TỰ THUẬT (Kỳ 2 9)Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.
Nhà Xứ Quảng Uyên - Tiểu Chủng Viện Têrêsa Con sống trong nhà trường mới được có sáu tháng thì đến kỳ nghỉ. Năm nay vì một lý do bất thường, nên nhà trường phải đóng cửa sớm hơn mọi năm. Tuy chỉ có sáu tháng, nhưng con đã thấy thể xác cũng như tinh thấn điều nở nang một cách mạnh mẽ. Con có thể nói trong vòng sáu tháng ấy, con đã hấp thụ và học hỏi được nhiều cái hay hơn bằng mấy năm ở nhà xứ Hữu Bằng. (Ở Hữu Bằng con chỉ có thể hiểu: Trẻ con là chó cún, và các chú bé là những thằng bồi tiện lợi cho cụ xứ). Kỳ nghỉ năm ấy con lại phải về Hữu Bằng. Theo ý con thì con chỉ thích nghỉ ở nhà quê, nhưng mà thày mẹ con chả đời nào chịu thế, sợ rằng ở nhà được chiều quen, rồi đến mãn hè, cậu nhà trường lại lừng khừng chẳng chịu đi cho thì hỏng toi. Nghỉ hè ở Hữu Bằng là một cây thánh giá nặng. Nhưng dầu thế nào, người Ðệ Tử của Ðức Mẹ cũng phải vui lòng chịu đựng, vì đó là do Thánh ý Chúa gửi đến. Hữu-bằng, vắng con sáu tháng ra nó lại trở về với hình thức cũ. Ðội Thiên Thần Kháng chiến tan biến không còn một tên. Cô Ngoạn đã có thai bởi ông già, cô tự thú với con như thế. Hầu hết cánh kẻ giảng non, đã tản mác đi làm việc ở các họ lẻ; những anh cậu lơn lớn cũng đã nhập trường huấn luyện kẻ giảng ở Bắc-Ninh. Ðội Thiên Thần Kháng Chiến tuy không còn, nhưng tinh thần của đội hình như vẫn còn lẩn vẩn trong mỗi người anh em còn tu ở đây, vì khi con đi khỏi, có mấy anh em buồn chán cái cảnh nhà tu điêu tàn, họ tình nguyện về nhà cả. Những anh em còn lại thấy con về nghỉ, họ tỏ ý muốn con tổ chức lại, nhưng đang lúc ấy thì một tin không vui gửi đến: Tiểu Chủng viện Têrêsa phải đóng cửa hẳn, vì không những bề sinh sống khó khăn, lại quân đội Nhật cứ hằm hè muốn lấy luôn, nên buộc lòng Tiểu Chủng viện phải giải tán học sinh. Ðược tin ấy con như chim mất tổ, như con mất cha.. và ngày sống của con không còn thể nở được nụ cười. Kỳ nghỉ của con do đó cũng chẳng còn gì là ý nghĩa, chỉ còn nước mắt và sầu khổ đến thăm con, hằng ngày trong những xó vắng! Kỳ nghỉ sắp qua, con biết ý định của cha Nhã muốn gửi con ra trường Huyện để cho con tiếp tục học pháp văn. Nhưng trường Huyện thì lại khổ có một nỗi là hoàn toàn ngoài công giáo. Trong số hơn một trăm họ sinh, chỉ có một ông giáo lớp trung đẳng là có đạo. Cha xứ muốn gửi con ở nhà ông giáo ấy, song đối với con đi học ở một trường như thế, mà chỉ có một mình con là học sinh Công giáo thì chả khôn ngoan tí nào. Trường hợp này con viết thư tỏ bày mọi nhẽ với cha Drayer du fer và xin người có thể liệu cho con cách nào khác thì hay hơn. Ðang lúc đợi cha Drayer du fer trả lời, anh Tân rủ con đi chơi Hànội, và tiện thể đến dòng Ða-minh thăm cha cựu Giám đốc Tailleur. Chúng con đến gặp cha Giám đốc đúng với lúc người đang mong đợi chúng con.Người tiếp đón chúng con một cách ân tình và niềm nở. Người cũng cho con hay tin cha Drayer du fer đã gửi cho người và bàn về truyện con. Và người hứa chắc chắn thế nào người cũng sẽ liệu cho con khỏi phải nhập trường ngoại. Người mời chúng con ở lại nhà dòng một ngày. Khi từ giã người để ra về, lòng con cảm thấy quá bồi hồi, luyền tiếc người cha thân ái ấy, con khóc rưng rưng như trẻ con. Người vỗ về và yên ủi con rằng: - Thế nào rồi một ngày kia cha con sẽ còn ngày gặp lại. Ngày kia ! Vâng, ngày kia nghĩa là ngày không còn ở dưới đất !. Con khóc là có lý. Vâng quả thế, cho mãi đến nay con cũng không bao giờ được gặp người cha thân ái ấy một lần nào nữa, và cũng chẳng hay người còn ở đây, hay đã về quê thiên đàng? "Ngày kia" đối với người có lẽ là ngày ở chỗ đó, ngày ở trên quê hằng sống!. Con khóc như vậy là có lý. Con trở lại Hữu Bằng và đợi thư cha Drayer du fer trả lời. Nhưng, tuyệt nhiên!. Sáng nào con cũng đinh ninh rằng ngày hôm nay thế nào con cũng được thư trả lời đây. Không nhẽ mà cha Frayer du fer quên mình à? Và không còn cách nào để yên ủi con bằng chạy vào nhà thờ, và gục trước bàn thờ Ðức Mẹ để che giấu dòng lệ ! Linh hồn con, ngày nào cũng như ngày ấy, mỗi sáng con rước lễ, và cứ tiếp tục sống bên cạnh Anh Trưởng Giêsu. Nhưng bên ngoài con như đã mất hẳn cái thiên tính "vui tươi và mau lẹ" của một con sóc. Con xa tránh mọi người, và chỉ thích ở một mình trong xó vắng. Mẹ nuôi con e sợ con mất trí. * * * Thế mà, bỗng một ngày, con sóc ấy lại trở về với thiên tính cũ của nó, vì nó đã được tin hồi hương về xứ sở rừng núi của nó. Con nhận được thư cha Drayer du fer trả lời cho con vào khoảng hai ngày trước lễ Ðức Mẹ Linh hồn và Xác Lên Trời. Người cho con biết rằng: con đã được chọn cùng với hai cậu nữa đồng lớp với con, lên học trú ở nhà xứ Thánh Nữ Têrêsa H.Ð.G. ở Quảng Uyên. Người thúc con lên Lạng-sơn ngay để kịp đi với hai cậu kia lên Quảng-Uyên. Bức thư ấy đã làm con vui không tài nào tỏ hết. Vui đến tràn nước mắt. Và con đã sửa soạn đi ngay. Con về nhà chào qua thày mẹ rồi con lên đường đi Lạng-Sơn chính ngày lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Dọc đường, có nhiều cảm tưởng vui thú ớn gợn trong tâm hồn. Khoảng chừng chín giờ tối, con đến nhà trường Lạng Sơn. Ở đây con lại được gặp cha Drayer du fer. Nhưng chỉ vài phút sau, người đã bắt con đi nghỉ, vì sáng sau phải đi sớm. Ngày 16-8-42 cả ba anh em chúng con lên đường đi Cao-Bằng. Hiển và Tám bé hơn con một tí, nên họ chọn con làm anh đội trưởng. Biệt hiệu của Hiển là thím Họa-mi, hát hay đặc biệt, và cả thẹn như con gái, nhưng mà đi với sóc, Họa-mi cũng đơ đỡ, anh Tám đội tên là chú Báo, người tròn như hạt mít, có biệt tài gẩy đờn "không giây" nghĩa là chỉ gẩy bằng hai tay, và phát âm bằng miệng. Sau khi lo cho chúng con an tọa trên xe lửa, Cậu Lãng (tức cha Lãng ngày nay) giao hết trách nhiệm cho chú sóc, rồi cậu quay về nhà trường. Vừa được cái danh dự làm đội trưởng, sóc vênh râu làm oai ngay, xin anh em họp đội tại toa xe để cắt cử phó đội trưởng và anh bí thư. Hiển, à con quên, Họa-mi được cử làm bí thư, còn Báo làm phó đội trưởng, bướng như quỉ lại hay nhè nữa. Thế mà lúc được cử làm phó đội trưỏng, anh ta chịu khó vâng lời ra phết. Bầu ban trị sự xong, chúng con bắt đầu đốt lửa trại ngay lúc ánh sáng mặt trời xuyên qua khe cửa soi vào trong tầu. Cả ba cầm tay nhau nhẩy múa chung quanh một hình vuông, do khuôn cửa trống để lọt ánh nắng mặt trời giãi trên sàn tầu. Ðấy là đống lửa trại của chúng con. Trước khi đốt lửa trại, toa tầu của chúng con rỗng tuếch, thế mà tiếng hát vừa cất lên, tiếng châm dậm thình thình làm cho các hành khách ở những toa mãi tít tận đàng kia cũng phải mon men đến xem. Cả các "ông ké, pà ké" cũng xì là xì lồ đến xem "sam vằng ớn’ ba thằng bé nó "hết ca lăng" làm cái gì mà ngộ thế. Chúng con làm cho hết mọi hành khách phải cười no. Nhưng đến mỗi ga, ba anh em lại xin ngưng cuộc lửa trại để đi xuống kiếm việc giúp đáp những người lên, xuống mà có nhiều hàng hóa. Cử chỉ ấy còn khiến những hành khách trên toa phải cảm phục chúng con hơn là những vai kịch tuyệt khéo. Mỗi lần đi giúp như vậy là đến lượt chúng con phải cười nôn ruột, vì các bà nhà quê. Thấy chúng con đến yêu cầu giúp đỡ, các bà cứ bo bo giữ hàng thật chặt, miệng thì cứ cám ơn lấy cám ơn đễ. - Thưa không ạ, cám ơn các các cậu lắm, nhà cháu có bây nhiêu, chả dám phiền đến các cậu. Có bà thì bằng lòng cho chúng con giúp, nhưng phải bảo người nhà gác. - Ấy ý tứ đấy chúng bay nhá, thời buổi chả tin ai được đâu, nhất là bây giờ, kẻ cướp như rươi. Bà khác thì sợ xanh cả mặt vào, tưởng chúng con là mật thám. Nhưng cũng có một số cô hiểu chúng con là ai, nên họ yên ủi các bà rằng: - Ðừng lo, đừng lo, người ta là những người trong hội đi "cứu giúp" mà, "ga-nông" (galon) gắn ở ngực kia chốc. Tuy nhiên, mặc dầu được tín nhiệm hay bị nghi ngờ lầm lẫn, chúng con cũng cứ làm trọn bổn phận của một Hướng Ðạo sinh. Tầu đến Na-châm là cùng đường, chúng con phải xuống đi xe ôtô hàng đi Cao Bằng. Ðến Cao-bằng, cả ba điều mệt lử. Riêng phần sóc bị nhốt trong một chiếc xe đặc nghịt, có đủ mọi thứ hơi làm cho khó chịu, là dầu cù-là, hơi thuốc lá, rồi đến cái hơi trầu của các bà pha lẫn với mùi dầu thơm trên đầu các cô, các cậu công tử bột, làm nhức cả óc lên, sau rồi còn bị cái nợ khói ét-săng. Ôi chao ! Lậy Chúa thôi chứ mà. Con sống được đến Cao Bằng cũng kể là một phép lạ. Họa-mi và Báo thấy đội trưởng như vậy cũng bị mệt lây, chẳng anh nào còn nở ra được lấy nửa nụ cười. Vào đến nhà xứ lại được người ta tiếp đãi một cách khô nhạt. Mệt bỏ xừ ra rồi mà xin hớp nước họ bảo ra "rô-bi-nê" mà uống. Và bữa cơm chiều hôm ấy họ cho chúng con xơi cơm gạo đỏ với cá mắm. Mỗi một miếng nuốt vào là cảm thấy như những viên sỏi trôi qua cuống họng, làm anh nào anh nấy nhìn nhau đến rớt nước mắt ra. Con cố gắng nuốt được lưng bát, để giữ phép xã-giao rồi đi nằm. Họa-mi và Báo rủ nhau ra phố "chén phở." Nghĩ cũng hơi tủi, vì ở đây chúng con làm gì có "Mẹ Drayer du fer" chăm chút cho như ở nhà trường ? Ở nhà trường "Mẹ Drayer dufer" còn nhường cả "bíp-tếc" cho chúng con ăn cơ. Nhưng mà ở đây. chỉ có "rô-bi-nê" nước suối lạnh thôi. Thày già xứ biết rằng sự tiếp đãi của thày đối với mấy chú nhà trường chẳng được chúng con hài lòng, và phải bỏ bàn cơm đi ra phố ăn quà. Thày bực tức thốt ra một lời, mà vô tình có con nghe thấy: - Xía ! Mấy cái thằng cậu, ở nhà trường được các ông cố chiều quen, ra. ra. chúng hư cả người đi. Cũng may cho thày ấy là con chẳng thèm để ý đến những lời ấy, giá không thì giữa thày và các "ông cố" ở nhà trường sẽ có một cái gì không vui. Nhưng thôi, cố nhịn mà làm ngơ đi. Con tự yên ủi mình bằng một câu: Trên đời làm gì có những cái hợp với ý mình mãi? Vả chăng, một người Ðệ Tử Nữ Vương là phải đương đầu với hết mọi thử thách, mà trên khuôn mặt vẫn phải giữ mực bình thản như thường cơ mà? Thế rồi con ngủ thiếp đi lúc nào chả biết. Ðêm nằm chỉ mơ thấy toàn những núi là núi, mà núi nào con leo cũng được. Con tự hào là mình đã ăn ở một cách đúng với cái biệt tài của một chú sóc; leo trèo giỏi. Chỉ còn 37 cây số nữa là đến nhà xứ chúng con trọ. Nhà trường đã lựa lọc và gửi chúng con về những xứ lẻ này, để mai sau khi nhà trường có thể phục hồi được, thì chúng con sẽ trở về lại. Nhưng sự phục hồi ấy cho đến bao giờ mới thấy. Nghĩ mà càng thêm đau lòng xót dạ ! - Nếu Chúa muốn, ở trên trời con sẽ làm hoàn tất ý định phục hồi ấy ở nơi mà lòng con hằng lưu luyến, và tưởng nghĩ đến luôn đêm ngày, bây giờ cũng như hồi con còn là một học sinh bé tí của những vị thừa sai đáng mến. Và mãi mãi, con sẽ còn nghĩ tưởng đến việc phục hồi của các ngài. Ngày 17-8, chúng con lại lên đường đi Quảng-uyên. Mười giờ sáng xe tới bến, và chúng con đã thấy có cha Maillet [Bính] đứng đợi chúng con ở đấy rồi. Người dẫn chúng con về nhà xứ, cách châu phố chừng già nửa cây số. Ðến nhà xứ, chả nước nôi gì, người dẫn chúng con đến chào cha già Brébion (Úy), đang lọm khọm đúc gạch xi-măng một mình ngoài chái nhà. Cha già bắt tay chúng con, rồi giới thiệu ngay đến công việc của mình. Người chỉ vào ngôi nhà thờ đang cất giở, và nói với chúng con: - Cha đúc gạch làm nhà thờ, để nay mai chúng con có chỗ làm lễ. Rồi người cười một cách đầy thân mến. Cha Maillet tiếp tục dẫn chúng con đi thăm tất cả khu vực nhà xứ, vừa đi người vừa giải thích công lao khó nhọc của các vị thừa sai rồi kết thúc: - Nhưng tất cả đây là của chúng con, chỉ có chúng con mới là những người được ân hưởng những mồ hôi nước mắt của những vị thừa sai. Con nghe mà phải rớt nước mắt. Tuy trong người con lúc ấy còn thấy mệt mã như còn ngồi lắc lư trên xe, nhưng khi được nghe những bài học ân tình sâu sắc ấy, con không nỡ bỏ để xin đi nằm. Trưa về, con bỏ ăn, và nằm tịt mãi cho đến ngày hôm sau. Ngày 18-8, cha Maillet sẵn sàng cho chúng con vào lớp ngay. Tuy chúng con ai cũng còn mệt, nhưng khi thấy cha tận tình hy sinh quá, nên chúng con điều vui lòng nhập lớp. Ngoài ba anh em chúng con, còn được thêm một cậu người Mèo, tên là Yoseph Blau. Tuy có bốn, mà cũng phải chia làm hai lớp. Hiển và con ở lớp năm, còn Blau và Tám ở lớp Bảy. Chính cha Maillet làm giáo sư, và cha Brébion mỗi tuần một vài giờ dậy toán cho lớp năm. Hết thảy điều bằng pháp văn; chỉ trừ lớp bẩy có pha chút việt-ngữ. Có lẽ cha sẽ lấy làm lạ, và sẽ tự hỏi: tại sao ngày nay con còn kém pháp văn thế? Con xin thưa, giá việc học của con cứ được tiếp tục như thế mãi thì, vài năm sau có lẽ con cũng khá. Nhưng một thời gian sau chương trình học của chúng con bị đổi ngược lại, rồi từ đó cho đến ngày nhập tu viện, con không còn dịp nào để bổ túc được nữa. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu |