôi vẫn phải lánh mặt! Bàn thờ gia đình được tu sửa lại to đẹp hơn. Theo đề nghị của tôi, ba mẹ cho người cắt chữ bằng gỗ sơn vàng tươi gắn trên bàn thờ ghi "Thiên Chúa là Tình Yêu", hai bên là bốn chữ "Mến Chúa-Yêu Người."

Thương tôi phải sống trong cảnh tù túng như vậy, ba mẹ đề nghị lo cho tôi vượt biển tìm tự do. Trước đó, tôi không muốn rời Việt Nam. Nhưng với tình cảnh bó buộc lúc ấy, tôi đã bằng lòng để ba mẹ tìm đường liên lạc cho tôi vượt biên để tìm một lối thoát.

Một ngày trước khi từ giã gia đình, ba mẹ tôi mời cha già Luca, một linh mục thông thái và thánh thiện, đến giải tội và cho tôi chịu lễ. Sau đó, ngài khuyên nhủ: "Việc vượt biên không biết xấu tốt như thế nào vì ‘lưới trời lồng lộng’. Ở đâu cũng cần phải bám chặt vào Chúa, Ðức Mẹ và Hội Thánh. Thời này Chúa để cho ma quỷ nó đánh phá Giáo Hội để thanh lọc các linh hồn. Linh mục rối đạo rất nhiều. Ngay cả các giám mục và hồng y cũng có nhiều vị lầm lạc. Chỉ còn một điểm tựa duy nhất là Ðức Giáo Hoàng. Vì vậy, chúng ta phải hết lòng yêu mến, vâng phục và bênh vực Ðức Thánh Cha và giáo huấn của ngài." Ðó là những lời vàng ngọc mà tôi sẽ ghi nhớ suốt đời.

Tối hôm ấy, hai anh bạn cùng ở giáo xứ tôi cùng đến ngủ qua đêm ở nhà tôi để sáng mai cùng lên đường. Tôi vẫn giữ thói quen đọc một chương sách Gương Chúa Giêsu mỗi ngày. Chương sách cuối trước khi tôi rời gia đình mang tên "Ðường Thánh Giá."

Sáng sớm ngày 05/06/1981, ba mẹ và gia đình tôi cùng hai anh bạn cùng đi đến trước bàn thờ gia đình để cầu nguyện xin Chúa và Ðức Mẹ chúc lành cho chuyến đi định mạng.

Chúng tôi lên xe đò đến nhà trọ tại bãi Hải Sơn--Vũng Tầu.

Sáng ngày 06/06/1981, khi trời còn tối, chúng tôi băng qua các cánh đồng sình lầy để đến bãi biển. Ban tổ chức cho mỗi khách vượt biên có đóng tiền một tấm thẻ nhôm như thẻ bài của lính để nhận diện cho lên ghe. Có những thanh niên cầm cây gỗ để đánh đuổi những người trong vùng muốn đi lậu gọi là "canh me." Cảnh tượng đánh đập này trông thật dã man.

Chiếc ghe chỉ dài chừng bảy tám mét mà gần bốn chục người trên đó. Tôi cứ ngỡ người ta sẽ đưa mình ra tàu lớn để đi. Ai ngờ chiếc ghe này cứ thế mà chạy...! Khi ghe đã ra khỏi bờ chừng hai chục mét, mấy thanh niên trong ban tổ chức cầm đèn pin soát thẻ của những người trên ghe. Vài ba người "canh me" không có thẻ đều bị ném xuống nước. Cũng may, mấy người này là dân địa phương nên đều biết bơi giỏi và có thể vào bờ. Ghe cứ thế chạy đi!

Vì ghe quá nhỏ, ai nấy phải ngồi co chân lại mới đủ chỗ. Mỗi ngày mỗi người chỉ được một nắp can nước uống và một nắm mì dẹp chứ không có cơm bánh chi cả. Khi ra giữa biển, sóng to gió lớn, người ta phải đóng ván trên mặt thuyền để nước khỏi tràn vào. Thanh niên trong ghe phải thay nhau tát nước.

Lúc ấy, tôi biết được trên ghe có tất cả 36 người. Ngoại trừ một thiếu nữ là tín đồ đạo Cao Ðài, còn lại đều là Công giáo. Vì vậy, tiếng đọc kinh và bài hát "Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối cho con lúc vượt biển thế gian..." được vang lên gần như liên tục và thật vô cùng ý nghĩa.

Ðến chiều tối ngày thứ tư, ghe chúng tôi bị một chiếc tàu đánh cá thật lớn có nhân viên trang bị súng ống chận lại.. Thoạt tiên, mọi người trên ghe tưởng là hải tặc Thái Lan, nhưng sau mới biết là tàu đánh cá Sóc Trăng. Họ biết chúng tôi là người vượt biên và bắt chúng tôi qua tàu họ, dọa đưa vào bờ. Nghe vậy, một số người buồn vì sợ mất dịp đi tìm tự do; một số khác thì vui vì không sợ chết vì đắm ghe!

Vì mới ra khơi nên những người trên tàu Sóc Trăng không muốn trở vào bờ sớm, và có lẽ đã nhận quà đút lót của ban tổ chức, nên cuối cùng họ đã cho chúng tôi trở lại ghe để đi tiếp.

Sáng ngày thứ sáu, ghe hết dầu, nước uống và lương thực cũng cạn. Chúng tôi cảm thấy như thể chỉ còn chờ chết. Tôi chỉ biết phó thác nơi lòng thương xót Chúa, và cảm thấy một sự bình an thẳm sâu khi sẵn sàng chờ chết. Dù vậy, tôi tự nhủ nếu được cứu sống chắc hẳn tôi sẽ cố gắng sống đẹp lòng Chúa và Ðức Mẹ hơn.

Ðúng lúc đó một chiếc tàu giàn khoan dầu lớn ở vùng biển Inđônêsia phát hiện chúng tôi và đến vớt chúng tôi. Trước đó, họ cũng đã vớt một hai ghe vượt biên khác.

Sau khi đưa mọi người trên ghe lên tàu, nước tràn vào chiếc ghe chúng tôi và nhận chìm nó! Ðể tiện khai báo khi đến trại tị nạn, tàu (ghe) vượt biên chúng tôi được goi là tàu HR061236. HR là tên tắt của chiếc tàu giàn khoan. 061236 có nghĩa là chúng tôi gồm 36 người được vớt vào ngày 12 tháng 06.

Ðó là lần đầu tiên tôi được ở trên một chiếc tàu to lớn và tiện nghi như thế. Chiều hôm ấy, sau khi tắm rửa sạch sẽ và ăn uống no nê, tôi đứng trên thành tàu nhìn biển rộng trời cao và để mặc những làn gió biển xoa mặt mình với những hạt nước biển li ti mát rượi. Lòng tôi tràn ngập một cảm giác hồi sinh tuyệt diệu chưa hề có trong đời cùng với niềm cảm mến thiết tha. Lúc ấy, một lần nữa tôi sung sướng cất lên bài thánh ca "Tình Yêu Thiên Chúa" và cảm nhận sâu xa tình Chúa yêu thương, những ước mong trọn đời tận tình đáp trả tình Ngài như lời điệp ca:

"Tình yêu Thiên Chúa như trăng như sao đưa con lên cao, ôi nào biết lấy chi báo đền! Chúa dắt dìu con đi qua đêm đen cho con ca khen tình yêu Chúa, ôi như đại dương! Tình yêu Thiên Chúa chói sáng khắp chốn gội sạch tội đời, ôi tình Chúa sao quá cao vời! Con quyết trọn đời dâng hiến xác thân loan báo thiên ân cho khắp nhân trần."

Tối hôm đó, chúng tôi đã được chiếc tàu ân phúc này đưa đến trại tị nạn Kuku, một hòn đảo của Inđônêsia. Phải mất 12 giờ chiếc tàu to lớn và trang bị đầy đủ như thế mới đến được Kuku! Nếu không được cứu vớt, những người trên chiếc ghe vượt biên bé xíu của chúng tôi chắc chắn sẽ mất mạng trên biển!

Chúa nhật liền sau đó, chúng tôi được tham dự nghi thức Phụng Vụ Lời Chúa và Rước Lễ với bà con Công giáo trên đảo. Một lần nữa, tôi cảm được sự hiện diện của Chúa Giêsu Thánh Thể trên từng chặng đường đời. Nhà nguyện nền cát, được dựng khung bằng những cây cột thô sơ đốn trong rừng, có mái và vách là những tấm bạt nhựa màu xanh do Cao Ủy Tị Nạn cấp. Chúa Giêsu cũng chia sẻ cảnh nghèo với dân tị nạn. Tôi bật khóc khi nghe ca đoàn hát bài thánh ca: "Bên sông Babylon, ngồi tôi khóc, ngồi tôi khóc, ngồi tôi khóc Sion, Sion. Bên sông Babylon, tiếng thông reo, tiếng thông reo, tiếng thông reo nỉ non, nỉ non..."

Ðời tị nạn bắt đầu từ đây...Kiếp ly hương bắt đầu từ đây...!

Cuộc vượt thoát miên trường

Ngày 13/07/1981, tôi được lên tàu chuyển sang trại tị nạn Ðảo Galang cũng thuộc nước Inđônêsia. Ðây là một trại tị nạn có đầy đủ phương tiện sinh hoạt hơn. Ở bến cảng nơi đón những người tị nạn mới đến trại hay đưa tiễn những người trong trại đi định cư, người ta đọc được tấm biển với hàng chữ: "Galang--cửa ngõ tự do và tình người." Lúc ấy, Cha Gildo Ðôminici, SJ (tên Việt là Ðỗ Minh Trí) từng là giáo sư Giáo Hoàng Học Viện Ðàlạt khi trước đang làm tuyên úy cho bà con ở đó. Không những giúp đỡ dân Việt tị nạn về nhu cầu vật chất và tinh thần, Cha Ðômincici còn giúp người Việt nuôi dưỡng văn hóa dân tộc bằng việc tài trợ cho bán nguyệt san "Tự Do" tại Galang nữa!

Trong những ngày ở trại tị nạn, tôi đã sinh hoạt với cộng đoàn những người Công giáo ở đây qua việc dạy giáo lý tân tòng, Rước Lễ vỡ lòng và Thêm Sức, cũng như làm huynh trưởng sinh hoạt với Ðoàn Thiếu Nhi Thánh Thể Galang. Chính qua những sinh hoạt này, ý nghĩ theo đuổi ơn gọi linh mục đã trở nên rõ nét hơn trong tâm tư tôi.

Sau khi bị các phái đoàn Canada và Úc khước từ, tôi đã được chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho định cư tại Mỹ.

Ngày 15/09/1982, tôi rời trại Galang để được tàu đưa đến trại chuyển tiếp Singapore. Khi ở Singapore, tôi được tham dự Thánh Lễ với Cha O’Neill Dòng Chúa Cứu Thế Úc, vị tuyên úy của trại. Khi theo một anh bạn cùng là huynh trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể ở Galang ra ngoài phố chơi, tôi lại được gặp Cha Phanxicô Xaviê Trần Tử Nhãn, giám tỉnh tiên khởi của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, đang đi công tác bên ấy. Duyên nợ của tôi với Dòng Chúa Cứu Thế phải chăng khởi đầu từ đấy?

Ngày 20/09/1982, sau hàng chục giờ trên máy bay, tôi đã đặt chân đến Mỹ tại San Francisco, bắt đầu cuộc sống tại quê hương mới.

Ngày 13/06/1987, tôi đến gõ cửa Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam tại Altadena, California để tìm hiểu ơn gọi và chính thức vào dòng ngày 18/08/1987.

Ngày 28/05/1994, ước mơ trở thành tu sĩ linh mục thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế của tôi đã trở thành sự thực. Tôi được Ðức Cha James Tamayo truyền chức linh mục tại Nhà Thờ Holy Spirit của Dòng Chúa Cứu Thế Mỹ tại Houston, Texas. Cha O’Neill đang công tác tại Hoa Kỳ cũng có mặt trong lễ truyền chức dù khi ấy tôi không nhận biết ngài!

Chắc hẳn do sự an bài của Chúa và sự sắp đặt kỳ diệu của bàn tay từ ái của Mẹ Maria, Thánh Lễ Tạ Ơn Linh Mục chính thức của tôi được cử hành tại Nhà Thờ Thánh Tâm ở Altadena, California vào đúng ngày 12/06/1994, đúng 13 năm sau ngày tôi được cứu vớt trên biển cả!

Cứ mỗi lần đọc hay nghe đến đoạn Lời Chúa trong sách Công Vụ Các Tông Ðồ thuật lại việc Thánh Phêrô được thiên thần Chúa giải cứu khỏi ngục tù, tôi lại nhớ đến ba lần vượt thoát trên.

Chúa đã cứu thoát Thánh Phêrô ra khỏi ngục tù, không phải để ông có một cuộc sống tự do, tiện nghi, thoải mái, và theo đuổi những dự định hoài bảo của riêng ông. Người cứu thoát ông để ông thực hiện ơn gọi và sứ vụ tông đồ rao giảng Tin Mừng Tình Yêu của Chúa Cứu Thế cho muôn dân. Ơn gọi và sứ vụ cao cả ấy đã dẫn ông đến cái chết treo ngược đầu trên thập giá để làm trọn lời tuyên xưng của niềm tin và tình yêu nơi ông: "Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16:16) và "Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa" (Jn 21:15).

Cũng vậy, qua những lần giúp tôi vượt trại, vuợt ngục, vượt biên, Chúa muốn tôi noi gương Thánh Phêrô xử dụng sự tự do, thời giờ và phúc lộc Chúa ban để thực hiện và hoàn thành ơn gọi và sứ mạng làm sứ giả rao giảng Tin Mừng Tình Yêu của Chúa Cứu Thế.

Thế nhưng, tôi đã xử dụng sự tự do, thời giờ và phúc lộc Chúa ban như thế nào?

Tôi cảm thấy sợ hãi vì nhiều phen tôi đã đánh mất sự tự do đích thực của con cái Chúa khi tự nhốt mình trong ngục tù của tính ích kỷ, kiêu căng và tự ái, và tôi đã bao lần lạm dụng thời giờ và phúc lộc Chúa ban để chạy theo tiền của, thú vui và danh vọng phù phiếm.

Ngày nay, tôi không còn phải lo vượt thoát hàng rào của trại lính, trạm kiểm soát vệ binh của trại giam hay sự canh phòng của công an biên phòng, nhưng bao lâu còn sống tôi vẫn còn bị ràng buộc và lôi kéo bởi biết bao cám dỗ của xác thịt, thế gian và ma quỷ.

Và như vậy, cuộc đời tôi vẫn phải là một cuộc vượt thoát miên trường!

Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu Cứu Thế rất yêu dấu của con, cùng với Mẹ Maria con cảm tạ Chúa đã bao phen cứu con thoát khỏi cảnh ngục tù của trần gian để con ngày nay được trở nên linh mục của Thánh Tâm Chúa và Khiết Tâm Mẹ. Xin Chúa tiếp tục ban cho con tràn đầy Thần Khí để đốt lên trong trái tim con ngọn lửa tình yêu Chúa. Với sức mạnh của Thần Khí Chúa, chắc chắn con sẽ luôn nỗ lực vượt thoát mọi cản trở và nguy biến của bóng đêm tội lỗi trong dòng đời hôm nay mà đạt đến quê hương đích thực là Thiên Ðàng, để hiệp cùng Mẹ Maria và muôn vàn thần thánh chúc tụng, ngợi khen, cảm tạ và tôn vinh Chúa muôn đời. Amen.

(July 13-16, 2002)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu  
E-mail : ducme@cuuthe.com