TỰ THUẬT

(Kỳ 30)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

 

Thử thách

Chúng con đang êm thú trong việc sách được một tháng, thì đến mùa hanh. Trời nắng như thiêu, cỏ đồng cháy sạch, lại gặp phải năm cạn nước, nên bò nhà xứ gầy teo trông con nào cũng ngo ngoe muốn chết. Cha Maillet sợ tiêu mất đàn bò sữa, nên đã đổi chương trình học của chúng con ra chương trình "chăn bò." Mỗi anh phải nhận một chị bò sữa và con bê của nó, dắt đi chăn rải rác ở các triền núi.

Chúng con điều cảm thấy khó chịu, vì cha Maillet đã đi ngược lại mục đích của chúng con. Nên anh nào cũng đòi về. Cha Maillet yên ủi:

- Không, chúng con đừng nên làm như thế, cha cũng biết chúng con đến đây là cốt ý để học, nhưng gặp lúc bất trắc, cha phải nhờ đến chúng con một ít lâu.

Cả ba điều ân hận trước lời khẩn thiết của cha giáo, rồi cố gắng theo chương trình mới. Xem ra có Hiển là thấy khó chịu đựng nhất, vì Hiển không quen chăn bò, nên thỉnh thoảng Hiển lại mếu máo khóc đòi về.

Qua ba tháng, trời bắt đầu đổ mưa phùn, cỏ đồng lại bắt đầu mọc xanh tươi. Cha Maillet lại bảo chúng con vào chương trình học tập. Anh nào thấy thế cũng vui, và Hiển cũng hết đòi về.

Chia lià

Thế mà nào có ngờ, cơn thử thách còn bắt chúng con phải đoạn tuyệt với nhà xứ Quảng-Uyên!

Xem ra việc chúng con trở lại với nghề học tập, không được hài lòng bà nhất lắm.

Bà nhất?

Có lẽ cha chưa được rõ cái quyền hành của một bà nhất ở trong các nhà chị em Dòng Ba Ða-minh?

Thưa cha "bệ vệ" lắm. Nhưng bà nhất ở nhà mụ Quảng-uyên này lại còn quyền hành bằng mấy những bà nhất ở những nơi khác. Vì không những có quyền "đè đầu vít cổ" mấy cô bên nhà mụ, mà cái sự đè đầu vít cổ còn lan rộng sang đến mãi bên nhà xứ nữa cơ.

Nhưng khiếp vô cùng! Ngày nay nhớ lại đoạn thời gian phải "kháng chiến" với bà nhất nhà mụ Quảng-uyên mà chúng con ai nấy phải. rợn tóc gáy.

Ðấy là con xin nói đúng sự thật, còn sự xấu hay tốt, con không chú ý. Con cũng chẳng có ý vẽ vời ra để tô điểm cho đoạn đời tang tương của con thêm phần thảm hại. Không, con chỉ biết nói theo sự đã xẩy ra.

Vậy ở nhà xứ Quảng-uyên, dưới cha Maillet thì chỉ còn một mình bà mụ nhất là có quyền hành tuyệt đối.

Coi hình dáng với bộ điệu của bà, thì ai chả bảo là bà hiền? Hiền như bụt. Nhưng tâm trạng của bà thì chỉ có thể hiểu được như những hành động mà con xin thuật tả sau đây.

Con còn nhớ cái cử chỉ đáng mến của bà nhất đối với chúng con ngày mới đến xứ Quảng-uyên. Hôm ấy cha Maillet dẫn chúng con sang chơi bên nhà mụ để chào bà nhất. Bà ôn tồn nói với chúng con bằng một bộ điệu vò tay, xoa gáy, với đôi môi chúm chím để lộ một nụ cười nửa ủ nửa tươi, bà khuyên dặn chúng con chịu khó học hành, tu thân tích đức để mai ngày gánh đỡ giang sơn Giáo Hội thay cho các cố già. Bà còn hứa hẹn rằng:

- Nhà mụ ở đây sẽ lo cung cấp đủ mọi điều cần thiết để giúp các cậu đi tới đích; thiếu gì các cậu cứ thành thật bày tỏ, rồi tôi khắc liệu cho.

Rồi bà mở hộp kẹo lạc mời chúng con xơi. Cha Maillet cầm lấy gói kẹo vừa đưa cho chúng con vừa nhón một thanh, rồi vừa đưa lên miệng người vừa tủm tỉm nói với chúng con:

- Ðấy chúng con xem bà nhất ở đây tốt thế đấy. Ở đây ít lâu nữa rồi chúng con sẽ còn thấy nhiều cái còn tốt nữa.

Con nghe rõ ràng, lúc ấy ở ngoài hè có tiếng chép miệng, và có tiếng cô mụ nào xì xèo với nhau.

Bà nhất chạy ra cửa dòm, rồi bà lên tiếng hỏi một cách bất ngờ:

- Mấy giờ rồi mà đã kéo thây về với nhau rồi đấy?

- Thưa bà chúng con tưới xong rồi ạ.

- Xong thì kiếm việc mà làm chứ, kéo nhau về mà lú với nhau ở đấy à? Rõ thật!

Cha Maillet phải chạy ra can:

- Thôi, thôi bà nhất, chị em muốn ăn kẹo lạc. để cha cho mỗi chị một thanh cho vui.

Cha vác hộp kẹo ra, nhưng các cô đã chạy hết.

Con bắt đầu nghi cái "tốt" của bà nhất ngay từ lúc nghe bà nói, với các cô mụ nhỏ. Nó đượm một quyền hành cay nghiệt và kiêu hãnh. Ấy là cùng một hàng nữ tu với nhau đấy.

Nhưng mà đối với chúng con, lời nói ban đầu của bà nó vẫn tốt, và vẫn đi theo với những hành động tốt của bà. Thỉnh thoảng gặp chúng con bà lại hỏi thăm đến sức khỏe, và các cô mụ nấu thức ăn có tử tế không? Thật, trong một tháng đầu, ba anh em chúng con được biệt đãi như thể là ba đứa con cưng của bà mụ nhất vậy.

Thời gian trôi.

Ba tháng đi chăn bò đã mãn, bây giờ chúng con lại cắp sách vào lớp, lại có giờ chơi bi, đi tắm, đi dạo, leo đồi, trèo núi v.v. Ồ! ra nó không còn gây cái mùi hôi bò nữa . Và có lẽ nó cũng đã mất đi mối lợi nào cho bên nhà mụ? Mà vì thế bà nhất tỏ ý không bằng lòng.

Trước, bà còn van xin, sau bà phàn nàn. Nhưng việc bà cổ động cho chúng con đi chăn bò nó không được cha Maillet chấp thuận. Người cứ một mực thẳng thắn nói với bà nhất rằng: Lương tâm cha bắt buộc cha phải lo cho các cậu ấy trong việc học hành, bằng không cha sẽ phải trả lẽ về những thì giờ lợi dụng các cậu ấy để làm lợi cho nhà xứ. Khi cần kíp thì cha xin, nhưng khi đã có thể liệu cách khác, cha phải trả lại thì giờ học cho các cậu ấy.

Bà nhất dỗi cha; bà cáo ốm luôn, chả chịu nhìn nhõi gì đến công việc bên nhà xứ. Nghĩa là bà "đình công." Nhưng khi không có mặt ở bên nhà xứ, bà vẫn luôn luôn có cô liên lạc với bà trong hết mọi chuyện xẩy ra bên nhà xứ.

Ba anh em chúng con vẫn bình tĩnh học tập theo chương trình; kính trọng bà nhất, và yêu mến các cô mụ như những người ân nhân.

Bỗng một ngày chúng con thấy số lương thực sụt hẳn xuống một mức quá độ.

Sáng nào nồi cháo lót lòng cũng đầy và chỉ lõng bõng rặt nước với phều phào một đôi hột gạo đỏ, có khi là ngô tán. Trưa nào cơm cũng thiếu và nhão nhoét như bánh đúc khê. Thức ăn không bỏ muối, và vẫn cùng một chum tương mà bây giờ cũng thấy nó nhạt và có mùi chua hơn thường.

Lạ lùng quá!

Thì ra về sau chúng con mới khám phá ra cái "phép lạ" ấy là do bà mụ nhất làm. Bà phán:

- Không làm thì đừng ăn, không chăn bò thì khỏi ăn cơm. vân vân.

Thế là cô mụ làm bếp cứ phải tạo ra hằng trăm cái "phép lạ" do lời bà nhất phán ra.

Tình hình ngày một găng, chúng con chưa ai đến tuổi chay cả, mà ngày nào cũng phải ăn chay. Thật là khó khăn, nhưng thế nào cũng phải giải quyết cho xong.

Anh em liền họp đội trong phòng học, và hai anh Hiển và Tám bằng lòng, cử Văn đi "yết kiến" bà mụ nhất để bàn định với "ngài" về vấn đề "phép lạ" ấy.

Bà nhất không những chả thèm nghe, lại còn mắng cho "ông đại biểu" một tua, và cứ khăng khăng phán rằng:

- Không làm thì đừng ăn.

Ông đại biểu phải lủi thủi vác mặt về, chả tức tối gì, nhưng từ đó chúng con đến xin cha Maillet can thiệp.

Nhưng cha Maillet càng quát tháo các cô mụ bao nhiêu, chúng con càng nhận thấy nhiều "phép lạ" hơn bấy nhiêu. Tám, Hiển ngày nào cũng mếu máo vì đói và hễ cứ giờ chơi là ba anh em rủ nhau ra núi đào khoai rừng để ăn trừ cơm. Nhưng khoai rừng cũng hiếm, nên anh em hễ cứ gặp quả gì "chén" được là xơi hết, bất kỳ chua hay là chát.

Ðến giai đoạn chót, cha Maillet bắt các cô mụ phải nấu cơm cho các cậu ăn tại nhà bếp của cha. Và trước bữa ăn, lần nào cha cũng mở nồi cơm ra xem có đầy đặn tử tế không.

Thật là thảm hại! Thấy cách cha ân cần săn sóc đến chúng con mà chúng con phải bùi ngùi, nhìn nhau ra nước mắt.

Nhưng thâm ý của bà nhất thì con mắt ngay lành của cha có bao giờ nhìn thấy.

Nồi cơm thì bao giờ cũng đầy có ngọn, nhưng cơm bao giờ cũng nhão, và chúng con thấy lòng nồi cơm bao giờ cũng rỗng. Thật là một sự lạ, chính trong chúng con cũng không ai hiểu nổi. Nhưng một ngày, con đã khám phá ra cái sự lạ ấy.

Một lần đang bữa ăn, người bõ xới cho con bát cơm thứ nhất, hơi nóng còn bốc lên nghi ngút, con rưới chút tương rồi đun lên và cho vào miệng, ngay lúc ấy con ngửi thấy hơi cơm bốc lên có mùi nống như hơi vôi. Nhưng con chả để ý, và cứ ăn ngon như thường. Con cho là tự tương để lâu nó có mùi ra như thế.

Con chú ý nhìn qua mọi người xem họ có ăn ngon không, và con đã thấy ai cũng nhai nghiến một cách ngon lành, những miếng cơm mà họ và vào miệng với chút tương nhạt như nước lã. Con càng yên lòng, và cho cái mùi vôi con ngửi thấy là một sự tưởng tượng xa xôi.

Ðến bát thứ hai, con lại ngửi thấy trong hơi cơm bốc lên có mùi nồng nộc như bát cơm trước. Nhưng con cứ ăn, và chả để ý gì. Con và được vài miếng, và bỗng răng con nhai phải một cục sạn to bằng hột ngô và cảm thấy đắng. như vôi. Con vội vàng xin vô phép mọi người, để chạy ra ngoài.

Con nhả miếng cơm ra mới rõ biết đó là cục sạn vôi, con nhai nó và trộn trắng ra với cơm.

Trong miệng con còn cảm thấy đắng tê cả đi.

Con thở một hơi dài, rồi lại vào bàn cơm. Con nhìn qua Hiển và Tám đang bưng bát cơm ăn một cách ngon lành, và tự dưng con ứa ra hai hàng nước mắt!.

Con kiếu ăn, và ra giường nằm khóc nấc nở.

Tám tưởng con thiếu cơm dỗi không ăn, nên Tám chạy đi mách cha rằng:

- Cơm thiếu, anh Văn đói đang nằm khóc.

Cha Maillet tức tốc chạy sang bên các ô mụ quát tháo cho một tua kịch liệt. Hôm ấy từ bà nhất cho đến cô làm bếp cũng điều xanh le cả mắt ra.

Cha Maillet vứt cả khăn cơm đang đeo lòng thòng ở cổ, rồi vào bàn cơm cha, có gì đem khuân đến giường cho con hết. Nhưng con không ăn, và cũng chẳng cho ai hay vì sao con khóc.

Hiển, Tám thấy vậy cũng tu lên khóc. Cha Maillet phát cáu, và quát:

- Ðem cơm đổ cho chó nó ăn.

Chúng con càng khóc nhiều, và chiều ấy cha Maillet bãi lớp.

Từ đấy cha Maillet bắt đầu hoài nghi chúng con, và để cho sự oán hận bà nhất được tự do hoành hành trên chúng con.

Dịp ấy con phải nói với Hiển và Tám:

- Chúng ta không thể ở đây lâu được, nhưng hãy cố gắng chịu đựng cho đến hết năm học.

Con nhận thấy rõ ràng gương mặt đỏ đắn ngây thơ của Hiển và Tám đã trở thành mầu sắc bủng beo và nặng xị, vì phải ăn cơm vôi. Thế mà đối với cha Maillet, người vẫn cho chúng con là béo tốt, mập mạp như đàn bê sữa của người, và khen các cô mụ là khéo nuôi.

Qua Tết Việt nam, Hiển thấy tình thế khó sống quá, phải cuốn gói đòi về.

Hiển ra đi, con mến tiếc vô cùng, và chỉ có thể tỏ lòng mến tiếc ấy ra trong những dòng lệ chua xót. Vì Hiển đã là một đứa em thân thiết với con trên quãng đường thiêng thiêng.

Hiển đi chưa đuợc bao lâu, trong nhà xứ lại rụt mất ba người làm việc. Rồi đến cậu Mèo Yoseph Blau cũng phải từ nan cái cảnh sống thiếu "công bằng và bác ái" của nhà xứ Quảng-uyên. Và sau cùng đến lượt con ra đi, và phải đem theo một điều nhơ nhuốc, như là người đã phạm một tội trọng, và phải án đuổi đi.

Giai đoạn ấy, con sẽ kể rành mạch hơn.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com