LÒ LỬA TRUNG ÐÔNG: QUANG VIỆT I. MỐI LIÊN HỆ TỐT TRONG QUÁ KHỨ HỒI GIÁO - DO THÁI
Người Do thái cũng giữ một vai trò chính yếu về tài chính và hành chính trong thế giới Hồi giáo thời trung cổ. Khi triều đại Umayyeds bành trướng quyền lực trên bán đảo Tây - Bồ (Iberia) vào thế kỷ 10 và 11, họ phải nhờ hẳn người Do thái làm các nhà cai trị và ngoại giao. Thí dụ, Hasday b. Shaprut (905-970) là một khuôn mặt chính trong điều đình của các "Vua-Ðạo" (Caliphs) Abd al-Rochman III và al-Hak am III. Trong thế kỷ 11, người Do thái đã leo lên những bậc thang quyền lực cao nhất trong xứ Tây Ban Nha thuộc quyền cao trị Hồi giáo, gồm cả chức tỉnh trưởng xứ Grenada như Samuel b. Naghrela (tên Hồi giáo là Samuel ha-Nagid, nguồn gốc ông này chỉ là một tên lính, sau thành nhà chính trị 1026-1053), hay Yequtiel b. Hasan (1039) tại Saragossa, Abraham b. Muhajir (1100) tại Seville. Với mục đích thăng tiến trên đường chính trị, Yaquab b. Killis đã gia nhập Hồi giáo và giúp dòng họ Fatimid chính phủ xứ Ai cập (969) rồi tổ chức thành một tỉnh mới với hệ thống tài chánh và tiền tệ vững chắc. Tiếp sau nhà Fatimids là dòng Ayyubids (1171-1250) cũng đối xử tốt đẹp với những người Do thái, cả người theo đạo cũng như không theo đạo. Ðến thế kỷ 16 thì người Do thái lại giữ vai trò quan trọng trong ngành tài chánh và cai trị của đế quốc Hồi giáo Ottoman. Sau khi các vua Công giáo trục xuất người Do thái khỏi Tây Ban nha năm 1492 thì triều đình Ottoman đã thu nhận hằng ngàn người tỵ nạn vì họ là những người có khả năng cao về tài chánh, cai trị và sản xuất. Người ta kể rằng quốc vương Bayazid II nói vua Ferdinand xứ Tây ban nha điên hay sao mà lại trục xuất các nhân tài đi như vậy. Người Do thái hồi ấy được tin cậy dùng trong đế quốc Ottoman. Vì những người mới tới này không có khả năng liên kết với các nhóm sắc dân khác trong đế quốc (để chống đối) và nhất là họ được tin cậy trong những công tác ít được lòng dân như việc thu thuế. Ðến cuối trào của đế quốc Ottoman các tỉnh tách khỏi trung ương, hầu như độc lập, người Do thái vẫn tiếp tục giúp các nhà cai trị địa phương lo về mặt tài chánh. Một ví dụ: dòng họ Farhi, tại Damacus đã trực tiếp điều hành hệ thống tài chánh của Syria từ thế kỷ 18 cho đến lúc chấm dứt quyền hành của đế quốc Ottoman vào sau Thế chiến thứ nhất. Ngay cả trong triều đình của Ottoman, nhiều người Do thái cũng là những cố vấn quan trọng. Người nổi tiếng nhất là Joseph Nasi, cố vấn tối cao cho hai vị vua và thăng tước công hầu của xứ Naxos. Chính nhờ sự tin tưởng của các vua này mà Nasi đã xin được tái thành lập xứ sở quê hương cho người Do thái tại Palestine, dưới sự cai trị của nhà Ottoman. Với sự trợ giúp của nhà vua, người Do thái đã lập khu định cư tại Safed, miền thượng Galilê, đó là trung tâm nghiên cứu cho các người học làm Rabbi. Nhưng vì ý kiến cố vấn của Nasi thất bại trong trận thủy chiến Lepanto 1571, giữa quân Hồi giáo và Liên minh Tây phương (Công giáo) nên ảnh hưởng của Nasi suy giảm. (Benjamin Ginsberg, The Fatal Embrace, The University of Chicago Press. 1993 trang 14-16). Trong quá khứ, người Do thái đã có khả năng hội nhập cao trong xã hội Hồi giáo, tại sao sự tranh chấp đẫm máu tại Palestine và Trung đông kéo dài đã 54 năm rồi mà không giải quyết được? Từ 1882 người Do thái bắt đầu định cư tại vùng đất mà họ cho là "Thiên Chúa hứa cho tổ tiên của họ." Ðối với nhà cai trị lúc đó thuộc đế quốc Ottoman, người Do thái sẽ là dân phục quyền trung ương, không có âm mưu chống đối. Còn người Do thái thì chủ trương Zeonism trở về nguồn và đem những người đồng chủng nghèo đói các nơi tại Ðông Âu về lập nghiệp. Sự thành công trong ngành trồng tỉa của người Do thái đã khiến người Ả rập địa phương thèm thuồng và ganh tỵ. Tuy nhiên những tranh chấp lúc đó chỉ ở mức độ hạn hẹp. Thí dụ người Do thái phải mua đất để canh tác của những người chủ vắng mặt (làm ăn nơi xa) nên có đụng độ với những dân hiện canh. Người địa phương có thể ăn trộm hoa màu hoặc súc vật trong nông trại của người Do thái. Những nhà định cư mới này tự tổ chức thành những nhóm canh phòng để bào vệ tài sản mình. Từ những nhóm tự vệ tự tổ chức này mà ngày 14-5-1948, Ben Gurion tuyên bố thành lập nước Israel, can đảm chiến đấu với các sắc dân chung quanh cho đến ngày nay. II. Ả RẬP & MẶC CẢM THUA SÚT Theo các tác giả chính trị như Judith Miller với cuốn "God Has Ninety-Nine Names" thì Trung đông bao gồm 10 nước: Ai cập, Arập thống nhất, Sudan, Algeria, Libya, Lebanon, Syria, Jordan, Israel và Iran. Khi người Do thái tuyên bố độc lập, cả khối Ảrập thuộc thế giới Hồi giáo đứng lên chống đối bằng súng đạn. Nhưng mỗi nước có một mục tiêu khác nhau. Bên ngoài tất cả các nước Ảrập tham dự cuộc chiến đấu đều coi Do thái là kẻ thù cần tiêu diệt. Ðiều này đi đúng sự mong ước của dân Hồi giáo trong vùng. Từ thế kỷ thứ 7, sức mạnh của Hồi giáo bành trướng mạnh mẽ. Thế rồi với phong trào thực dân Tây phương sau này, ảnh hưởng của Hồi giáo bị co cụm và còn là kẻ bị trị ở nhiều nơi. Bởi vậy khi Israel tuyên bố độc lập thì 700,000 người địa phương đã bỏ cửa nhà chạy khỏi vùng chiếm đóng của Israel để sống đời tị nạn. Họ nói rằng họ đã bị người Do thái đuổi ra khỏi nhà. Trái lại, người Do thái nói rằng những người dân này vì sợ đã bỏ cửa nhà ra đi. Theo tài liệu viết trong cuốn "Eisenhower and Israel" (The University Press of Florida, 1993, trang 13), tác giả Isaac Alteras thì đó là ý định của phe Do thái vì họ trù tính sẽ phải tiếp nhận hằng trăm ngàn người Do thái hồi hương sau này. Ðó là lý do khiến người đồng đạo Hồi giáo căm phẫn đòi trả thù, vì đại đa số những người di tản này theo Hồi giáo. III. NGÔI SAO SÁNG XUẤT HIỆN
Nhưng từ đó các nhà lãnh tụ địa phương luôn có tham vọng trở thành người lãnh đạo khối Ả rập thống nhất để có đủ sức mạnh đối đầu với các nước Tây phương mà họ thường coi như đang sa đọa trầm trọng về luân lý. Từ khi Nasser thất bại về sự thống nhất với Syria, ông biết rằng ước mộng làm lãnh tụ toàn khối của mình đã hết. Tuy nhiên đối với đa số quần chúng, ông vẫn là một anh hùng vĩ đại, vì có khả năng đương đầu với thế giới Tây phương. Ðến ngày 10-6-1967, sau trận chiến 6 ngày, uy tín của Nasser tiêu tan vì toàn bộ chiến đấu cơ của Ai cập bị Israel phá huỷ ngay khi còn nằm tại sân bay, 500 xe thiết giáp và 70% quân cụ bị Do thái tịch thu, (trị giá 1 tỷ mỹ kim thời đó). Người Ai cập có 1500 lính tử thương, 5600 người tù binh. Trong cả 3 mặt trận (với Jordan và Syria nữa) Do thái thiệt 700 quân, 2500 bị thương. Sau này, Ai cập biết rằng theo đuổi chiến tranh chỉ là điều tai hoạ đem lại nghèo đói và lạc hậu. Vì thế tổng thống Anwar el - Sadat đã ký hiệp ước với thủ tướng Menachem Begin ngày 26-3-1979 đổi lấy hoà bình và 3 tỷ mỹ kim do Hoa kỳ viện trợ hằng năm. Hiện nay, tổng thống Murabak cũng theo con đường hòa bình và thân Tây phương của người tiền nhiệm và tiếp tục nhận 3 tỷ mỹ kim như tiền thưởng cho chính sách hoà bình với Do thái. IV. NGƯỜI HÙNG SA MẠC Ðó là đại tá Muammar Qaddafi của sa mạc Libya. Ông là người rất sùng đạo Hồi và tích cực hoạt động cho sự thống nhất Hồi giáo thành một Liên bang. Năm 1969, khi mới 25 tuổi và ở chức vụ Ðại úy, Qaddafi lãnh đạo cuộc đảo chánh của quân đội, lật đổ nhà vua Idris I và tuyên bố Libya là một nước Cộng Hoà Ả rập. Nhờ tiền bán dầu hoả, ông giúp cho tổ chức PLO, giải phóng Palestine do ông Arafat cầm đầu. Tuy nhiên vì muốn cho ngôi sao của mình chói sáng trên chính trường các nước Ả rập, ông đòi hỏi chủ tịch Arafat phải đi theo đường lối của ông. Bởi vậy có lần Arafat đã nói với Qaddafi: nếu quí vị thực tâm giúp đỡ vô vị lợi cho chúng tôi thì chúng tôi đã được giải phóng từ lâu rồi. Nhiều lần Qaddafi đã đề nghị thống nhất Libya với Ai cập. Tuy nhiên tình báo của Ai cập đã nhận diện được nhiều tên chuyên môn ám sát các nhân vật chính trị chuẩn bị đi vào phái đoàn sang Ai cập dự lễ nghi thống nhất giữa hai quốc gia Ai cập, cuối cùng cũng phải từ chối. Lên chức thủ lãnh từ 1969 và khi Nasser của Ai cập chết năm 1970 thì Qaddafi cho rằng mình là người thay thế Nasser. Bởi vậy, theo bà Judith Miller (sách đã dẫn, trang 222-224) cho biết trong 1 năm Qaddafi đã cho huấn luyện tới 7500 du kích của Palestine trên hằng trăm trại khắp xứ Libya. Các nhà tình báo cũng biết rằng chính Qaddafi đã nuôi dưỡng Abu Nidal, tên trùm khủng bố Palestine đã sát hại nhiều người Do thái, người Tây phương và cả người của PLO nữa. Các nhà tình báo Tây phương cũng cho biết năm 1983, Qaddafi điều khiển một mạng lưới phá hoại trên khắp thế giới: nổ bom tại phòng trà vùng Tây Bá linh, giết chết 2 người và gây cho 230 người bị thương, rồi tấn công tại Roma (Ý) và Vienna(Áo) có tới 19 người chết, hơn 100 người bị thương. Ông cũng cung cấp tài chính cho nhóm phiến quân hồi giáo tại Phi luật Tân Abu Sayat, chuyên môn bắt cóc đòi tiền chuộc. Bởi vậy năm trước đây ông đứng ra điều đình để bọn bắt cóc thả tự do cho nhà báo Pháp bằng 100,000 mỹ kim do ông ứng ra. Người ta lên án ông đưa tiền cho bọn cướp mua vũ khí và làm loạn. Tất cả mưu đồ của Qaddafi là để thế giới Hồi giáo, nhất là thanh niên coi ông là vị lãnh tụ giống như họ đã tôn thờ Nasser một thời. Nhưng vì vụ nổ bom máy bay của hãng Pan Am ở Lockerbie (Scotland) do các điệp viên Libya thực hiện, Liên hiệp quốc ra lệnh cấm vận đối với quốc gia này và lợi nhuận từ dầu hoả bị giảm bớt nên Qaddafi thiếu hẳn khả năng xuất cảng cách mạng Hồi giáo của mình. Người ta ít nhắc đến tên ông trong các bản tin buổi sáng. Việc thống nhất Hồi giáo của ông coi như một giấc mơ không thành. V. NGƯỜI HAI LẦN ÐƯƠNG ÐẦU VỚI CHA CON TỔNG THỐNG HOA KỲ - BUSH Những người muốn làm lãnh tụ của khối Ả rập còn có Ðạo sĩ Khomeini (Iran) và cố tổng thống Syria, Hafiz al-Assad. Nhưng cả hai người đã ra người thiên cổ. Vả lại đạo sĩ Khomeni cai trị xứ Iran thuộc phe Shiite, không thể có hậu thuẫn của thế giới Ả rập mà phần lớn thuộc phái Sunni, đối nghịch cả về đường lối, cả về nguồn gốc. Cố tổng thống Assad của Syria thì bị coi như thất bại trước người Do thái vì không sao lấy lại được phần lãnh thổ thuộc đồi Golan do Israel chiếm giữ từ cuộc chiến 6 ngày năm 1967 đến nay. Bởi vậy người Ả rập không có gì hãnh diện được về ông. Người mạnh nhất hiện nay đang mong giữ vai trò thủ lãnh toàn khối Ả rập là Saddam Hussein, tổng thống Iraq. Biến cố quan trọng trong việc thống nhất Hồi giáo thành một lực lượng chính trị sau thời Nasser phải kể đến vụ Iran bắt giữ con tin Hoa kỳ 1979. Lúc đầu người ta còn lo sợ chiến tranh vì có thể Hoa kỳ trả đũa, nhưng sau cuộc giải cứu thất bại vào ngày 24-8-1980 người Hồi giáo các nơi đều hãnh diện vì đã làm nhục được một đế quốc sừng sỏ nhất thế giới. Riêng đối với Iran thì chẳng được lợi gì trong biến cố này vì quần chúng đã được kích thích đến tột độ rồi bởi việc lật đổ nhà vua Shah Reza Pahlavi vào năm 1979. Khi Hussein tấn công Iran, mà Giáo chủ Khomeini không thắng được Iraq thì cách mạng của Iran cũng chẳng có gì cao quý. Trái lại, Saddam Hussein khi chiếm cứ Kuwait, người ta nhìn thấy âm mưu muốn thôn tính luôn cả bán đảo Ả rập Saudi để thực hiện mộng đế quốc của ông và được người dân coi đó như là công trình thống nhất Hồi giáo. Bởi vậy trong trận chiến Hoa kỳ đuổi Iraq ra khỏi Kuwait, xứ Saudi Arabia ủng hộ và chịu tiền chiến phí cho Hoa kỳ. Trái lại hiện nay, uy tín của Hussein đối với giới bình dân tăng cao, thái độ của hoàng triều Saudi Arabia rất lưỡng lự và chần chừ trước lời kêu gọi của tổng thống W.Bush yêu cầu hợp tác lật đổ chính quyền Hussein được coi là cầm đầu khủng bố với những vũ khí giết người hàng loạt. Ủng hộ Hoa kỳ lần này, nhà vua của Arabia dễ bị dân chúng quý mến Hussein bất mãn, chuyện chẳng lành có thể xảy ra. VI. NHÂN TỐ CHÍNH YẾU: MẶT TRÂN GIẢI PHÓNG PALESTINE (PLO) Mặt trận giải phóng Palestine thuộc quyền lãnh đạo của Yassar Arafat năm nay đã 73 tuổi, bị bệnh run tay. Thực tế thì tổ chức này đã phân hóa ra làm 3: - PLO: mặt trận giải phóng Palestine vẫn do Yasser Arafat cầm đầu - Mặt trận dân chủ giải phóng Palestine (Democratic Front for the Liberation of Palestine) - Hamas: có nghĩa là Hồi giáo thánh chiến. Ba tổ chức này hầu như độc lập vì những lập trường khác biệt về sự tiếp cận với Do thái. Ðến nay, phe của Arafat cố gắng đi đến hoà đàm để Do thái thi hành hiệp ước Oslo mà hai bên đã ký kết 1993. Tuy nhiên hai phe kia có vẻ cứng rắn hơn, muốn tiêu diệt luôn cả quốc gia Do thái và không chịu thoả hiệp. Những người ở miền Bắc thường được nhóm Hezbollah miền Nam Lebanon yểm trợ vì họ có sự giúp đỡ của chính quyền Iran, cùng nhánh Shi’it với nhau. Bởi vậy khi Arafat muốn ngưng phá hoại để tham dự hoà đàm thì lại không được tuân thủ làm cho tiến triển hoà bình hầu như vô vọng. VII. HOA KỲ VÀ DO THÁI Sở dĩ Hoa kỳ và Do thái được coi như một phe vì từ trước đến nay luôn luôn là nước che chở trung thành cho lập trường của Do thái. Nếu Liên Hiệp quốc đưa ra những nghị quyết bất lợi cho Do thái, Ðại diện của Hoa kỳ luôn luôn phản đối, và không bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu chống. Tại sao vậy? Trở lại với tập tài liệu của giáo sư Benjamin Ginsberg ("The Fatal Embrace") chúng ta sẽ có câu trả lời. Ngay từ trang đầu cuốn sách, tác giả cho biết: kể từ 1960 người Do thái đã tạo được ảnh hưởng đáng kể trong đời sống kinh tế, văn hoá, trí thức và chính trị tại Hoa kỳ. Trong thập niên 80 người Do thái đã giữ vai trò trọng tâm trong nền tài chánh nước Mỹ và họ là những kẻ hưởng lợi chính yếu của thập niên này: Sát nhập các công ty với nhau, tái tổ chức. Ngày nay Do thái chiếm 2% dân số nước Mỹ, nhưng mà gần tới một nửa số người tỷ phú tại đây là gốc Do thái. Ba ông chủ tịch của 3 hệ thống truyền hình chính và 4 hãng phim lớn nhất là người Do thái, cũng như chủ của hệ thống báo lớn nhất và ảnh hưởng nhất, tờ New York Times là người gốc Do thái. Vào cuối thập niên 60, người Do thái đã chiếm tới 20% số sinh viên của những đại học danh tiếng và 40% giáo sư trong các trường luật có giá trị cao. Ngày nay, con số này còn cao hơn. Về vai trò và ảnh hưởng chính trị, người Do thái cũng nổi bật. Họ được bầu vào chức vụ dân cử quá đông so với tỉ lệ dân số của họ trong quốc gia này. Trong năm 1993 họ có 10 thượng nghị sĩ, 32 dân biểu liên bang. So với dân số thì họ được bầu từ 3 đến 4 lần cao hơn tỷ lệ dân số của họ. Trong cuộc nghiên cứu mới đây thấy rằng trong 27/ 36 cuộc tranh cử vào thượng viện liên bang; thì một hoặc cả hai ứng cử viên đều nhờ người Do thái giữ vai trò chủ tịch vận động hay giám đốc tài chánh cho cuộc vận động. Trong cuộc tranh cử từ năm 1992, người Do thái giữ những vai trò rất quan trọng. Trong phe Dân chủ, khi thắng cử, tổng thống Clinton đã đưa nhiều người gốc Do thái vào chính quyền của ông với những chức vụ chủ chốt. Nhờ vào những ảnh hưởng lớn lao này của các vị dân cử gốc Do thái mà hằng năm Hoa kỳ phải viện trợ 3 tỷ mỹ kim cho Do thái cũng như cho Ai cập 3 tỷ nữa. Ba phần tư số tiền Hoa kỳ viện trợ cho ngoại quốc được chi tiêu vì mục đích tạo sự hoà bình, vững mạnh cho Israel, tức là để trả công những nước ủng hộ Israel. Các dữ kiện còn nhiều nữa, thiết nghĩ rằng đó cũng đủ cho chúng ta nhìn ra ai là chủ chốt điều khiển chính sách đối ngoại của Hoa kỳ, nhất là những đòi hỏi mạnh mẽ hiện nay của chính quyền Bush đối với xứ Iraq. Ngoài ra nội tình của Israel là Lao động hay là Likud thì cũng muốn bảo vệ sự sống còn cho dân tộc Israel mà thôi. VIII. KẾT LUẬN Người Hồi giáo có nhóm quá khích, phe Do thái có nhiều quyền lực. Người Do Thái chỉ chiếm 2% dân số Hoa kỳ, nhưng dùng cả tài nguyên ,nhân lực của một quốc gia mạnh nhất thế giới bao bọc cho quê hương họ. Chính vì thế cán cân công lý bị làm lệch đi, làm sao có hoà bình. Ðến bây giờ người ta vẫn nghe có một người kêu gào: Hãy ngồi vào bàn hội nghị, tìm ra giải pháp ôn hoà. Ðó là Ðức Gioan Phaolô II. Ngài kêu gọi Hòa Bình. Chỉ mình ngài thẳng thắn phê bình sự bạo động của cả hai phe Do thái cũng như Palestine. Chính vì vậy mà ngài đã bị báo chí Do thái nhục mạ như một kẻ đứng sau lưng những bạo động của người Palestine chống Do thái. Chỉ có công lý mới giải thoát chúng ta. Mặc dầu người Hồi giáo hãm hại vàngười Do thái vu khống Giáo hội Công Giáo, chúng ta hãy cố gắng nỗ lực cầu nguyện và tiếp tục sống yêu thương với hết mọi người theo lời nói và chính gương sáng của Thầy Chí Thánh Giêsu của chúng ta. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu |
|