Peter Linh Nguyễn
Con dê con ngựa khác dòng Hình Ảnh Con Dê Trong Cựu Ước Khi Chúa gọi và chọn ông Áp-ra-ham để khởi đầu
cho một dân riêng của Chúa, Chúa đã hứa ban cho ông
quyền sở hữu đất đai mà Chúa sẽ chỉ cho, cũng như
dòng giống của ông sẽ đông đảo và trường tồn.
Khi ông Áp-ra-ham phàn nàn với Chúa là đã để ông
và vợ ông trong tình trạng không con cái, không
người thừa tự, thì Chúa đã đưa ông ra ngoài trại
để đếm các vì sao trên trời. Chúa đã hứa ban cho
ông một dòng dõi đông như sao trên trời, mặc dù
vợ chồng ông đã già, vả lại vợ ông là người
san sẻ. Ðến khi Chúa đưa dẫn ông và gia đình đến
vùng Ðất Hứa, ông Áp-ra-ham đã bán tín bán nghi về
quyền sở hữu vùng đất mới đó. Ông thưa với
Chúa rằng: "Lạy Ðức Chúa, làm sao mà biết là
con sẽ được đất này làm sở hữu." Ðể
chứng minh lời hứa của mình, Chúa đã truyền dạy cho
ông Áp-ra-ham tìm vật đính ước gồm một con bò cái
ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con cừu
đực ba tuổi, một chim gáy, và một bồ câu non làm
vật tế lễ để thiết lập giao ước. Lý do các con
vật phải ở hạn ba tuổi là vì chúng đang trong thời
kỳ tinh tuyền, không vết nhơ, và không bị uế tạp.
Ông Áp-ra-ham đã làm theo lời chỉ dạy. Ông đặt tất
cả lễ vật lên trên bàn thờ. Ðến khi mặt trời
lặn, thì Chúa đã dùng một ngọn đuốc cháy rực mà
thiêu hủy lễ vật dâng tiến. Và sau đó, Chúa đã
thiết lập giao ước với ông (St 15:1-21). Từ đó về sau, con cháu ông Áp-ra-ham dùng các con
vật mà Chúa đã phán truyền để làm lễ vật dâng
lên cho Chúa. Hơn nữa, những con vật dùng để hiến
tế này được đưa vào luật kính thờ Chúa một cách
rất là tỉ mỉ, đặc biệt trong các sách Xuất hành, Lê-vi,
Dân số, và Ðệ nhị luật. Trong bài viết này, tôi
đặc biệt chú trọng đến con dê, một trong những
con vật được chọn theo chỉ thị của Chúa. Trong thời
kỳ đầu, con cháu của A-ha-ron, (A-ha-ron là người anh
của Mô-sê), được đặc ân sát tế các con vật
dùng làm lễ hiến tế. Thông thường, nếu có người
lễ tiến một con dê, thì người đó sẽ mang con dê
đến trước bàn thờ Chúa. Người dâng tiến lễ vật
sẽ đặt tay trên con dê. Con dê sẽ bị giết, và con
cháu ông A-ha-ron sẽ rảy máu con dê chung quanh bàn thờ
(Lv 3:12-13). Ðiều này cũng dễ hiểu. Trong một đàn dê, người
ta chỉ giữ một vài con dê đực, trong khi dê cái thì
có thể nhiều. Vì số lượng dê đực hiếm hoi, nên
trị giá một con dê đực có lẽ đắt hơn một con dê
cái vào thời đó. Người có phẩm trật càng cao, hay
một tập thể phạm tội, thì buộc phải có lễ vật tạ
tội có trị giá cao. Niềm tin của người Do thái vào
thời đó là của lễ tạ tội càng có giá trị, thì
tội càng được tha nhiều. Hơn nữa, luật Do thái qui
định dùng con dê để làm lễ xá tội cá nhân hay tập
thể chỉ trong trường hợp họ phạm tội một cách vô
ý. Trường hợp họ xúc phạm mệnh lệnh Chúa một
cách cố tình và được người khác biết, thì không
thể dùng con dê để làm của lễ xá tội. Cho nên,
chúng ta sẽ không ngạc nhiên về luật "mắt đền
mắt, răng đền răng" hay "ném đá cho
đến chết" trong luật Do thái khi một cá nhân hay
tập thể phạm tội một cách cố tình. Thời đó, dân Do thái cử hành nghi lễ xá tội
hàng năm vào ngày 10 tháng Bảy. Những con số trong
các lễ hội Do thái thường mang một ý nghĩa đặc
biệt. Số 10 là con số nổi bật trong Cựu ước, nó
chuyên chở ý nghĩa mười giới răn của Mô-sê. Số
7là con số chỉ định ngày Sa-ba của người Do thái. Trong
ngày lễ này, ngoài một vài con vật đã kể ở trên,
cộng đồng Do thái đặc biệt tiến dâng hai con dê
đực trước bàn thờ Chúa. Vị tư tế sẽ bắt
thăm chọn giữa hai con: một thăm chọn một con cho Chúa,
thăm còn lại sẽ chọn con dê cho A-da-dên (A-da-dên có
nghĩa là scapegoat trong tiếng Anh, dịch là con dê
gánh tội). Vị tư tế sẽ sát tế "con dê cho Chúa"
làm lễ tạ tội cho toàn dân. Sau khi rảy máu con dê
trên một cái nấp xá tội và làm một vài nghi thức
thánh hiến bàn thờ, người ta dẫn "con dê cho A-da-dên"
còn sống tới. Vị tư tế đặt hai tay lên đầu con dê
này, rồi xưng thú trên nó tất cả lỗi lầm của toàn
dân. Dĩ nhiên vị tư tế có cả một danh sách các
giống tội gớm ghiếc mà cộng đồng hay phạm. Ông
trút tất cả những tội lỗi đó lên mình "con
dê gánh tội." Sau khi xưng thú tội cộng đồng xong, vị tư tế sẽ
nhờ một người phục dịch dẫn con dê này thả sâu
vào sa mạc. Con dê này gánh mọi tội lỗi cộng đồng
Do thái mà đi lạc lõng trong sa mạc. Thức ăn của dê
là cỏ tươi mà giữa một sa mạc khô cằn, không cỏ,
không nước, lại có thú dữ ăn thịt như sư tử và
chó sói quanh quẩn, thì số phận của "con dê
gánh tội" thật là thảm não. Vì phải gánh tội
cho cộng đồng mà nó giờ đây phải sống trong đói
khát và sợ hãi, và cuối cùng nó sẽ chết trong đau
đớn, có khi là kiệt sức vì đói khát, có khi bị
phanh thây bởi một con sư tử hay một đàn sói dữ
tợn. Phần người thả dê khi trở về phải làm
những việc thanh tẩy để tránh sự uế tạp lây từ
con dê đó. Anh ta phải giặt áo và tấm rửa kỷ
lưỡng trước khi anh ta trở về với cộng đồng. Phần
con dê bị sát tế để tạ tội thì xác của nó được
đem ra ngoài trại xa mà đốt đi. Và luật lệ này
được lưu truyền mãi trong dân Do thái trong suốt thời
Cựu ước (Lv 16:1-34). Sách Dân số cũng đề cập rất nhiều đến lễ vật
cho Chúa bằng các con vật kể trên. Nói về con dê,
tựu trung thì lễ xá tội cần một con dê đực
cho các đầu mục hay cho từng chi tộc, trong khi một con dê
cái thì dành cho các thường dân. Chẳng hạn trong
nghi thức cung hiến đền thờ, mỗi ngày, từng chi tộc
trong mười hai chi tộc Do thái dâng tế phẩm lên cho
Thiên Chúa. Nghi lễ kéo dài trong suốt mười hai ngày
liên tục (Ds 7:10-39). Những nghi lễ đặc biệt khác thì
gồm có: Lễ cầu an trong dân thì cần năm con dê
đực. Lễ tạ tội cho vương quốc thì cần bảy con dê
đực (2 Sb 29:21). Lễ khánh thành đền thờ Chúa thì
cần mười hai con dê đực (Er 6:17). Tục lệ này
kéo dài mãi ngay cả khi dân Do thái trở về đất
nước sau thời gian bị lưu đày. Họ cũng đã dùng
mười hai con dê đực để làm lễ tạ tội (Er
8:36). Như chúng ta đã quan sát trong Cựu ước, Chúa đồng
ý tha thứ lỗi lầm cho người có tội nếu họ mang tế
vật, đặc biệt là con dê, đến trước bàn thờ
Chúa để các vị tư tế sát tế nó. Máu chiên, bò,
và dê đã trở thành biểu tượng và dấu ấn giữa
Chúa và con người. Ðó là Giao Ước cũ. Nhưng máu
súc vật tự bản chất không thể xóa tội được (Dt
10:4). Chỉ có Chúa mới có quyền xóa tội được thôi.
Dân Do thái thời đó thường đã quên điều này.
Họ đã biến đổi biểu tượng và dấu ấn của máu
súc vật trở thành dấu chỉ thực tế. Ðiều đó có
nghĩa là khi nào họ phạm tội thì việc đầu tiên là
đi kiếm cho mình một con dê, rồi mang nó đến trước
bàn thờ. Vị tư tế sẽ sát tế con vật và rồi nghiễm
nhiên tội họ được tha. Sự thành thật hối lỗi và
chừa đi những tội đã phạm trong quá khứ thì không
đặt thành vấn đề. Có lẽ người Do thái thưở đó
đã mua đặc ân tha thứ từ Chúa bằng hiến lễ có
thể mua được bằng tiền bạc. Nếu như có thể làm
được như vậy, thì kẻ giàu có sẽ hiến tế con dê
cho Chúa thường xuyên, và sẽ được Chúa tha thứ
tội lỗi họ nhiều hơn sao? Ðó là điều sai lầm. Chúa
không cần chiên, bò, dê, hay bất cứ vật gì quí giá
trên trần gian này, vì tất cả đều là của Chúa, do
chính tay Ngài dựng nên. Thánh vịnh 50 nói rõ điều
này lắm: "Bò của ngươi, Ta nào có thiết; (Tv 50:9-13) Việc sát tế lễ vật cần phải đi đôi với lòng
thành và yêu thương đến từ con tim. Ðó là điều
Chúa cần, Chúa ao ước, Chúa mong đợi. Thiêu đốt
lễ vật mà không thiêu đốt con tim nhiệt huyết yêu
mến Chúa thì chỉ là giả hình. Tiên tri I-sai-a đã kết
tội những người Do thái giả hình vào thời đó qua
lời trách của Chúa. Chúa phán: "Ngần ấy hy lễ
của các ngươi, đối với Ta, nào nghĩa lý gì? Lễ
toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy. Máu
bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm!" (Is 1:11). Hình Ảnh Con Dê Trong Tân Ước Qua đến thời Tân Ước, có lẽ Mẹ Ma-ri-a và thánh
Giu-se đã hiểu được chân lý này. Khi Hài Nhi Giê-su
sinh được tám ngày, thì Mẹ Ma-ri-a và thánh Giu-se đem
con trẻ tiến dâng cho Thiên Chúa trong đền thờ, cũng
như để chịu phép cắt bì để chu toàn luật Mô-sê. Con
số tám ngày lạ lùng thay lại dính đến chuyện con dê
trong Cựu ước. Chúa đã phán với Mô-sê: "Bê,
chiên, hay dê, sau khi sinh, sẽ ở với mẹ nó bảy ngày;
từ ngày thứ tám trở đi, nó sẽ được đoái nhận
làm lễ tiến, làm lễ hỏa tế dâng Chúa" (Lv
22:27). Mẹ Ma-ri-a và thánh Giu-se đã không tiến dâng
một con dê hay con cừu, nhưng các Ngài đã tiến dâng
một đôi chim bồ câu non thể theo luật truyền dạy.
Nhưng trong khối óc và con tim các Ngài, các Ngài biết
là các Ngài đang tiến dâng cái gì lên cho Thiên Chúa.
Ðó là Ðức Giê-su, Ngôi Lời nhập thể. Hỏi chăng
có lễ tế nào cao quí hơn lễ tế ấy? Mẹ Ma-ri-a và
thánh Giu-se đã tiến dâng Thiên Chúa Con lên cho Thiên
Chúa Cha. Ðó là của lễ tinh tuyền, thơm tho, và đẹp
lòng Chúa Cha nhất. Giao Ước cũ trong Cựu ước là máu của chiên, bò,
và dê. Giao Ước mới trong Tân ước thì không dùng
máu súc vật nữa. Thay vào đó là chính máu của
Ngôi Hai Thiên Chúa, xuống thế làm người, đổ máu
mình ra để chuộc tội cho muôn dân. Trong bữa tiệc ly,
Chúa Giê-su đã lập Giao Ước mới này. Chúa cầm
lấy chén rượu, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và
nói: "Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây
là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người
được tha tội" (Mt 26:27-28). Chúa Giê-su đã
thiết lập bí tích Thánh thể vào lúc đó. Trong Thánh lễ, trước khi Linh mục chủ tế trao ban cho
chúng ta nhận lãnh Mình và Máu Chúa, vị chủ tế lập
lại lời của thánh Gioan Tẩy giả khi ông tuyên xưng
về thiên tính của Chúa Giê-su: "Ðây Chiên
Thiên Chúa, đây Ðấng xóa tội trần gian" (Ga
1:29). Tình cờ tôi đọc được một bài giảng thật hay
chủ đề về Chiên Thiên Chúa của Ðức Cha Giu-se Ngô
Quang Kiệt do Sơ Tê-rê-sa Phan Thị Hợi sưu tầm. Ðức
Cha đã nói như thế này: "Bản tiếng Việt dịch
là Chiên Thiên Chúa, Ðấng xóa tội trần gian. Từ
xóa là một cách nói văn hoa nhẹ nhàng, nhưng không
lột hết ý nghĩa của nguyên ngữ. Tiếng Hy Lạp dùng
từ "Airein," tiếng Latin dùng từ "Tollit"
có nghĩa là nhận lấy vào mình, gánh lấy, vác lấy.
"Xóa" có nghĩa là đứng ngoài cuộc. Có lẽ
nên dịch là Ðấng "gánh" tội trần gian thì
đúng hơn. Vì Chúa Giê-su không đứng ngoài cuộc.
Người đã nhập cuộc, gánh lấy thân phận con người
và nhất là gánh lấy tội lỗi loài người. Chính vì
gánh lấy tội lỗi mà Người là Ðấng hoàn toàn trong
sạch, vô tội, đã chịu hạ mình xếp hàng giữa những
người tội lỗi xin Gioan rửa tội. Chính vì gánh lấy
tội lỗi nhân loại mà Người lui tới với những
người tội lỗi, chuyện trò ăn uống với họ cùng
một bàn. Nhất là chính vì gánh lấy tội lỗi mà
Người đã phải chịu chết giữa hai tội phạm, đồng
số phận với họ, đồng bản án với họ như những
người trộm cướp." (1) Tôi muốn mượn lời giảng đẹp đẽ của Ðức Cha
Giu-se Ngô Quang Kiệt để liên hệ hình ảnh Chúa Giê-su
với hai con dê được dùng trong lễ xá tội của
người Do thái xưa. Như "con dê gánh tội,"
mà bản thân nó thì vô tội, phải gánh mọi tội lỗi
của cộng đồng Do thái mà bị dẫn vào sa mạc, thì
Chúa Giê-su cũng đã gánh muôn tội lỗi của trần gian
vào mình Ngài, chơ vơ giữa một thế giới "sa
mạc vô tình và hờ hững" của con người. Như
"con dê gánh tội" đã sống trong đói
khát và sợ hãi, thì Chúa Giê-su cũng đã cảm thấy
"hãi hùng xao xuyến" (Mc 14:33-34) trong vườn
Ghết-sê-ma-ni, và cũng đã "khát" khi
Ngài quằn quại trên cây thập tự cho đến nỗi Ngài
đã rên rỉ kêu lên: "Ta khát" (Ga 19:28)
Như "con dê gánh tội" phải ở giữa loài
thú dữ dằn, thì trên thánh giá, Chúa Giê-su cũng
đang bị bao quanh bởi lũ lính La mã hung hăng dữ tợn
và đám dân thành Giê-ru-sa-lem khát máu, la hét rợn
rùng. Như "con dê gánh tội" bị phanh thây
nơi hàm một con sư tử hay một bầy sói, thì thân thể
Chúa Giê-su cũng bị xé nát bởi roi đòn, bởi mão
gai, bởi lỗ đinh chân tay, và bởi lưỡi đòng đâm
xuyên qua lồng ngực Ngài. Nhưng không giống như máu "con dê tạ tội"
(con dê thứ nhất) bị sát tế nơi bàn thờ để lấy
máu mà thanh tẩy cộng đồng, và máu ấy và nghi lễ
sát tế ấy phải lập đi lập lại mãi, nhưng Chúa
Giê-su, ngược lại, "đã vào cung thánh không
phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu
của mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh
được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta" (Dt
8:12). Không giống như "con dê tạ tội", sau
khi chết, bị thiêu hủy ra tro bụi nơi ngoài trại xa,
thân thể Chúa Giê-su, ngược lại, đã phục sinh vinh
hiển, lên trời trong vinh quang, và ngự bên hữu Cha
Ngài. Kết Luận Trong văn chương và trong văn hóa Việt nam, hình ảnh
con dê thường bị nhìn dưới một khía cạnh châm biếm.
Vì con dê đực có khả năng truyền giống rất mạnh,
nên người ta thường ví những ông có máu thích lang
chạ trong vấn đề tình ái và tình dục với biệt hiệu
"ông dê xồm." Bởi vậy nên tục ngữ
Việt nam có câu: Bươm bướm mà đậu cành bông Ðã dê con chị, lại bồng con em Những "ông dê xồm" này bị người
đời coi khinh, vì họ không theo khuôn phép thuần phong
mỹ tục. Cho nên tục ngữ Việt nam mỉa mai những
người này như sau: Phượng hoàng đậu nhánh sa kê Ông thần ổng hổng vật mấy thằng dê cho rồi. Có lẽ chúng ta, những người Việt nam, không nhiều
thì ít đã thấm cái hình ảnh mỉa mai của con dê. Nhưng
như chúng ta đã quan sát, Kinh thánh Cựu ước lại
diễn tả hình ảnh con dê thật đáng thương và đáng
tội nghiệp. Nó được mô tả như một tiền ảnh của
Chúa Giê-su, Ðấng đã gánh, đã vác hết mọi tội
lỗi thế gian vào mình, và đã chịu chết đền thay cho
tội lỗi chúng ta. Trong tâm tình đầu năm con dê, tôi muốn chia sẻ
với bạn đọc một vài tâm tư khiêm nhường. Theo suy
diễn của tôi, tôi không nghĩ Mẹ Ma-ri-a và thánh Giu-se
quá nghèo đến nỗi không thể tiến dâng một con cừu
hay một con dê vào đền thờ, bởi vì một trong ba vị
đạo sĩ phương đông đã dâng lễ vật là vàng lên
cho Chúa Hài Ðồng Giê-su không lâu trước đó. Nhưng
tôi thiết nghĩ, Mẹ Ma-ri-a và thánh Giu-se đã ý thức
được Chúa Giê-su là của lễ thánh thiện và đẹp
đẽ nhất mà các Ngài hãnh diện và hân hoan tiến
dâng lên cho Thiên Chúa Cha. Rồi trong khi các Ngài tiến
vào đền thờ Giê-ru-sa-lem, các Ngài đã dùng tiền
tương xứng với một con dê, hay hơn nữa, mà bố thí
cho những người ăn xin và tật nguyền trong đền thờ.
Chúng ta cũng hãy bắt chước như Mẹ Ma-ri-a và thánh
Giu-se tiến vào nhà thờ Chúa với một Chúa Giê-su
trong tâm hồn ta để dâng lên cho Thiên Chúa Cha. Ðây
chỉ là những suy diễn đơn sơ nhưng ý của tôi muốn
nói là chúng ta cũng hãy bắt chước các Ngài bố
thí cho những người bất hạnh, nghèo khổ, và tật
nguyền trong giáo xứ, trong đất nước, và trên thế
giới. Rồi khi chúng ta vào nhà thờ, nghiêm trang nhìn
lên tượng Chúa chịu nạn trên Thánh giá. Một Giê-su,
Ngôi Hai Thiên Chúa làm người, đang gánh, đang vác
lấy tội tôi, tội chúng ta, tội của toàn thể nhân
loại. Trong khi mắt nhìn lên tượng Chúa, miệng chúng ta
thầm thĩ cầu nguyện theo tinh thần của một bài hát:
"Máu chiên bò Chúa không ưng, của lễ toàn
thiêu Chúa không nhận, thì này con đến để làm theo
ý Cha." Ghi chú Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |