KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICAN II
NHỚ VỀ ÐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN XXIII

(Kỳ 3)

Lm. Vũ Khởi Phụng, C.Ss.R.

Ðức Cha Roncalli thích đi, thích nghe, thích nhìn những chuyện lớn chuyện nhỏ. Mỗi lần Hàn Lâm Viện Pháp đón một viện sĩ mới, bốn chục ông nhà văn được gọi là "bất tử" của nước Pháp thế nào cũng có những bài diễn văn rất tinh hoa, một ông cũ ca tụng sự nghiệp của ông mới, ông mới cám ơn và ôn lại cuộc đời và tài đức của văn hào quá cố mà mình kế vị. Ðức Cha Roncalli không bỏ sót một cuộc đón tiếp nào, chăm chú ngồi nghe, mặc dù phần lớn những chuyện được đề cập chẳng liên hệ gì nhiều đến những vấn đề ngài phải lo trước mắt. Ngài bảo là trong những buổi ấy tiếp thu được nhiều điều hay lắm.

Với lại ngài thích tản bộ, có thì giờ là xuôi ngược các bờ bến sông Seine và phố xá Paris, ngài thấy những quang cảnh ấy "hấp dẫn phi thường". Và rồi ngài ra khỏi thủ đô, thăm các Tòa Giám Mục, các Nhà Thờ Chính Tòa, hay một Nhà Thờ cổ nào đó, khi ở nơi thị tứ, khi ở thôn quê. Nếu được mời, ngài không bao giờ từ chối lên tiếng trước mọi cử tọa, mặc dù nói tiếng Pháp giọng Ý và đôi khi phạm những lỗi ngữ văn khiến cử tọa ngẩn ngơ rồi phì cười. Lại một lần nữa, Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh ở Roma không đánh giá cao những bước chân lang thang và cái tính vui chuyện của Sứ Thần ở Paris.

Trong một lần tiếp kiến, Ðức Pi-ô 12 nói: "Ở đây người ta mong Ðức Cha nên có mặt ở nhiệm sở nhiều hơn một chút." Sứ Thần xin vâng, nhưng giải thích rất thoải mái: "Con chỉ đi đó đi đây theo lời mời của các Giám Mục. Và trong mọi chuyến đi con đều cố gắng làm tai mắt, làm trái tim và bàn tay nhân ái của Ðức Thánh Cha."

Trong 8 năm, Ðức Cha Roncalli đi thăm các nơi hơn hai trăm chuyến. Và dù ở Roma hay Paris đánh giá thế nào, thì kết quả vẫn không đến nỗi tồi. Thứ nhất là vụ chính phủ Pháp đòi bãi nhiệm hơn hai chục Giám Mục đã được giải quyết êm đẹp. Khi vấn đề đặt ra, thì Sứ Thần Tòa Thánh xin được xem các tài liệu về tội trạng của các vị này để điều nghiên. Xem rồi thì hỏi: "Sao lại chỉ có mấy bài báo và mấy bức thư nói xấu của những người bất mãn? Mấy thứ này không có giá trị pháp lý. Quý ngài chưa cho tôi những lý do vững chắc để đòi các vị ấy từ nhiệm!"

Với các bạn thân thì Ðức Cha Roncalli nói: "Sách lược của tôi là sách lược con tôm: hễ bị tấn công thì lùi, nhưng lùi rồi thì đi một vòng lại trở về chỗ cũ". Với các cộng tác viên, ngài nói: "Nhiệm vụ của tôi là bênh vực các Giám Mục". Câu chuyện đâm ra dây dưa. Rốt cuộc thì chính phủ Pháp cũng thấy rằng còn nhiều việc cần làm hơn là cứ nhủng nhẳng mãi với Tòa Thánh. Thế là Sứ Thần Tòa Thánh có thể thông báo cho chính phủ Pháp rằng Ðức Giáo Hoàng chấp thuận trên nguyên tắc để "vài" Giám Mục đã dính líu quá nhiều với chế độ cũ "tự nguyện" từ chức. Kết cuộc thì có bảy vị về vườn, trong đó có vài vị đã hưu từ trước đó rồi. Bù lại, Giáo Hội Pháp được 3 Hồng Y mới.

Trong số những vị "thoát nạn" có những người như Ðức Hồng Y Suhard ở Paris, người khởi xướng phong trào Tái Phúc Âm Hóa ở Pháp; Ðức Hồng Y Gerlier ở Lyon, Ðệ Nhất Tòa Pháp Quốc và Ðức Hồng Y Liénart, sau này sẽ đóng vai trò quan trọng ở Công Ðồng Vatican 2. Cả hai vị này từng lên tiếng chống lên chính sách tàn bạo của quân Ðức chiếm đóng đối với người Do-thái và thường dân vô tội. Dù vậy, những vị này vẫn không thoát khỏi sự hậm hực xoi mói của những người thích vạch lá tìm sâu.

Phía chính phủ Pháp cử nhà Triết Học Công Giáo nổi tiếng thời đó là Jacques Maritain sang Roma làm Ðại Sứ ở Vatican, ông đã được bổ nhiệm từ trước nhưng chưa nhận nhiệm sở vì còn bận dạy ở một trường đại học bên Mỹ. Về sau, người đối tác của Ðức Cha Roncalli trong các cuộc thương thuyết này là André Latreille, Trưởng Ban Tôn Giáo thuộc Bộ Nội Vụ Pháp nhận xét về Sứ Thần Tòa Thánh như sau: "Nhờ có tính lạc quan chắc nịch, thực tế, khôn ngoan và nhẫn nại, ngài đã góp phần lớn để tái lập quan hệ ngoại giao, tạo ra một sự thân tình và cởi mở mà sáu tháng trước đó khó có thể tiên liệu."

Ðó là về vấn đề các Giám Mục, còn chuyện những đường lối mục vụ "cấp tiến" của Giáo Hội Pháp thì rất lâu về sau, người ta mới ngờ ngợ nhận ra rằng trong suốt thời gian Ðức Cha Roncalli làm Sứ Thần, mặc dù Tòa Thánh rất dè dặt với những canh tân đó, nhưng quan hệ giữa Tòa Thánh và của giới Công Giáo Pháp rất bình an. Từ ngày ngài đi nơi khác mới hay xảy ra những bất đồng nhức buốt. Nhiều vụ mâu thuẫn sôi nổi với những hậu quả điêu đứng di lụy lâu dài. Nhưng đó là một câu chuyện khác...

Cuối năm 1952, Ðức Cha Roncalli đã 71 tuổi. Cứ lẽ thường thì ngày về hưu không còn xa. Nhưng ngày 14 tháng 11, một bức thư của Ðức Ông Montini (sau này là Ðức Phao-lô 6) từ Phủ Quốc Vụ Khanh báo tin Ðức Pi-ô 12 có ý giao cho Sứ Thần Tòa Thánh ở Paris nhiệm vụ kế vị Ðức Thượng Phụ Venezia là Ðức Cha Carlo Agostini đang đau nặng. Ðến ngày 18 tháng 12 thì Ðức Cha Agostini qua đời.

Ngày 12.1.1953, Ðức Cha Roncalli được cử làm Hồng Y. Ngài ghi trong nhật ký: "Tước vị Hồng Y không phải là một Bí Tích, cũng không phải Á Bí Tích. Tuy thế, đó vẫn là một dấu chỉ rằng Chúa Quan Phòng dành cho tôi những trách nhiệm nặng nề mà tôi sẽ phải trả lẽ..."

Lại một lần nữa, những người độc miệng bình luận: "72 tuổi rồi, về Venezia nghỉ mát là phải. Ðưa ông nội về đấy chơi với các cháu, để cho người ta còn lo việc lớn!" Quả là ở Vatican có nhiều người không ưa cái lối suy nghĩ độc lập và nói năng tự do của ngài. Cộng vào đó, cung cách đơn sơ của Ðức Cha Roncalli lại càng đậm thêm những nét tương phản với một giới giáo sĩ nào đó ở Vatican vốn đạo mạo và vụ hình thức.

Tại sao Ðức Pi-ô 12 lại điều một nhà ngoại giao đã quá tuổi cổ lai hy về trấn nhiệm Tòa Thượng Phụ Venezia? Có phải là để cho ngài thêm một trường kinh nghiệm mục vụ mà ngài còn chưa kinh qua? Chỉ biết rằng trong năm đó, Ðức Pi-ô 12 đã làm như thế với hai vị Giáo Hoàng tương lai - sau khi Ðức Cha Roncalli về Venezia vài tháng, đến lượt Ðức Cha Montini được cử làm Tổng Giám Mục Milano.

Lễ nghi nhận mũ đỏ của Ðức Cha Roncalli cũng hơi đặc biệt. Ở Pháp có một truyền thống từ những thời Quân Chủ xa xưa, thời các vua chúa còn có Ðạo, là chính nhà vua sẽ trao mũ đỏ cho các vị Tân Hồng Y. Nay chế độ Cộng Hòa đã xóa bỏ ngôi vua, vị nguyên thủ quốc gia lại là người vô tín ngưỡng. Nhưng người ta vẫn quý trọng truyền thống xưa. Thế là lễ trao mũ đỏ cho Ðức Cha Roncalli được tổ chức ngay tại điện Elysée, tức Phủ Tổng Thống Pháp, với đầy đủ nghi thức. Cảnh tượng ngược đời: vị Tân Hồng Y quỳ gối nhận mũ đỏ, nhưng đại diện Ðức Giáo Hoàng đội mũ cho Tân Hồng Y lại là một người vô thần, Tổng Thống Vincent Auriol. Âu là một biểu tượng cho con người suốt đời muốn làm cầu nối, muốn làm anh em mọi người. Sau này, ông Auriol tâm sự rằng khi thấy Tân Hồng Y quỳ xuống trước mặt một kẻ không có Ðức Tin như mình, ông đã chấn động, nhận ra thế nào là Ðức Tin sâu sắc và sự khiêm tốn chân thực.

HOẠT ÐỘNG TẠI VENEZIA

Venezia, thành phố huyền thoại trên biển Adria, được xây dựng trên 118 hòn đảo, nối với nhau bằng 177 con kênh nước mặn và 400 cây cầu. Nước biển xanh là đại lộ, chảy dài giữa những lâu đài, quảng trường, những con thuyền Gondola dập dìu thay cho xe cộ. Nơi đây tích tụ 14 thế kỷ lịch sử kiêu hùng và những kho báu văn hóa và nghệ thuật vô giá.

Về mặt Ðạo, Venezia nhận Thánh Marco tác giả Tin Mừng làm bổn mạng. Di cốt ngài được tôn kính trong Nhà Thờ Chính Tòa, tức Ðền Thánh Marco được xây cất từ thế kỷ 9, và lừng danh về nghệ thuật. Trong thế kỷ 20, một vị tiền nhiệm của Ðức Hồng Y Roncalli là ngài Sarto đã lên ngôi Giáo Hoàng năm 1903, nay là Thánh Pi-ô 10.

Cũng như Ðức Hồng Y Roncalli đã đến thủ đô Paris nước Pháp với tâm hồn khiêm tốn và bình an, 7 năm sau, ngày 15.3.1953, ngài lại đi vào Venezia vẫn cùng một tâm trạng bình an và khiêm tốn, và như ngài nói trong Ðền Thánh Marco, "đơn giản chỉ muốn làm một người anh em thân tình, cởi mở, lắng nghe mọi tâm sự".

Ít ai biết rằng bên dưới vẻ huy hoàng ngàn đời, Venezia lại là một Giáo Phận nghèo. Nói cho ngay, Venezia uy danh thì lớn, thực chất là một Giáo Phận nhỏ, chỉ có 400.000 Giáo Dân và 120 Xứ Ðạo. Nếu so với Giáo Phận Milano của Ðức Cha Montini thì Venezia chỉ bằng một phần năm diện tích và một phần mười dân số.

Ngay khi vừa nhận nhiệm sở, Ðức Cha Roncalli đã gặp "hai mũi gai đau". Mũi gai thứ nhất là lợi tức của Tòa Giám Mục chẳng có bao nhiêu. Thôi thì suốt đời đã nghèo, nay lại "nghèo thế này thì cũng xấu hổ và hơi lúng túng", nhưng xin sẵn lòng chấp nhận. Mũi gai thứ hai là dân nghèo đông quá, thất nghiệp nhiều quá. Những huy hoàng sang trọng từ thuở nào vẫn dành cho một thiểu số vương giả, và ngày nay là những du khách quốc tế giàu sang. Còn đại chúng cần lao trong những ngõ ngách, ẩn mình sau những mặt tiền rực rỡ, thì vẫn cặm cụi và nhiều khi lây lất bên lề xã hội. Những người này hay lui tới Tòa Giám Mục xin giúp đỡ. Trong những thư gửi hai người em gái là Tê-rê-xa và Ma-ri-a, Ðức Cha Roncalli viết: "Từ khi làm Hồng Y và Thượng Phụ, anh lại nghèo hơn trước, bởi vì trước tiên, bây giờ anh phải lo cho những người nghèo ở Venezia... Anh là một Hồng Y nghèo lo giúp đỡ những người nghèo... Thấy mình giống như một bà mẹ gia đình nghèo đông con, phải lo cho nhiều miệng ăn."

Trong suốt thời gian ở Venezia, vị Thương Phụ không ngừng nhắc lại những quyền của công nhân và những bổn phận của chủ nhân. Năm 1957, nhiều nhà máy vùng Veneto đóng cửa, nhiều nhà máy khác giảm giờ lao động và giảm nhân công. Ðức Cha Roncalli viết một Thư Mục Vụ: "Tôi xin kêu gọi các nhà lãnh đạo công nghiệp và chính quyền, các chuyên viên và cố vấn về kỹ thuật và kinh tế: nhân danh Thiên Chúa, tôi khẩn cầu quý vị hãy xét rằng trình độ trí tuệ cao và gia tài sản nghiệp lớn được trao cho quý vị hưởng thụ không phải là để cân bằng thu chi, nhưng là để trở nên khí cụ của Chúa Quan Phòng cho toàn thể gia đình nhân loại được nhờ. Cho nên quý vị phải tự hiến mình cho một công tác phục vụ xã hội hết sức khó khăn, nhưng cũng hết sức thiết yếu". Suốt đời, Ðức Cha Roncalli vẫn xác tín rằng: người Công Giáo phải tạo lập một chính sách xã hội táo bạo. Giáo Hội có nhiệm vụ giúp đỡ những người nghèo khổ nhất, thua thiệt nhất. Cho nên Ðức Cha luôn đứng về phía những ai tranh đấu cho một nền công bình xã hội thấm đượm tinh thần Phúc Âm.

Cũng vì lẽ đó mà ngài có mối đồng cảm sâu sắc với hai nhân vật lớn trong giới chính trị Công Giáo ở Ý. Vị thứ nhất là một Linh Mục, Don Sturzo, người đã lập ra Ðảng Nhân Dân Ý năm 1919 để hướng dẫn người Công Giáo trong sinh hoạt chính trị. Ðó là tiền thân của Ðảng Dân Chủ Ki-tô giáo sau này. Linh Mục trẻ Roncalli khi ấy đã rất hào hứng với hoạt động của Don Sturzo. Người thứ hai chính là vị chủ tịch Ðảng Nhân Dân do Don Sturzo thành lập: ông Alcide de Gasperi. Dưới sự lãnh đạo của hai nhân vật này, Ðảng Nhân Dân đã quyết tâm chống đối đường lối Phát-xit của Mussolini. De Gasperi từng bị tù hồi thế chiến thứ 2. Sau thế chiến thứ 2, de Gasperi lãnh đạo nước Ý từ 1946 đến 1953, chính ông đã vạch ra những định hướng căn bản cho đất nước. Ðó là thời cực thịnh của Ðảng Dân Chủ Ki-tô giáo.

Ðối với hai nhân vật này, Ðức Cha Roncalli thán phục và tin tưởng hoàn toàn. Nhưng khi ngài về Venezia, thì cả hai đã già. Cha Sturzo qua đời năm 1954, và de Gasperi, năm 1959. mối dây tinh thần nối kết ba người là một thái độ trân trọng đối với con người. Ðiều có ý nghĩa là sau khi nhận chức, chuyến viếng thăm của ngài ra ngoài thành phố dành cho các công nhân nhà máy lọc dầu Azip. Sự gần gũi với nhân dân về đây được dịp phát triển. Paul Dreyfus mô tả như sau:

"Ðôi khi sáng sớm Ðức Thượng Phụ đi làm Lễ ở một Nhà Thờ nào đó. Phần lớn cư dân còn đang ngủ, ngài liền đi bộ qua trung tâm thành phố. Tứ phía còn vắng lặng, bầu trời gần như trắng bệch, nhà cửa trông xam xám, chỉ có đỉnh tháp chuông phơn phớt một tia nắng hồng. Trên quảng trường Thánh Marco, mà người ta gọi là đại sảnh cẩm thạch đẹp nhất thế giới, vào giờ này do hàng trăm chim bồ câu độc chiếm. Ðây là giờ xuất hiện của những phu hốt rác, những anh quét đường, những chú hầu bàn các quán cà-phê, những chàng trai mang bánh mì đi giao chuyến hàng sớm, rồi những học sinh đeo cặp trên vai đi đến trường.

Ðức Thượng Phụ cứ thủng thẳng bước đều. Ðức Cha ghé thăm anh láng giềng bán tranh mầu nước, chào hỏi mấy người hầu bàn cà-phê trên quảng trường, bắt tay mấy người giữ cửa khách sạn mặc sắc phục sặc sỡ, thân mật hỏi chuyện những chị bán rau, bán hoa đang bầy hàng. Ngài đi lan man qua những đường phố hẹp ngát hương cà-phê espresso và bánh mì mới ra lò. Ðôi khi ngài mua vé đi ca-nô vaporetto. Vaporetto ở Venezia thì cũng giống như xe buýt ở các thành phố trên đất liền. Ngài có một chiếc thuyền Gondola đấy chứ, mang huy hiệu Thượng Phụ đàng hoàng. Nhưng ngài thích những phương tiện bình dân, hòa mình vào dân. Ðức Cha muốn thăm thú thành phố của mình từng khu vực một, quan tâm đến từng chi tiết. Ngài dừng chân nơi các bệnh viện, trường học, cô nhi viện, và khi có dịp, vào tận các tư gia. Có hôm vào xưởng chế tạo vật dụng thủy tinh xem thợ phùng má thổi ve chai. Hôm thì đi dự đua thuyền của các tay lái thuyền Gondola. Hôm thì tổ chức một cuộc họp với cánh dân chài vẫn sinh sống trên đầm phá; hôm khác nữa lại đến thăm các học sinh trường huấn luyện hải quân..."

Venezia là nơi có lắm hội nghị và lễ hội, lắm sinh hoạt nghệ thuật: điện ảnh, kịch, âm nhạc, v.v... ấy là chưa kể vô số khách du lịch. Ðức Thượng Phụ gặp gỡ và hàn huyên chẳng biết là với bao nhiêu người. Các bạn bè cũ ở Pháp, có người đã về hưu như cựu tổng thống Auriol, có người còn đang hoạt động. Có khi là nhạc sĩ Igor Stravinski, nhiều lúc khác là nhà văn Daniel-Rops. Và tất nhiên là rất nhiều các vị Hồng Y, Giám Mục, những gương mặt lớn của Giáo Hội đương thời, như các ngài Montini, Lercano, Agagianian, Tisserand, ngài Wyozynski từ Ba-lan đến, ngài Spellman từ New York sang, v.v...

Vừa tiếp xúc rộng rãi, vừa kiên trì tạo sức sống mới cho Giáo Phận. Ðường lối của ngài hình như không khác bao nhiêu so với thời ở Paris: "Cai trị như một người cha trong gia đình, rộng lòng với mọi người, khi hành động đừng hấp tấp, đợi cho sự việc chín tới, biết tin tưởng con người, chịu đựng nhiều, đừng lưu tâm khi bị người khác xúc phạm nhưng đáp lại bằng một phong thái rất lễ độ."

Ngài có chỉnh trang phần nào Tòa Thượng Phụ. Căn phòng trên lầu một trước kia là văn phòng của Thánh Pi-ô 10 khi còn là Hồng Y Sarto, được sửa lại sao cho thật giống ngày xưa. Trên mái thì xây một sân thượng nhỏ, những lúc chiều tà, Ðức Thượng Phụ lên đấy, đưa mắt nhìn khắp thành phố, những mái nhà nhấp nhô, những tháp chuông Nhà Thờ, và ngay trước mắt là quảng trường Thánh Marco tuyệt vời, tất cả nhuốm lấy những sắc màu dịu dàng và linh động của buổi hoàng hôn.

Khi mới về Venezia, Thượng Phụ nói: "Tôi bắt đầu công việc mục vụ trực tiếp vào cái tuổi mà nhiều vị khác mãn nhiệm". Thế mà thấm thoát đã gần sáu năm qua, và Thượng Phụ đã vào tuổi 77. Cả một đời dài trôi nổi "trên những nẻo đường Phương Ðông, Phương Tây". Cảnh chiều hôm Thượng Phụ đứng trên sân thượng nhìn xuống thành phố biển, có thể làm liên tưởng tới một thủy thủ già sau bao nhiêu năm lênh đênh, đã đưa con tầu cổ của mình về neo ở một bến cảng bình an, và giã từ sóng nước. Thế rồi Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 12 qua đời, và mọi sự diễn tiến nhanh chóng.

ÐĂNG QUANG GIÁO HOÀNG

Truyền thuyết kể rằng ngày xưa có ông Thánh Malakia có ơn tiên tri, Thánh kê cho mỗi vị Giáo Hoàng một danh hiệu cứ trúng phóc vào cuộc đời mỗi đấng. Theo thứ tự các danh hiệu đó, thì Ðức Pi-ô 12 là "Pastor Angelicus: Mục Tử Thiên Thần", quả là đúng với phong cách siêu thoát của Ðức cố Giáo Hoàng. Còn người kế vị thì ông Thánh phong tặng cho là "Pastor et Nauta": Mục Tử và Thủy Thủ.

Chiều ngày thứ hai 27.10.1958, Mục Tử già, Thủy Thủ già Roncalli đứng trước các anh em Hồng Y và nói: "Tôi xin nhận danh hiệu là Gio-an". Ngài từ thành phố Venezia xây trên nước biển mà đến, lời Thánh Malakia chả ứng là gì? Chuyện tiên tri kia có thật chăng? Ðiều ấy không quan hệ lắm. Chỉ biết chuyến này Thủy Thủ lại sẽ căng buồm cho một hải trình dài nhất, lạ lùng nhất, căng buồm cho con tầu vĩ đại là Giáo Hội, vào một thời điểm không thiếu gì gió to sóng lớn.

Ngày 4 tháng 11 là Lễ Ðăng Quang. Hồi đó các nghi thức cổ truyền còn giữ y nguyên. Quang cảnh rất vĩ đại và vương giả, khắp cả Ðền Thờ Thánh Phê-rô dệt gấm thêu vàng. Giữa cảnh đón tiếp lộng lẫy, bất chợt vang lớn 3 lần tiếng vị Chưởng Nghi: "Pater Sancte, sic transit gloria mundi": "Tâu Ðức Thánh Cha, vinh quang thế gian qua đi là thế", mỗi lần hô xong, Chưởng Nghi lại châm lửa vào một búi chỉ gai khô, ngọn lửa vàng rực bốc lên trong gây phút rồi tắt lịm, chỉ còn lại một chút tro tàn. Nhưng nếu có ai xứng đáng là bậc thầy để dạy cho mọi người chân lý rất cổ mà rất mới ấy, thì chính là vị Giáo Hoàng già, nét mặt nghiêm nghị, đang chằm chằm nhìn ngọn lửa và tro than.

Sau khi đọc Tin Mừng, Ðức Gio-an 23 đọc diễn từ mà ngài đã soạn trước. Theo thông lệ, Ðức Giáo Hoàng không nói gì trong Lễ Ðăng Quang. Nhưng ngay từ khi đắc cử, Ðức Gio-an 23 đã có những hành động phá lệ nho nhỏ. Hôm nay ngài lên tiếng, cũng lại thêm một lần phá lệ nữa. Diễn từ của ngài tương đối ngắn, sau đây là những ý chính:

"Người ta mong chờ Ðức Giáo Tông phải là một vị lãnh đạo quốc gia nhiều kinh nghiệm, một nhà ngoại giao khôn ngoan, một nhà thông thái thiên kinh vạn quyển, biết cách tổ chức cuộc sống chung cho hết mọi người, hoặc giả một vị Giáo Tông có tinh thần cởi mở với mọi dạng tiến bộ của thời đại, không loại trừ một tiến bộ nào. Nhưng tất cả những ai nghĩ như vậy đều tách khỏi chính lộ, bởi vì họ quan niệm về vị Giáo Tông một cách không hoàn toàn phù hợp với lý tưởng chân thật cho vị Giáo Tông."

Vậy theo Ðức Gio-an 23, Giáo Tông phải là người thế nào? Ngài phải giống như "người con ông Gia-cóp, khi chứng kiến các anh của mình đang khổ sở trong những ngịch cảnh nặng nề, đã không kìm được lòng thương yêu thổn thức mà phải thốt ra lời: "Tôi là em Giu-se của các anh đây!" Ngài phải như người Mục Tử nhân lành trong dụ ngôn Tin Mừng, "đi trước đàn chiên" để chỉ đường cho chiên và nói rằng: "Tôi còn nhiều chiên khác không thuộc đoàn này, tôi phải đưa chúng về hợp đoàn, chúng cũng sẽ nghe tiếng tôi và rồi chỉ có một đoàn chiên và một Mục Tử".

Lm. VŨ KHỞI PHỤNG, 16.10.2002

Ephata Việt Nam số 82 (Còn tiếp)