Trong việc chọn lọc những câu hỏi, chúng tôi cố gắng lưu ý đến nhiều phương diện khác nhau của ‘lẽ đạo’, nhất là những vấn nạn liên quan đến luân lý, là phương diện bức xúc nhất trong đời sống Kitô hữu ngày nay. Ðể trả lời những thắc mắc, quan điểm của chúng tôi được đặt trên căn bản là Lời Chúa, Truyền Thống và Huấn Quyền của Giáo Hội. Quan điểm ấy cũng cố gắng kết hợp giữa suy tư thần học và thực tế mục vụ.

Ðương nhiên, trong khuôn khổ nhất định của đề mục này, những giải đáp của chúng tôi không thể bao gồm tường tận mọi chi tiết. Vì thế, ngoài mục đích chính là cống hiến những hiểu biết căn bản để giải tỏa những băn khoăn, hy vọng những giải đáp này cũng gợi ý và động viên sựï chú tâm tìm hiểu kỹ càng những bài nghiên cứu hệ thống hơn.

Mục ‘Hiểu Ðạo - Sống Ðạo’ mong ước được trở nên người bạn đồng hành để chia sẻ với Quý Ðọc Giả những băn khoăn trong hành trình Ðức Tin hằng ngày. Mọi thắc mắc liên quan đến việc tìm hiểu để sống đạo, xin Quý Vị vui lòng gởi về cho chúng tôi qua tòa soạn Nguyệt san Ðức Mẹ HCG.

Back to Top Back to Top


Thánh Giáo Phụ - Thánh Tiến Sĩ

Hỏi: Ðọc sách báo công giáo, thỉnh thoảng con thấy nói đến các ‘giáo phụ’, ‘thánh giáo phụ’. Các vị ấy là ai? Con cũng nghe nói đến các ‘tiến sĩ hội thánh’. Ðó là bằng cấp gì? Phải học ngành gì và bao lâu để đạt được tước hiệu ấy?

(H.N., New Jersey)

Ðáp: Các Giáo phụ Giáo hội (Fathers of the Church) là những mục tử hoặc học giả thông thái mà bút tích, tư tưởng đã góp phần giúp Hội thánh thời sơ khai và thượng cổ trong việc cắt nghĩa và bảo vệ giáo lý chân chính, hầu chống lại những thuyết lạc giáo. Ngoài việc hộ giáo ấy, những giảng dạy của các ngài cũng nhằm giúp Kitô hữu phát triển sự hiểu biết và sống đức tin cách khôn ngoan, xác tín.

Các vị này được gọi là ‘giáo phụ’ vì họ sống và giảng dạy trong ‘thời các giáo phụ’, ngay sau ‘thời các tông đồ’. Các sử gia quy định ‘thời các giáo phụ" của Giáo hội Latinh bắt đầu từ khi vị tông đồ sau cùng là Thánh sử Gioan qua đời (khoảng năm 100 AD), cho đến khi Thánh Ididore đệ Sêvin qua đời (năm 636 AD); và ‘thời các giáo phụ’ của Giáo hội Ðông phương kéo dài cho đến khi Thánh Gioan Damatsênê qua đời (năm 749 AD).

Có khoảng 100 vị được gọi là giáo phụ. Tuy nhiên, chỉ một số được Giáo hội phong thánh và được gọi là thánh giáo phụ. Trong số các thánh giáo phụ nổi tiếng vì đã để lại những giáo huấn giá trị, ta phải kể đến Clêmentê thành Roma, Inhaxiô thành Antiôkia, Irênê, Ambôsiô, Athanasiô, Augustinô, Basiliô Cả, Bênêdictô, Cyprianô, Grêgôriô Cả, Giêrônimô, Gioan Kim-khẩu, Justinô, Phêrô Crisôlôgô, Pôlycap.

Về phần các ‘tiến sỹ hội thánh’, thật ra tước hiệu này không cùng ý nghĩa như ta thường hiểu về danh từ ‘tiến sỹ’ ngày nay. Ðây không phải là một bằng cấp đời thường, và cũng không nhất thiết theo một học trình đời. Những ‘tiến sỹ hội thánh’ là những vị thánh đã góp phần thăng tiến đời sống đức tin của cộng đoàn Dân Chúa, qua việc suy tư, cầu nguyện, sống chứng tá và trình bày cách hệ thống một giáo huấn cụ thể nào đó về luân lý, tín lý, tu đức, v.v. Thời xa xưa, tước hiệu này thường được ban tặng cho một cá nhân qua sự công nhận cách chung chung giữa các giáo hội địa phương. Sau này, tước hiệu ấy được Ðức giáo hoàng tuyên bố cách trịnh trọng, với văn kiện và nghi thức thích hợp.

Ví dụ, Thánh Anphongsô đệ Ligoria là đấng sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, được Ðức Thánh Cha Piô IX tôn phong tiến sỹ giáo hội năm 1871. Giáo huấn luân lý của ngài (Equiprobabilism - Cái-Nhiên Bình) đã giúp Kitô hữu thời đó tránh được những cạm bãy của cả phái Nghiêm nhặt (Jansenism) lẫn phe Cấp tiến (Laxism) để giữ được lương tâm bình an, chân thành trong việc xưng tội, rước lễ, thờ phượng Chúa.

Danh sách các thánh tiến sỹ trải dài và đánh dấu lịch sử mục vụ cũng như sự phát triển về suy tư thần học của Giáo hội. Trong thời các giáo phụ, có thánh Augustinô (354- 430) chẳng hạn, là vị thánh tiến sỹ và giáo phụ lẫy lừng với các tác phẩm tu đức, thần học (Confessio - Tự thú; De Doctrina Christian - Huấn giáo Kitô; De Beata Vita - Ðời Hạnh phúc; De Civitate Dei - Thành đô Thiên Chúa, v.v.). Thời trung cổ (năm 476 - 1500) có các thánh tiến sỹ trứ danh như Albertô Cả, Bonaventure, Thomas Aquinô, Catariana thành Siêna, Ansêmô, Antôn thành Padua, v.v.. Thời Cải cách và ‘Kỷ nguyên Ánh sáng’ (năm 1515-1890), có Phanxicô đệ Salêsiô, Gioan Thánh giá, Robertô Bêlaminô, Têrêsa thành Avila, Phêrô Canisius, Phêrô Clavơ, Anphongsô đệ Ligôria.

Trong thời đại chúng ta, thánh nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu là vị tiến sỹ giáo hội vừa được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên phong tước vị này vào ngày 19-10-1997. Linh đạo ‘Ðường thơ ấu thiêng liêng’ (Enfance Spirituelle) của ngài chủ trương tinh thần đơn sơ, khiêm nhường và phó thác trọn vẹn nơi lòng thương xót Chúa. Linh đạo ấy được coi là một đóng góp quan trọng cho nền tu đức Kitô hữu thời nay.

Back to Top Back to Top


Tái Hôn?

Hỏi: Thưa cha, cách đây 8 năm con có quen một người bạn gái không thuộc đạo công giáo, và không muốn gia nhập đạo. Khi con ngỏ ý xin làm đám cưới với cô qua phép chuẩn khác đạo, bố mẹ con đã từ chối. Vì yêu nhau, chúng con đã quyết định làm đám cưới ngoài tòa án đời. Chúng con đã chung sống với nhau 6 năm và có một cháu bé. Cách đây 2 năm, người vợ ấy của con đã quyết định chia tay và chúng con đã làm giấy ly dị. Xin cha cho con biết bây giờ con phải làm thế nào để giải quyết tình trạng hôn nhân rắc rối này. Trong tình trạng ly dị này, con có thể xin tiêu hôn để làm phép cưới lại trong nhà thờ Công giáo không?

(Jimy T., Seattle, WA)

 

Ðáp: Giáo luật 1108 quy định rằng bí tích hôn phối chỉ hiệu lực (thành sự) khi được cử hành "trước sự hiện diện của Ðức giám mục, linh mục hoặc phó tế, và 2 người chứng". Giáo luật 1117 nói thêm rằng quy định này phải được tuân thủ nếu "ít nữa là một trong 2 phối ngẫu là người công giáo". Ðiều ấy có nghĩa là, nếu người Công giáo làm nghi thức hôn phối không theo quy định giáo luật này thì sự kết hôn ấy không phải là một bí tích. Và, như kỳ trước chúng tôi đã trình bày, khi không phải là một bí tích thì sẽ không có sự ràng buộc nào về giáo luật.

Áp dụng vào trường hợp của anh, vì anh là người Công giáo, hôn nhân phần đời của anh không có giá trị theo nghĩa bí tích. Vì thế, về mặt giáo luật anh không bị ràng buộc gì, nhưng hoàn toàn tự do để lãnh nhận bí tích hôn phối. Anh không cần phải xin tiêu hôn.

Cụ thể hơn, khi xin lãnh nhận bí tích hôn phối, anh phải có giấy chứng rằng hôn nhân phần đời của anh đã được tòa án đời giải gỡ với phán quyết ly hôn. Nên trình giấy chứng nầy cho tòa án hôn phối địa phận để xác nhận là anh tự do về mặt pháp luật đời.

Dĩ nhiên, vì đức bác ái, công bằng và trách nhiệm Kitô hữu, anh cũng phải lo lắng sao cho người con trong hôn nhân trước của anh được những bảo đảm căn bản về vật chất, tinh thần cho đến tuổi trưởng thành.

Back to Top Back to Top


Giáo Huấn Hội Thánh và Lương Tâm?

Hỏi: Trong những vấn đề luân lý, con thường thấy người Kitô hữu bị buộc phải theo sự hướng dẫn, dạy dỗ của thẩm quyền giáo hội. Con nghĩ rằng người kitô hữu trưởng thành cần phải biết nghe tiếng nói lương tâm của chính mình để quyết định và lựa chọn. Xin cha cho biết điều ý kiến? Ðâu là căn bản để chọn lựa, lương tâm cá nhân hay giáo huấn của Giáo hội

(Mary Nguyễn, San José, CA)

Ðáp: Chị nói đúng, trong những suy tư và chọn lựa luân lý, chúng ta phải nghe theo tiếng lương tâm, và thi hành những gì mà lương tâm ta tin là đúng đắn nhất. Công đồng Vatican II dạy rằng, "lương tâm là cung thánh thẳm sâu, nơi con người đối diện riêng với Thiên Chúa" (xem Hiến chế ‘Giáo hội trong thế giới ngày nay’ # 16). Sách Giáo lý Công giáo, phản ảnh lời Hồng y John Newman, gọi lương tâm của mỗi người là một thứ ‘đại diện nguyên chính của Chúa Kitô’ trong mỗi cá nhân, và là tiếng nói của Thiên Chúa trong tâm hồn nhân loại. Vì thế, mỗi người phải trung thành nghe theo tiếng lương tâm của mình trong việc chọn lựa điều tốt và tránh điều xấu (xem GLCG Phần III, Khoản 1, Chương 1, Ðiều 6).

Nhưng điều quan trọng cần biết ở đây là, lương tâm cũng cần có sự đào tạo, soi sáng để hiểu biết và nhận định cách chắc chắn sự tốt xấu, lành dữ, hầu có thể hướng dẫn đúng đắn những suy tư, lựa chọn và ứng xử luân lý trong đời sống hằng ngày của ta. Vì rất nhiều khi, lương tâm có thể chân thành nhưng lại sai lầm, mù quáng. Ví dụ, có nhiều vợ chồng Công giáo ngừa thai và tin rằng đó là một việc đúng; họ nghĩ rằng ‘theo tiếng lương tâm’ của họ, nếu họ chưa cảm thấy sẵn sàng để sinh con thì phải ngừa thai. Thực ra, nếu quả đó là một quyết định ‘theo tiếng lương tâm’ của họ, thì có thể quyết định ấy chân thành. Nhưng dù sao, đó cũng là một quyết định sai lầm về mặt luân lý, vì đã dựa theo một lương tâm sai lầm. Lương tâm ấy không được soi sáng để nhận biết rằng ý định của Thiên chúa khi thiết lập hôn nhân là để vợ chồng yêu thương nâng đỡ lẫn nhau và tiếp nối sự sống qua việc sinh sản (Sáng thế ký 2: 28: 9: 2: 10: 2); rằng, vì thế mà nguyên tắc luân lý của Giáo hội Công giáo từ chối việc ngừa thai.

Một hành động thành tâm nhưng dựa trên một lương tâm mù quáng thì tuy không nhất thiết là tội nhưng vẫn là một điều xấu. Và khi lương tâm ấy có thể mà không muốn được soi sáng thì những hành động của lương tâm ấy sẽ thật sự trở nên tội.

Ðối với người kitô hữu, không có sự đào tạo lương tâm nào chắc chắn hơn là Lời Chúa và giảng dạy của Giáo hội. Chính vì thế, Công đồng Vatican II nhắn nhủ rõ rằng người tín hữu phải tuân theo sự hướng dẫn của các mục tử giáo hội, nhất là trong những vấn đề thuộc tín lý và luân lý (xem Hiến chế ‘Giáo hội trong thế giới ngày nay’ # 25).

Tóm lại, không có sự mâu thuẫn hay đối chọi giữa lương tâm cá nhân và giáo huấn của Hội thánh. Giáo hội luôn muốn mỗi người phải lắng nghe tiếng Thiên chúa trong lương tâm mình, và thi hành những gì lương tâm ấy mời gọi. Nhưng để nghe được rõ ràng tiếng Thiên chúa và để lương tâm hành xử cách đúng đắn, chúng ta cần đến sự soi sáng, hướng dẫn của Giáo hội. Như vậy, mở lòng đón nhận giáo huấn của Giáo hội để có một lương tâm sáng suốt hầu biết suy tư và chọn lựa đúng đắn: đó là thái độ tốt nhất của người kitô hữu khôn ngoan.

Back to Top Back to Top


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com