KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICAN II (Kỳ 1) Lm. Vũ Khởi Phụng, C.Ss.R. ÐỨC PI-Ô XII QUA ÐỜI... Bốn ngày sau, 9 tháng 10, Radio Vatican báo tin Ðức
Giáo Hoàng Pi-ô XII đã qua đời lúc 3 giờ 52 sáng,
thọ 82 tuổi. 19 năm trên Tòa Phê-rô, ngài đã dẫn
dắt Giáo Hội qua một giai đoạn phi thường trong lịch
sử thế giới: Thế Chiến thứ hai, sự gia tăng vượt
bậc của các chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Mác - Lê,
các nước thuộc địa vùng lên đòi độc lập, mọi cơ
cấu trong xã hội đều biến đổi, khoa học và kỹ
thuật có những bước phát triển khổng lồ khiến cho
thế giới bắt đầu hướng tới thống nhất, nhưng
đồng thời thế giới lại quằn quại chia rẽ về ý
thức hệ. Giữa những diễn biến bi tráng như thế,
Ðức Pi-ô XII để lại một di sản vĩ đại về đạo lý
trong mọi lãnh vực. Không ai có thể phủ nhận ngài
là một trí tuệ siêu việt trong một phong thái rất
mực tiên phong đạo cốt. Suốt 19 năm, dung mạo ngài
tỏa sáng rực rỡ trong và ngoài Giáo Hội. Nhưng cũng như nhiều bậc thiên tài khác, Ðức Pi-ô
XII tập trung mọi quyền lực trong tay, lãnh đạo Giáo
Hội một cách cô đơn trong ngôi vị chí tôn. Về sau
này, với thời gian, người ta sẽ phê bình, mổ xẻ,
đặc biệt là thái độ của ngài trong thời thế chiến,
"sự yên lặng" của ngài trước thảm trạng
của dân Do-thái trong chính sách diệt chủng của Ðức
Quốc Xã. Thật ra ngài có lên tiếng trong một số diễn
từ. Hơn nữa, ngài còn kín đáo cứu được nhiều
người Do-thái khỏi nanh vuốt Quốc Xã. Nhưng những
người phê bình thời sau cho là như thế chưa đủ rõ,
chưa đủ mạnh. Ðáng lẽ phải có một thông điệp nẩy
lửa cho thế giới. Biết thế nào là phải? Một đàng
là mấy nhà nghiên cứu, không phải lúc nào cũng vô
tư, ngồi thảnh thơi luận thuyết phán xét cả lịch sử;
một đàng là một con người cô đơn mang trên đôi vai
gầy của mình gánh nặng khủng khiếp của cả Giáo Hội,
cả thế giới, và mỗi lúc mỗi phải đối mặt với
những vấn đề cực kỳ gay gắt và mệnh hệ? Cái gì
làm được và cái gì không làm được? Việc gì
phải làm và tai họa nào phải tránh? Gần đây Tòa
Thánh cho công bố các tư liệu vẫn lưu trữ trong văn
khố Vatican. Nhưng một số nhà nghiên cứu vẫn còn tranh
cãi. Dù sao những phê bình đó là chuyện thời sau. Khi
Ðức Pi-ô XII nằm xuống, cả năm châu đều lên tiếng
ca ngợi. Tổng thống Mỹ Harry Truman tuyên bố: "Ðức
Pi-ô 12 là một trong những nhà lãnh đạo quốc gia vĩ
đại suốt trong hai thế kỷ vừa qua. Mất ngài, và cùng
với ngài là mất những nỗ lực vì hòa bình của
ngài, thế giới đã bị tổn thất nặng nề hơn là nếu
mất bất cứ người nào khác trong thời đại nảy!"
Cả những nước rất xa lạ với Công Giáo như Iran,
Ấn-độ, Pakistan, Ít-ra-en v.v... cũng treo cờ rũ để tang
cùng với Liên Hiệp Quốc. Các tôn giáo lớn đều
bày tỏ sự kính trọng và phân ưu. Ðúng như tờ New
York Herald Tribune đánh giá: "Là bậc chân tu
khổ hạnh, văn hóa cao diệu, hiểu rõ thế giới và can
đảm, Ðức Pi-ô XII đã thu phục được lòng kính
trọng của mọi người, không phân biệt nam nữ hay tín
ngưỡng..." Ở ngoài Giáo Hội đã vậy, ở trong Giáo Hội sự
ngưỡng mộ lại càng dào dạt. Dĩ nhiên phải trừ ra
một số giới "cấp tiến" như nhóm các Linh Mục
Thợ ở Pháp đã bị Ðức Pi-ô 12 giải tán, hay một
số nhà thần học đã có những lập trường cách
tân quá sớm và bị kiểm duyệt nghiêm khắc, một số
người thông thạo về sự vận hành của guồng máy
trong Giáo Hội... Thế nhưng, tất cả những người ấy
cộng lại cũng chỉ là một thiểu số rất nhỏ. Tuyệt
đại đa số người Công Giáo yêu mến Ðức Pi-ô 12
và có cảm tưởng ngài là một vị thánh sống. Ngài
ra đi để lại một cảm giác trống trải. Những ngày ấy nay đã lùi vào quá khứ xa xưa.
Nhắc lại sự ngưỡng mộ Ðức Pi-ô 12 không phải là
để vinh vang gì, nhưng để nhận ra rằng có vấn đề kế
vị. Làm thế nào để kế vị được một người với
tầm cỡ như thế? Ai có thể lấp được chỗ trống
Ðức Cố Giáo Hoàng để lại? Giáo Hội khác với xã
hội đời, chẳng có vị nào "xung phong" ra tranh
cử. Chỉ có 51 vị Hồng Y, nói chung là già cả, sắp
bước vào "Mật Hội" để bầu Giáo Hoàng mới.
Như vậy lại càng khó dự đoán kết quả. Giáo Hội
đợi chờ... Xế chiều ngày thứ bảy 11.10.1958, trong văn phòng ở
Tòa Thượng Phụ Venezia, Ðức Hồng Y Roncalli sắp xếp
lại giấy tờ trước khi về Roma thọ tang và phó hội:
những gì chuyển qua cho Ðức Cha Phụ Tá Olivotti, những
gì còn giữ lại trên chiếc bàn giấy lớn. Hành trang
mang theo thật gọn, chỉ những gì rất cần thôi, hiển
nhiên ngài nghĩ tới một chuyến đi ngắn ngày. Sắp
dọn xong, ngài ăn bữa tối nhẹ, cầu nguyện một lúc
lâu, đọc mấy trang sách rồi ngủ yên như thường lệ.
Sáng hôm sau, Ðức Hồng Y ra ga đi Roma. Dân chúng Venezia
ra tiễn đông đảo. Bầu không khí rất nồng nhiệt,
bởi Ðức Hồng Y là người nhân hậu, hồn nhiên,
rất dễ gần... Trong Ðền Thờ Thánh Phê-rô, thi hài Ðức Pi-ô XII đặt trên một linh sàng khá cao màu đỏ. 16 giờ chiều
thứ hai 13.10, nghi lễ tẩm liệm theo nghi thức cổ truyền,
trong quan ngoài quách. Sau Thánh Lễ đại triều, đại
hồng chung ngân rền những tiếng trầm hùng trong lúc di
quan xuống địa cung Ðền Thánh, nơi an táng nhiều vị
Giáo Hoàng. Quang cảnh này như chất chứa một mầu nhiệm hiệp
thông. Ngọn đồi Vatican này xưa kia là ngự viên thuộc
hoàng cung của bạo đế Nero. Chính ở đây những
người tín hữu đã bị tẩm chất đốt và bị treo lên
làm đuốc sống, mảnh đất này thấm máu của các tử
đạo đầu tiên ở Roma. Và ngay bên cạnh ngự viên
là nghĩa trang, nơi nhiều người bị hành hình được
chôn cất. Sở dĩ Ðền Thánh Phê-rô được xây ở
một nơi địa hình không thuận tiện chính là vì Thánh
Phê-rô đã được an táng nơi đây. Xưa nay vẫn
truyền lại rằng Bàn Thờ chính trong Ðền Thánh được
đặt đúng trên vị trí của mộ Thánh Phê-rô. Từ
ngày có Ðền Thờ tới nay đã 13 thế kỷ, hai ba lần
xây đi cất lại chồng chất lên nhau. Không ngờ khi
Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 11 qua đời năm 1939, lúc đào
huyệt dưới địa cung, người ta phát hiện những
chứng tích đầu tiên của một khu mộ ngay dưới Cung
Thánh Ðền Thờ. Người kế vị Ðức Pi-ô XI là Ðức
Pi-ô XII truyền lệnh khai quật di chỉ. Kết quả là tìm
được một ngôi mộ với di cốt một người đàn ông
trên 60 tuổi, và bên cạnh là một đài kỷ niệm nhỏ
còn ghi rõ đây là sinh phần của Tông Ðồ Phê-rô.
Và vị trí đúng là trùng hợp theo chiều thẳng đứng
với Bàn Thờ chính trên Cung Thánh. Và bây giờ đến
lượt Ðức Pi-ô XII, người kế vị Phê-rô thứ 260,
trở về cùng một lòng đất. Hội Thánh đời đời
truyền nối sứ vụ Tông Ðồ. AI SẼ LÀ NGƯỜI KẾ VỊ ? Người bảo thủ thì mong một vị Tân Giáo Hoàng tiếp
nối phong cách của Ðức Pi-ô XII. Có thể nghĩ đến
ngài Siri, mới 52 tuổi, Tổng Giám Mục Genoa, nhưng thấy
bảo ngài dính líu hơi nhiều vào chính trị. Còn những
vị như Ottaviani, Mimmi, Ruffini thì người ta bảo không
được. Như vậy thì niềm hy vọng của phái bảo thủ
là ngài Aloisio Masella, Hồng Y tại Giáo Triều, đang
quyền nhiếp thường vụ lúc Tòa Thánh trống ngôi. Phái cách tân lại muốn bầu một vị có phong cách
khác. Họ nghĩ đến Ðức Hồng Y Lercaro, Tổng Giám Mục
Bologna. Nhưng cánh bảo thủ cho là ngài quá khuynh tả
mà lại lập dị. Họ bảo: "Bầu ngài làm Giáo
Hoàng để ngài biến điện Vatican thành cô nhi viện à?"
Chả là Ðức Hồng Y đã nuôi nấng nhiều cô nhi,
cho chúng sống ngay trong Tòa Tổng. Phái thứ ba thì không dứt lhoát. Lúc này có thấy
ai đủ tầm cỡ để kế vị một người như Ðức Pi-ô
XII ? Người ta bàn nên bầu một người nào trung dung,
không cần ở ngôi lâu lắm, chỉ cần người chủ trì
một thời gian chuyển tiếp để chờ một bản lãnh
lớn có cơ may xuất hiện trong Hồng Y Ðoàn. Như vậy
thì có thể nhờ Ðức Hồng Y Valerio Valeri, phải cái
ngài đau tim. Nếu không được, thì người ta còn nhắc
tới danh tánh hai vị nữa. Một là Ðức Hồng Y
Agagianian, người Armenia, sinh ra là công dân Nga, hiện nay
lại có quốc tịch Liban. Ngài là người rất tinh tế.
Vị thứ hai hay được nhắc tới là Ðức Hồng Y
Roncalli, người ôn hòa, dễ mến, và 77 tuổi rồi. Nhưng đó là sự bàn tán của các giới thông
thạo. Kết quả ra sao tùy thuộc vào 51 vị Hồng Y sắp
vào Mật Hội kia, mà các ngài thì kín đáo lắm, nghe
nhiều, chắc nghĩ cũng nhiều, và có bàn bạc gì với
nhau thì cũng rất cẩn mật. Ðức Hồng Y Roncalli trú ở Nhà Thánh Mẫu, Domua
Mariae, 814 via Aurelia, không xa Vatican. Ngài nghĩ sao? Trong
một bức thư viết cho Ðức Cha Piazzi, Giám Mục Bergamo,
ngài thổ lộ: "Tâm hồn tôi tìm được một
nguồn sức mạnh, vì tôi tin tưởng sẽ có một Lễ
Hiện Xuống mới, qua vị lãnh đạo mới và sự chấn
chỉnh các cơ quan Giáo Hội, sẽ thổi một khí thế mới
vào Hội Thánh để cho Chân Lý, sự Thiện và Hòa
Bình toàn thắng. Tân Giáo Hoàng có phải là người
Bergamo hay không, điều đó không quan trọng. Mọi người
phải cầu xin cho ngài là một nhà quản trị khôn ngoan
và nhân hiền, xin cho ngài là một vị thánh, một
người có sức thánh hóa. Thưa Ðức Cha, Ðức Cha
hiểu tôi." ÐỨC HỒNG Y RONCALLI Ư? Như vậy là chỉ một tuần sau khi Ðức Pi-ô XII qua
đời. Ðức Hồng Y Roncalli đã nghĩ rằng có thể ngài
phải kế vị. Bởi ngài quê vùng Bergamo, chính xác là
ở Sotto il Monte (có nghĩa là Chân Núi). Ðó là một
ngôi làng nhỏ, hẻo lánh, mùa hè ruộng lúa nương
ngô bao lấy mấy xóm nghèo, mùa đông những cây tùng,
cây bách in bóng xanh đen trên nền đất nâu nhấp nhô.
"Chấn chỉnh các cơ quan Giáo Hội" là vì
như trên đã nói, Ðức Pi-ô là người rất mực
tài ba, lại có sức làm việc kinh người, đặc biệt
trong những năm cuối đời, ngài một mình đôn đốc
hết mọi việc lớn, nên các cơ quan Tòa Thánh có
phần bị lu mờ. Nói những lời như thế không có nghĩa là Ðức
Hồng Y Roncalli muốn làm Giáo Hoàng. Trong thâm tâm ngài
lặp đi lặp lại lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong
Vườn Cây Dầu. Thậm chí viết lên giấy trắng mực
đen như trong thư gửi Ðức Cha Giuseppe Battaglia, Giám Mục
Faenza: "Về phần tôi, cầu Trời cho chén đắng xa
đi!" Ngày 23, chỉ còn hai hôm nữa Mật Hội sẽ khai mạc,
Ðức Hồng Y Roncalli đi thăm một cộng sự viên cũ,
Ðức Ông Dell’ Aequa: "Cha Angelo à, cha đã thấy
đó, báo chí nhắc đến tên tôi như là một trong
những "Papabili." Tôi phải làm gì đây?" -
"Thưa Ðức Hồng Y, xin ngài hãy đặt mình trong tay
Chúa và nếu Ý Chúa là như thế, xin ngài đừng nói:
Không; Xin ngài hãy buông xuôi và đương đầu với hy
sinh như Chúa đòi hỏi. Sẽ không thiếu những người
tốt lành và tận tụy cộng tác với ngài." Áp ngày Mật Hội, Hồng Y già Dalla Costa, một người
bạn cố tri, còn nói với Ðức Thượng Phụ Roncalli: "Ngài
có thể là Tân Giáo Hoàng đấy!" - "Nhưng
tôi bảy mươi tuổi rồi! - "Ối, tôi còn hơn ngài
mười tuổi kia... Nếu ngài có thể làm Giáo Hoàng
mười năm thì là đủ rồi" Nhưng đâu phải ai cũng tôn phò ngài Roncalli đâu!
Hình như ở Pháp, nơi ngài đã làm sứ thần Tòa
Thánh từ 1945 đến 1952, người ta không đánh giá
ngài cao lắm thì phải, chả thế mà một trong sáu vị
Hồng Y Pháp khi lên đường phó hội đã nói thẳng
thừng: "Có một điều chắc chắn: sẽ không phải
là ngài Roncalli!" Bởi vì ngài Roncalli thì hàng
Giáo Phẩm Pháp biết quá rồi, chỉ được cái xuề
xòa vui vẻ tếu táo chứ có bản lãnh gì đâu! Bảy năm làm Sứ Thần Tòa Thánh ở Pháp chẳng
thiếu gì những vấn đề hệ trọng và hiểm hóc: bắt
đầu là vụ chính quyền De Gaulle muốn thanh lọc hàng
Giám Mục sau thế chiến thứ hai; kế đây là một loạt
những canh tân mục vụ của các Giám Mục Pháp; cả
về mặt Ðạo lẫn mặt đời, không phải lúc nào Roma
và Paris cũng thông cảm với nhau, tình hình nhiều lúc
căng thẳng. Nhiều người, đặc biệt là giới trí
thức, có cảm tưởng Ðức Cha Roncalli là người "cù
lần," thủ cựu, chẳng hiểu thời đại. Cha Rouquette, nhà bỉnh bút có tiếng của Dòng Tên
nhớ lại: "Những bài diễn văn của ngài
trước công chúng không được hay lắm. Còn khi có
khách đến thăm, thì ngài chuyên nói đủ chuyện linh
tinh... để khỏi phải đề cập những vấn đề nghiêm
túc. Khi đọc diễn văn, thì ngài nói miên man những
chuyện không đâu, để khỏi phải có lập trường.
Kết quả là nhiều khi cử tọa cười cợt một cách
bất kính, gần như tỏ thách đố tẩy chay." Ví dụ
trong một hội nghị long trọng bàn về những vấn đề
mục vụ nóng bỏng, ngài kể lể dài dòng về một
cuộc hành hương kính viếng di tích của vị Thánh ăn xin
Benoit Labre, đến nỗi "mấy ngàn Linh Mục có mặt ngơ
ngác, và một vị... thốt lên: "Sứ Thần là thế
đấy à?" Cũng vậy, giữa một nghi lễ trọng thể,
ngài quay ra nói về rượu vang và mấy thùng ton-nô,
Cử tọa cứ cười ầm lên!" Tại sao thế? Về sau, Ðức Cha Roncalli có thổ lộ
với người bạn thân Daniel-Rops: "Khi tôi đến
Paris, tôi như có một cảm hứng. Tôi tự nhủ: Hoàn
cảnh khó khăn là thế thì chỉ có một cách gỡ rối,
dù lòng tự ái của mình có bị tổn thương: phải
đóng vai ngu si thôi, phải đóng vai ngốc nghếch thôi!" Quả là nước Pháp và Giáo Hội Pháp có nhiều
cống hiến to lớn, có nhiều bậc kỳ tài, nhưng cũng
có một mặt trái đây là một nỗi đam mê tư tưởng
đến mức coi ý tưởng trọng hơn con người, rồi gay
gắt lên, xào xáo nhau thậm tệ. Ðức Cha Roncalli thì
ngược lại, bao giờ cũng đặt con người trước tư
tưởng. Giữa những mâu thuẫn nhức buốt như một ổ
kiến lửa, thay vì đứng về phía này phe nọ, ngài
thích để cho thời gian làm công việc gạn đục khơi
trong. Ngài nói: "Quay một nửa vòng về phía hữu,
lại quay một nửa vòng về phía tả." Bù lại
với sự cố tính không dứt khoát, là một thái độ
cởi mở thân thiện với hết mọi người thuộc mọi
tầng lớp trong xã hội, có Ðức Tin hay không có
Ðức Tin, trong đó có cả chủ tịch Hồ Chí Minh khi ông
sang Pháp năm 1946. Sau bảy năm ở Pháp, Ðức Cha Roncalli có rất nhiều
bạn bè thuộc mọi phe phái. Riêng về việc Ðạo, ngài
đứng ngoài vòng mọi tranh chấp chính là để có một
tư thế khả dĩ làm cho Tòa Thánh Roma thông cảm được
với Giáo Hội Pháp và cho Giáo Hội Pháp thông cảm
được với Tòa Thánh Roma. Ðàng sau cái vẻ ba phải,
có một cặp mắt tinh anh quan sát người và việc. Chỉ
có một vài người rất tinh ý cảm thấyăy dưới
cái bề ngoài vô thưởng vô phạt ấy, có một tư duy
rất tự do còn đang cất đấy, chỉ lộ ra khi đến ngày
đến giờ... MẬT HỘI BẦU TÂN GIÁO HOÀNG Từ ngày ấy nay đã hơn sáu năm. Bây giờ là
buổi chiều ngày 25.10, vẫn ngài Roncalli ấy cùng với 50
vị Hồng Y khác tiến vào Mật Hội, vẫn là con người
giữ riêng cho mình những nhận xét của mình, và sẵn
sàng nép mình nhường chỗ cho người khác. Khi làm
Giám Mục, ngài đã chọn cho mình một khẩu hiệu: "Obsedientia
et Pax - Vâng Mệnh và Bình An." Từ hậu bán thế kỷ 13 đến nay, đã thành một kỷ
cương trong Giáo Hội là các vị Hồng Y cử tri hoàn
toàn cô lập với thế giới bên ngoài trong những
ngày bầu cử, một khi cánh cửa Mật Hội đóng lại
là nội bất xuất, ngoại bất nhập. Âu cũng là một
cách để tách mình ra khỏi mọi toan tính của thế gian
phàm tục, mang những ưu tư về Giáo Hội ra đối diện
với Chúa và đón chờ ơn soi sáng của Thánh Thần.
Ở Vatican thời đó còn giữ đủ các tập tục lễ
nghi từ xưa truyền lại. Ông hoàng Sigismond Chipi Albini
Della Rovere, từ bây giờ là người quản nhiệm nội
điện Tông Tòa, cùng với các vệ binh Thụy Sĩ và vệ
binh quý tộc tay cầm đuốc sáng đi rảo qua thanh sát
một lần cuối cùng khu vực Mật Hội. Rồi mệnh lệnh
vang lên 3 lần: "Extra omnes. Extra omnes" có
nghĩa là tất cả những ai không có nhiệm vụ phải ra
ngoài hết. Ðến khi ông hoàng cùng đoàn vệ binh ra
khỏi cửa, thì vị Hồng Y nhiếp chính khóa chặt 3 ổ
khóa bên trong, ông hoàng khóa chặt 3 ổ khóa bên
ngoài, sau đó niêm phong cánh cửa. Ðó là cánh cửa
duy nhất để ra vào Mật Hội. Trong Mật Hội, không có
điện thoại, không có báo chí, nếu cần cung cấp lương
thực thực phẩm, thư tín từ bên ngoài, thì qua một
chiếc tủ xoay có Giáo Sĩ canh giữ... Mật Hội đã bắt
đầu... Dọc theo Nhà Nguyện Sixtina, dưới bức bích họa vĩ
đại và trứ danh "Ngày Phán Xét" của
Michelangelo, 51 vị Hồng Y ngồi trên những chiếc ngai có
tán che mầu tím. Từ năm 1953, Ðức Pi-ô XII không tấn
phong Hồng Y nào, nên nay đa số các vị đều già cả.
Dù Ðức Hồng Y Roncalli đã ở tuổi 77, nhưng vẫn còn
24 vị lớn tuổi hơn. Mỗi ngày đầu phiếu 4 lần, buổi
sáng 2 lần và buổi chiều 2 lần. Mỗi vị Hồng Y lần
lượt tiến tới Bàn Thờ, tay cầm lá phiếu của mình
và tuyên thệ; "Xin Ðức Ki-tô là Ðấng sẽ
phán xét tôi chứng giám cho tôi: tôi bầu cho người
mà trước mặt Thiên Chúa tôi xét là phải được
đề cử," rồi bỏ lá phiếu của mình vào một
chén thánh. Ðể một vì nào đắc cử, cần phải hội
đủ túc số phiếu là hai phần ba cộng một, như vậy
lần này là 35 phiếu. Lại một cổ lệ rất đơn giản mà khiến cho mọi
người bên ngoài vô cùng hồi hộp: sau mỗi lần đầu
phiếu, các lá phiếu được mang đốt trong một cái lò
bé con, đặt dưới một cái ống khói mảnh khảnh bằng
sắt tây nhô lên cao trên mái Nhà Nguyện Sixtina. Nếu
đầu phiếu chưa có kết quả, thì chất đốt được
tẩm nhựa tạo ra làn khói đen. Nếu đã bầu được
vị Tân Giáo Hoàng, thì mấy nhánh củi khô, rơm khô,
sợi khô sẽ tạo ra khói trắng. Ngoài quảng trường
Thánh Phê-rô, cộng đồng Dân Chúa, cũng như khách
hiếu kỳ và rất nhiều phóng viên với rất nhiều máy
ảnh, rất nhiều cameras cứ ngong ngóng nhìn cái ống
khói. Ngày đầu phiếu đầu tiên, Chúa Nhật 26.10, bốn lần
khói đen tỏa ra. Vậy là trong Mật Hội phiếu bầu còn
tản mác, chưa quy tụ vào ai. Quy luật trong Mật Hội là
không có bài diễn văn nào, cũng không ai giải thích
công khai, vì sao mình bầu cho một vị nào đó. Chỉ có
nhiều lúc mấy mái đầu già chụm lại nghĩ ngợi trao
đổi nhỏ nhẹ xen lẫn với những giờ yên lặng cầu
nguyện. Về sau này, vị Tân Giáo Hoàng sẽ ghi trong nhật
ký: "Tôi đã không hề vận động để được
chức vụ Giáo Hoàng, trái lại, đã lưu tâm từng ly
từng tí để người khác đừng chú ý đến tôi. Qua
những biến chuyển trong Mật Hội, tôi luôn bằng lòng
khi số phiếu dồn cho tôi giảm xuống và các vị ấy
chú ý tới những đấng khác mà riêng tôi cũng tôn
kính và thấy là xứng đáng." Như vậy là trong hai ngày Chúa Nhật và thứ hai,
phiếu bầu cho Ðức Hồng Y Roncalli khi trồi khi sụt. Theo
sự tiết lộ của chính Ðức Tân Giáo Hoàng khi đến
thăm Học Viện Armenia, thì phiếu bầu của Ðức Hồng Y
Roncalli và của Ðức Hồng Y Agagianian luôn xuýt xoát
nhau. Sang đến ngày thứ ba 28.10 thì có sự biến chuyển.
Buổi sáng, phiếu bầu cho Ðức Hồng Y Roncalli tăng lên,
hết vòng hai thì hơn hẳn so với phiếu bầu Ðức Hồng
Y Agagianian. Ðức Hồng Y Roncalli đi thẳng về phòng riêng,
gương mặt nghiêm nghị hằn lên nét trầm tư. Ngài như
đơn độc trong một cõi nào sâu lắng. Bữa ăn trưa
không thấy ngài xuống phòng ăn. Ðức Hồng Y Fossati,
Tổng Giám Mục Torino, tìm đến phòng ngài thì thấy
ngài còn đang bàng hoàng. "TÔI SẼ MANG DANH GIO-AN" Chiều ngày 28.10.1958, ngài Tisserant, đoàn trưởng
Ðoàn Hồng Y, tiến đến trước mặt ngài Roncalli và
đặt câu hỏi bằng tiếng La-tinh theo đúng nghi lễ
truyền thống: "Ngài đã đắc cử Giáo Chủ Roma
đúng theo Giáo Luật. Ngài có nhận sự đề cử chăng?" Những giờ phút bàng hoàng hồi trưa đã qua rồi.
Ðức Hồng Y Roncalli khẽ cúi đầu và bằng một giọng
trang trọng mà điềm đạm đọc câu trả lời cũng
bằng tiếng La-tinh ngài đã soạn sẵn: "Khi nghe
ngài, tôi run lên sợ hãi. Những gì tôi biết về
sự nghèo nàn nhỏ bé của tôi khiến tôi sượng
sùng hổ thẹn. Nhưng các anh em Hồng Y tôn kính trong Hội
Thánh Roma đã đầu phiếu như thế, tôi nhận thấy đó
là Ý Thiên Chúa, tôi xin nhận sự bầu cử của anh em.
Tôi xin cúi đầu nghiêng mình trước chén đắng,
trước Thánh Giá nặng nề. Trong đại lễ Chúa Ki-tô
Vua, tất cả chúng ta từng hát: Chúa là Ðấng phán
xét chúng ta, Chúa là Ðấng dẫn dắt ta; chính Nga sẽ
cứu ta." Ðã có Giáo Hoàng mới. Những chiếc tán mầu tím
phía trên các ngai của các vị Hồng Y liền hạ xuống.
Ðó là biểu tượng quyền bính của Hồng Y Ðoàn khi
Tòa Thánh trống ngôi. Nay thì chỉ còn một tán phía
trên ngai của vị Tân Giáo Hoàng. Ðức Hồng Y Tisserant
lại hỏi tiếp: - Ngài muốn nhận danh hiệu là gì? - Vocabor Johannes. Tôi sẽ mang danh Gio-an. Sự bất ngờ đầu tiên. Ðã lâu lắm rồi không
có Giáo Hoàng mang danh hiệu Gio-an. Phải lên đến tiền
bán thế kỷ 14 mới thấy có Ðức Giáo Hoàng Gio-an
XXII
(1316 - 1334), thời các Giáo Hoàng lưu lạc sang đất
Avignon, nay là nước Pháp. Ðức Tân Giáo Hoàng giải
thích ngay: - Với chúng tôi, đó là một danh hiệu thân thương
và đó là tên gọi của thân phụ chúng tôi. Thân
thương vì đó là danh hiệu của Xứ Ðạo quê nghèo,
nơi chúng tôi đã chịu Phép Rửa. Cũng là tôn danh
của hết bao nhiêu Nhà Thờ Chính Tòa trên khắp thế
giới, và trước tiên là của Thánh Ðiện Laterano,
Nhà Thờ Chính Tòa của chúng tôi, Giáo Phận Roma. 22
vị Giáo Hoàng đã mang danh hiệu Gio-an... Hầu hết các
vị ấy chỉ ở ngôi một thời gian ngắn... Chúng tôi
danh phận mỏng manh, chỉ mong được ẩn mình trong sự
truyền nối tuyệt vời của các vị Giáo Hoàng ấy...
Nhưng chúng tôi yêu mến danh xưng Gio-an là vì, đó là
tên gọi của hai người rất gần Chúa Ki-tô, là Chúa
Cứu Thế và là Ðấng sáng lập Giáo Hội: Gio-an Tẩy
Giả, vị Tiền Sứ của Chúa... và vị kia là Gio-an,
người đồ đệ và là tác giả Tin Mừng, mà Chúa
Ki-tô và Thánh Mẫu rất nhân hiền hằng yêu dấu. Trong
bữa Tiệc Ly, người đã tựa đầu trên vai Chúa, và
do đó, Người tiếp nhận một Lòng Mến mà cho tới khi
rất mực già cả, vẫn bừng lên ánh lửa Tông Ðồ
sống động... Thế rồi, tự nhiên trào ra một câu đầy phong vị Gio-an,
qua các Hồng Y, ngài đã ngỏ lời với mọi tín hữu: "Các
con ơi, hãy yêu mến nhau, bởi đó là Ðiều Răn lớn
của Chúa..." Ðức Gio-an XXIII rời ngài đi về phòng áo, ngài đổi
Hồng Y thành Bạch Y. khi trở lại lòng Nhà Nguyện
Sixtina, chỉ còn chiếc mũ phủ trên đỉnh đầu là đỏ.
Vị Bí Thư Mật Hội, Ðức Cha Di Jorio tiến lên dâng
ngài chiếc mũ trắng. Lại một bất ngờ: Ðức Gio-an
XXIII
cất chiếc mũ đỏ của mình đắp lên đầu Ðức Cha
Jorio: ngài vừa phong một vị Hồng Y mới. Ðó là một
truyền thống lâu đời, mấy đời Giáo Hoàng trong thế
kỷ 20 không giữ nữa. Ðức Tân Giáo Hoàng là
người quyết định mau chóng. Vị Hồng Y nhiếp chính mãn nhiệm xỏ vào tay ngài
chiếc nhẫn Mục Tử. Sau đó nghi lễ thần phục bắt
đầu. Mỗi vị Hồng Y vừa quỳ xuống hôn tay ngài, liền
được ngài nâng dậy ôm hôn và hàn huyên thân
thiết. Ðức Tân Giáo Hoàng rất chân tình trong mọi
giao tiếp. "HEBEMUS PAPAM. CHÚNG TA CÓ GIÁO HOÀNG RỒI!" Ngoài quảng trường Thánh Phê-rô, lúc 17 giờ 10
phút, mọi người thấy khói bốc lên trên mái Nhà
Nguyện Sixtina. Chẳng hiểu trục trặc thế nào, khói
nhờ nhợ, không ra đen, không ra trắng. Năm lần
trước cũng vậy, lúc đầu cứ xam xám thế, sau lại
ngả màu đen. Người ta chưa dám hoan hô. Nhưng lần này
không ngả đen, đã có phần hơi hồi hộp. Người bảo
thế là đã có kết quả, người nói chưa đâu. Một
anh nhà báo chạy ngang qua nói lớn tiếng: "Radio
Vatican báo tin khói trắng... Afumata bianca" Bắt
đầu xôn xao. Vài phút sau anh nhà báo hộc tốc trở
lại: "Ðúng rồi, Radio Vatican tái xác nhận là
khói trắng." Tin tức lan ra. Dân Roma sống lâu
bên Tòa Thánh có một lối nói có lẽ không được
cung kính lắm, nhưng thân mật, họ bảo là đã "làm
ra Giáo Hoàng rồi: Il Papa è fatto!." Ðèn vừa bật sáng dọc đại hành lang phía trên
tiền đường Ðền Thánh Phê-rô. Rồi đột nhiên ánh
điện bừng lên chói lọi Thánh Ðường. Vòm Ðền
Thánh sáng vút lên đến tận đỉnh cao, in vào nền
trời đêm những đường cong lâng lâng trên không
gian. Ðúng rồi, Il Papa è fatto! Chuông các Nhà Thờ khắp Roma gióng lên hân hoan.
Một giàn nhạc chuông mênh mang bao lấy thành phố, và
giàn chuông Ðền Thánh Phê-rô vang lên như những
giọng ca lĩnh xướng. Hai cánh màn trắng trên bao lơn
lộ thiên của Ðền Thánh cuộn lên. Ðoàn vệ binh Thụy
Sĩ đứng vào vị trí trong hành lang. Một tấm trướng
mầu trắng viền đỏ rất lớn, ở giữa còn mang Giáo
Huy của Ðức Pi-ô XII được phủ lên lan can cho chảy
dài xuống chính điện Ðền Thờ. 18 giờ 03, Ðức Hồng Y Canali xuất hiện. Trên quảng
trường bây giờ mấy trăm ngàn con người đã tụ
lại, yên lặng ngóng chờ. Từ các loa phóng thanh vang
lên lời ngài Canali đọc công thức cổ truyền bằng
tiếng La-tinh: "Annuncio vobis gaudium magnum: Tôi loan báo cho anh chị em
một niềm vui lớn..." Ngài ngừng một giây. Ðã
có vài tiếng hoan hô. ."..Hebemus Papam. Chúng ta có
Giáo Hoàng rồi." Quần chúng lại rộ lên vui
mừng. Nhưng là ai thế? ."..Eminentissimum anh em
Reverendissimum Dominum Angelum Josephum. Quý tính tôn danh ngài
là Angelo Giuseppe..." Thế là bên dưới có
người hiểu rồi. Có ai đó kêu lên: "Hoan hô!
Cụ Venezia!" Người ta xì xào vào tai nhau. Tiếng
Ðức Hồng Y Canali vẫn đang vang lên: ."..Sanctae
romanae Ecclesiae Cardinalem Roncalli... Roncalli Hồng Y Hội Thánh
Roma..." Tiếng vỗ tay vang lên như sóng cồn tràn
qua quảng trường mênh mông, xuyên suốt đường
Conciliazione, ra tới bờ sông Tevere. Ðức Hồng Y Canali
kết thúc vẫn bằng tiếng La-tinh: "Ngài đã chọn
danh hiệu là Gio-an thứ hai mươi ba." Không lâu sau đó, những tà áo đỏ của các vị
Hồng Y phất phới trên hành lang. Và một người áo
trắng từ từ tiến ra bao lơn. Quần chúng la hò tưng
bừng: "Evviva il Papa... Evviva Roncalli..." Dân Roma tếu tếu vậy mà nhiều khi rất đúng. Họ
bảo cứ một ông ốm lại một ông mập kế tiếp nhau.
Ðức Pi-ô XII gầy ốm, có nhân dáng một nhà tu khổ
hạnh. Ðức Gio-an XXIII vừa thấp lại vừa mập. Phải
chăng có một quy luật lịch sử tiềm tàng làm nên
sự quân bình của Giáo Hội, và quy luật ấy biết
đâu có cả một âm vang thể lý? Ðức Gio-an XXIII cất tiếng đọc những lời kinh mở
đầu cho nghi thức chúc lành trọng thể. Tiếng La-tinh
đọc theo cung giọng Ý nghe du dương. Tiếng nói cũng có
nét tương phản. Tiếng Ðức Pi-ô XII nghe mong manh, như
từ một cõi xa xôi nào vọng đến. Tiếng Ðức Gio-an
XXIII thì chắc nịch và ấm áp: ."..Xin Phước Lành
của Thiên Chúa Toàn Năng là Chúa Cha, Chúa Con và
Chúa Thánh Thần xuống trên anh chị em và tồn tại luôn
mãi" Ðức Gio-an XXIII vừa chúc lành lần đầu tiên cho "Ðô
thành Roma và Thế giới: Urbi et Orbi." Về sau này,
Ðức Giáo Hoàng thuật lại với nhà điêu khắc Manzù:
"Tôi chóa mắt vì những ngọn đèn chiếu. Giáo
Hoàng thì chăn dắt đoàn chiên, nhưng gặp mấy nhà
nhiếp ảnh là phiền lắm. Trên bao lơn đó, ánh đèn
với những chớp lóe của họ làm cho tôi như mù,
chả còn thấy gì nữa. Làm Giáo Hoàng mới, giáp mặt
với quần chúng, mà có nhìn ra cái gì đâu!" Cũng câu chuyện đó, nhưng nói với một Tu Sĩ Dòng
Ða-minh người Pháp, cha A.M. Carré, ngài đi vào nội
tâm hơn: "Khi rời khỏi bao lơn Ðền Thánh
Phê-rô, tôi nghĩ tới những ánh đèn chói chan từ
nay sẽ chiếu vào tôi không phút nào ngơi. Và tôi
tự nhủ: nếu mình không làm môn sinh của "Thầy"
hiền lành và khiêm nhường trong lòng, thì sẽ không
còn nhìn thấy thực tại cõi đời nữa đâu. Sẽ mù
đấy..." (còn tiếp) (Trích từ Ephata Việt Nam) Một Số Niên Hiệu Quan Trọng Về Công
Ðồng Chung Vatican II
Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |