Trong việc chọn lọc những câu hỏi, chúng tôi cố gắng lưu ý đến nhiều phương diện khác nhau của ‘lẽ đạo’, nhất là những vấn nạn liên quan đến luân lý, là phương diện bức xúc nhất trong đời sống Kitô hữu ngày nay. Ðể trả lời những thắc mắc, quan điểm của chúng tôi được đặt trên căn bản là Lời Chúa, Truyền Thống và Huấn Quyền của Giáo Hội. Quan điểm ấy cũng cố gắng kết hợp giữa suy tư thần học và thực tế mục vụ.

Ðương nhiên, trong khuôn khổ nhất định của đề mục này, những giải đáp của chúng tôi không thể bao gồm tường tận mọi chi tiết. Vì thế, ngoài mục đích chính là cống hiến những hiểu biết căn bản để giải tỏa những băn khoăn, hy vọng những giải đáp này cũng gợi ý và động viên sựï chú tâm tìm hiểu kỹ càng những bài nghiên cứu hệ thống hơn.

Mục ‘Hiểu Ðạo - Sống Ðạo’ mong ước được trở nên người bạn đồng hành để chia sẻ với Quý Ðọc Giả những băn khoăn trong hành trình Ðức Tin hằng ngày. Mọi thắc mắc liên quan đến việc tìm hiểu để sống đạo, xin Quý Vị vui lòng gởi về cho chúng tôi qua tòa soạn ÐMHCG.

Back to Top Back to Top


‘Học thuyết xã hội Công giáo’

Hỏi: Là một tín hữu công giáo sinh hoạt trong các đoàn thể công giáo tiến hành cũng như tham gia các hoạt động trong phong trào giáo dân, con thường nghe nói nhiều đến ‘Học thuyết xã hội Công giáo’. Thú thực, con không hiểu rõ lắm ‘Học thuyết xã hội Công giáo’ là gì? Nội dung của học thuyết ấy ra sao? Xin cha vui lòng giải thích.

(T. Lê, Orange County, CA).

Ðáp: Cụm từ ‘Học thuyết xã hội Công giáo’ (Catholic social teaching) hay ‘Giáo huấn Công giáo về xã hội’ (Catholic social doctrine), ý chỉ những suy tư, huấn dụ của Hội thánh về những vấn đề luân lý liên quan đến tổ chức của xã hội trần thế. Xã hội trần thế ở đây được nhìn dưới những mức độ khác nhau như quốc gia, vùng hoặc châu lục, quốc tế. Các vấn đề này bao gồm nhiều thực tại trong xã hội con người như kinh tế, chính trị, pháp luật, lao động, chiến tranh và hòa bình, v.v.

Những suy tư và giáo huấn nầy đã bắt đầu từ lâu, khi Giáo hội ý thức rằng, trong một xã hội ngày càng phát triển với nhiều tổ chức phức tạp, người tín hữu cần được hướng dẫn để biết đối diện, ứng xử cách đúng đắn trước những thực tại trần thế; biết trở nên người công dân Công giáo tốt và đồng thời cũng trung thành với sứ mạng nền tảng của ơn gọi kitô hữu, nghĩa là, thánh hóa môi trường sống của mình nơi xã hội trần thế. Nhưng trong thế kỷ vừa qua, những suy tư ấy đã được nhấn mạnh và trình bày cách hệ thống hơn, qua giáo huấn của các Ðức giáo hoàng.

Ðức giáo hoàng Gioan XXIII là người đã thâu tóm và trình bày cách mạch lạc, rõ ràng nhất về nội dung và nguyên tắc căn bản của ‘Giáo huấn’ hay ‘Học thuyết công giáo về xã hội’ trong Tông thư ‘Mater et Magistra’ - Mẹ và Thầy Dạy (1961). Trong đó, ngài nói rằng "...tất cả mọi phương diện trong đời sống kinh tế xã hội phải được tổ chức sao để tránh tình trạng trục lợi cho cá nhân hay nhóm phái, lũng đoạn, tham nhũng, độc tài tư bản, hay những mục đích tương tự. Trái lại, sinh hoạt kinh tế trong xã hội phải dựa trên nền tảng là sự công bằng và bác ái xã hội". Cũng vậy, "...mọi tổ chức chính trị, xã hội (chính quyền, an sinh, giáo dục, vv.) phải nhằm thực thi, trong sự công chính xã hội, một nền pháp trị quốc gia và quốc tế...vì lợi ích chung của mọi người". Sau tông thư ‘Mẹ và Thầy Dạy’, cũng có các tông thư quan trọng khác phản ảnh giáo huấn Công giáo về những vấn đề xã hội như ‘Pacem in Terris - Bình an dưới thế’ (Gioan XXIII, 1963), ‘Populorum Progressio - Sự phát triển các dân tộc’ (Phaolô VI, 1967), ‘Laborem Exercens - Lao động của con người’ (Gioan Phaolô II, 1981), ‘Sollicitudo Rei Socialis - Quan tâm về những thực tại xã hội’ (G.P. II, 1987), ‘Centesimus Annus - Ðệ bách chu niên’ (G.P. II 1991).

Ngoài các tông thư của các Ðức giáo hoàng, những huấn dụ của các Ðại Công Nghị Giám mục toàn cầu (ví dụ Ðại Công nghị với chủ đề ‘Justitia in Mundo - Công lý trên thế giới’, họp tại Roma, năm 1971), những tuyên ngôn của các Hội đồng Giám mục châu lục, vùng, và quốc gia, liên quan đến các vấn đề chính trị, xã hội, cũng góp phần rất quan trọng cho việc hệ thống hóa và quảng bá ‘Học thuyết Công giáo về Xã hội’.

Back to Top Back to Top


Ðám Cưới Di Trú’

Hỏi: Con có câu hỏi này liên quan đến một cuộc hôn nhân bất chánh, mong cha cho ý kiến. Anh con định làm mai cho con để kết hôn với một người bên Việt nam, hầu bảo lãnh (qua Mỹ) vì tương lai cô ấy. Theo cha, con nên nghĩ và làm thế nào? 

(Một độc giả)

Ðáp: Việc này có thể được suy xét dưới nhiều phương diện. Ở đây, ý kiến của chúng tôi chỉ tập trung về phương diện luân lý đạo công giáo. Hy vọng chia sẻ sau đây cũng là một gợi ý giúp chúng ta suy nghĩ về thái độ mà người công giáo cần phải có đối với những vấn đề luân lý khác trong đời sống xã hội (an sinh, thuế vụ, giáo dục, v,v).

Giáo huấn công giáo dạy rằng, người tín hữu Kitô sống trong xã hội cần phải tôn trọng công quyền và tuân hành luật pháp nếu đó là luật pháp công chính (Giáo Lý Công Giáo, # 1990, 1916). Theo ý kiến của nhà luân lý lớn trong Giáo hội là Thánh Tôma Aquinô, luật pháp công chính là những lề luật nhằm xây dựng và bảo vệ công ích xã hội (như hòa bình, công bằng, tương trọng). Khi mang tính cách công chính như thế, công quyền và luật pháp xã hội (Human Law) phản ảnh ý định của Thiên Chúa và các lề luật vĩnh hằng của Ngài (Divine Law), và do đó, nó có thể là phương tiện gián tiếp cho việc cứu rỗi con người. (Tổng-luận Thần-học I-II, đề 96, điều 4-6).

Dựa theo các Thánh thư (Do thái 13:17; 1 Phêrô 2:13-14; Titô 3:1), nhất là giáo huấn của Thánh Phaolô rằng "Mọi công dân phải tuân phục công quyền vì đó là do Thiên Chúa thiết định" (Rm 13:1), Thánh Tôma nói rằng sự tôn trọng công quyền và tuân hành pháp luật công chính là một nhân đức xã hội. Nhân đức này liên hệ chặt chẽ với Ðức Công Bằng và Ðức Bác Ái chung. Nhân đức này cũng gián tiếp liên quan đến lòng kính sợ Chúa là Ðấng cắt đặt trật tự trong xã hội loài người (TLTH, II-II, đề 104, điều 2,3,6).

Ðặc biệt, Thánh Tôma cũng xác định (trong TLTH, II-II, đề 105, điều 1) rằng sự bất tuân luật pháp công chính là tội, và đó là tội trọng. Vì hành động ấy phá hoại công lý, bác ái xã hội, và phản nghịch với ý định tốt đẹp của Thiên Chúa. Thánh Phaolô tuyên bố:"Ai chống đối luật pháp công quyền là phản nghịch chương trình Thiên Chúa thiết định. Kẻ ấy sẽ phải chuốc lấy án phạt cho mình!" (Rm 13:2). Sự bất tuân này có thể ẩn dưới một dạng cụ thể là lừa gạt công quyền và gian lận với luật pháp qua việc ngụy-thệ (Perjure - Thề gian). Và như thế ngụy-thệ cũng là tội, và là tội trọng (TLTH II-II, đề 98, điều 1-2).

Suy tư trên đây để xác định rằng, làm hôn thú để di trú (hoặc mọi hình thức gian dối trong việc khai thuế, xin trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm sức khỏe, phúc lợi xã hội, v.v) là một việc không đúng, xét theo lương tâm công giáo. Ðó là một điều xấu, xét theo phương diện luân lý xã hội.

Ngoài ra, ‘hôn nhân di trú’ còn liên quan đến một vấn đề luân lý cá nhân nữa. Hôn nhân là một thực tại được Thiên Chúa thiết lập với mục đích thánh thiện. Không thể dùng cơ chế hôn nhân như một phương tiện để thực hiện mục đích khác, nhất là lợi ích cá nhân. Xét theo nghĩa này, việc kết hôn ‘để được di trú’ cũng không khác gì kết hôn ‘vì bằng cấp’, ‘vì tiền của’, v.v.:tất cả đều nhằm quyền lợi cá nhân mà tầm thường hóa ý nghĩa thiêng liêng của hôn nhân.

Trong quá trình mục vụ, chúng tôi biết có những người trước đây đã làm ‘hôn nhân di trú’, sau này ‘hôn nhân thật’ và đời sống gia đình của họ gặp rất nhiều vấn đề. Việc kết hôn và ly dị của ‘hôn nhân di trú’ trước dù sao cũng gây nên những hậu quả tâm lý (và pháp lý) có thể làm khó khăn cho hạnh phúc trong đời hôn nhân và gia đình thật.

Tóm lại, anh đã cảm thấy và đã nói rất đúng, rằng đây là một cuộc hôn nhân bất chánh. Hãy nghe theo tiếng nói của lương tâm anh trong trường hợp này, và đừng nên dấn thân vào ‘hôn nhân di trú’ ấy.

Back to Top Back to Top


Ơn Toàn Xá - Tiểu Xá?

Hỏi: Xin cha giải nghĩa về Ơn Ðại Xá, Tiểu Xá và điều kiện để lãnh nhận. Tại sao phải cần các ơn ấy? Việc xin các ơn ấy có tính cách câu nệ hình thức hoặc ‘thương mại’ sự thánh không?

 (T. N., WA)

Ðáp: Ðể hiểu về ý nghĩa và sự cần thiết của Ân xá, cần phải hiểu ý nghĩa của tội và bí tích giải tội. Theo Kinh thánh, tội lỗi không chỉ là một hành động bên ngoài; nó còn là quyền lực của sự dữ làm cho con người phản nghịch với tình thương của Thiên Chúa (Sáng thế ký 3). Phúc âm Nhất lãm nói rằng quyền lực tà thần ấy có thể chi phối, làm cho tâm hồn con người bị băng hoại, mù quáng, từ chối Ơn cứu độ. Phúc âm Gioan gọi sự bị chi phối và mù quáng ấy là ‘Anomia’, nghĩa là tình trạng ‘thù nghịch’, đối kháng với Thiên Chúa từ trong tâm tư. Và thánh Phaolô thì phân biệt giữa hành động tội (Paraptomata) và nguồn mạch, động lực, hay quyền lực của tội (Hamartia). ‘Paraptomata’ chỉ là biểu lộ bên ngoài của ‘Hamartia’, quyền lực mà tà thần chi phối trong tâm hồn.

Vậy trong bí tích giải tội, có 3 công việc quan trọng phải thực hiện: Ăn năn, Xét tội - Xưng thú tội - Làm việc đền tội. Ðền tội thường bao gồm việc cầu nguyện và thi hành việc lành. Mục đích chính của việc đền tội là, qua cầu nguyện, ta xin ơn trợ giúp của Thiên chúa để khử trừ, phá bỏ ảnh hưởng của tà thần và khuynh hướng tội trong ta; và qua việc lành thi hành, ta cải đổi thói quen xấu của tội, đồng thời đền bù lại những hậu quả tai hại do việc tội gây ra (ví dụ thiệt hại của cải, danh dự cho tha nhân, bất hòa, hờn ghét, v.v.). Ta có thể ví việc đền tội trong bí tích giải tội như việc uống thuốc trong tiến trình chữa trị bệnh-. Bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh, trị liệu và mong muốn cho bệnh nhân được lành. Nhưng nếu bệnh nhân không uống thuốc và theo lời khuyên nhủ của bác sĩ thì sẽ không thể khỏi bệnh. Cũng vậy, qua bí tích hòa giải, Thiên chúa yêu thương, sẵn sàng tha thứ tội lỗi và mong muốn cho linh hồn ta được ta được mạnh mẽ. Nhưng nếu ta không muốn cầu nguyện, làm việc lành thánh, cải thiện đời sống thì mặc dù việc tội được tha nhưng nguồn mạch tội lỗi vẫn còn, quyền lực sự dữ vẫn chi phối xâu đậm trong tâm hồn; và như thế, linh hồn ta vẫn luôn yếu nhược, tái phạm dễ dàng. Vì thế, việc đền tội là một việc cần thiết và là một điều kiện để bí tích giải tội thành sự.

Trong thực tế, làm việc đền tội sao cho thỏa đáng để đền bù trọn vẹn những hậu quả của HÀNH ÐỘNG TỘI đã là khó. Làm việc đền tội để khử trừ hoàn toàn QUYỀN LỰC TỘI còn khó khăn hơn nhiều. Trong nghĩa này, có thể nói, một cá nhân không thể nào thực hiện việc đền tội một cách toàn hỏa, trọn vẹn, bằng chính khả năng cá nhân mình. Vì thế, mặc dầu đã xưng tội, cái ‘nợ’ và sự ‘phạt vạ’ của tội ít nhiều vẫn còn đó. Theo giáo lý công giáo, thời gian của luyện ngục là cơ hội sau cùng để ‘giải quyết’ những nợ vạ này, để thanh luyện cho hết mọi ảnh hưởng của quyền lực tội lỗi, trước khi xứng đáng tiến vào tình trạng kết hợp trọn vẹn với Thiên chúa là Ðấng Tinh tuyền, Chí thánh. (GLCG. # 1473)

Ơn riêng Chúa ban nhằm vào việc giải tỏa những nợ vạ và ảnh hưởng của tội được gọi là Ân xá (Indulgence). Giáo hội tin rằng Ân xá này được ban qua mầu nhiệm hiệp thông với ‘kho’ thánh thiện và lời cầu nguyện của các Thánh và của Giáo hội. Ân xá có thể được ban cho các tín hữu còn sống và các linh hồn trong luyên ngục. Ơn Toàn xá hay Ðại xá (Plenary Indulgence) là ơn tha toàn vẹn mọi nợ vạ của những tội từ trước cho đến khi lãnh ơn này. Ơn Tiểu xá (Partial Indulgence) là ơn tha phần nào những nợ vạ của những tội ấy. (GLCG. # 1471-1478; 1498). Cũng nên biết, Giáo luật công giáo xác định rằng Ân xá (dù là Toàn xá hay Tiểu xá): a) Chỉ nhằm tha những nợ vạ mà thôi; không nhằm tha chính việc tội (là điều chỉ được tha qua tòa giải tội); b) Chỉ cứu gỡ những nợ vạ phải trả đời này và trong luyện ngục mà thôi (temporal punishment); không nhằm thay đổi án phạt đời đời trong hỏa ngục (eternal punishment), là nơi đã chịu sự phán xét sau cùng (Giáo luật # 992-997).

Trong lịch sử Giáo hội, quả thật đã có những lúc việc lãnh nhận Ân xá mang tính cách ‘đổi chác’ và máy móc. Ví dụ, trong thời Thánh chiến, dưới triều đại Ðức giáo hoàng Urbanô II (1088-1099), những Kitô tự nguyện tòng quân vào Ðạo binh Thánh giá và đi chinh chiến sẽ được ban Ơn Toàn xá khi lâm tử. Những Kitô hữu không tòng quân được có thể chia sẻ ‘công nghiệp ân xá’ của các chiến sĩ thánh binh qua việc công đức tiền bạc. Tuy nhiên, từ sau Công đồng Vatican II, Giáo hội muốn chấn chỉnh ý nghĩa thần học và thực hành của vấn đề Ân xá. Các nghị phụ Công đồng yêu cầu trở lại mục đích nguyên thủy của việc xin và ban Ân xá trong Giáo hội. Ðó là, qua sự thông hiệp với các Thánh, và qua việc lành, bác ái hằng ngày, các tín hữu Kitô nỗ lực hoán cải đời sống để xứng đáng được Chúa tha bỏ cho mọi phạt vạ do tội lỗi.

Trong tinh thần canh tân của Vatican II, vào năm 1967, Ðức giáo hoàng Phaolô VI ra sắc chỉ ‘Gíao Huấn về Ân xá’ (Indulgentiarum Doctrina). Trong đó ngài quy định rằng điều kiện để lãnh nhận Ơn Toàn Xá gồm: -Sạch mọi tội trọng và nhẹ (nghĩa là phải xưng tội trước); -Rước Mình Thánh Chúa; -Làm một việc lành phúc đức; -Ðọc một kinh Lạy Cha, Kính Mừng để cầu nguyện theo ý Ðức giáo hoàng; -Và có thiện chí chia sẻ Ân xá ấy cho các đẳng linh hồn. Vào năm 1968, qua sắc chỉ ‘Enchiridion Indulgentarium’, ngài lại định rõ 70 điều có thể được coi là những việc lành phúc đức. Trong những điều ấy, căn bản vẫn là cầu nguyện và làm việc bác ái.

Back to Top Back to Top


Tổ Chức Nước Vatican

Hỏi: Là tín hữu công giáo và ‘công dân tinh thần’ của Nước Vatican, mà khi đi hành hương, thăm viếng tại đó, chúng con không hiểu biết gì lắm về ‘quê hương tinh thần’ này. Xin cha cắt nghĩa một vài nét về lãnh thổ, sinh hoạt, tổ chức hành chánh, v.v.? 

(Lâm T., L.A.)

Ðáp: Giáo hội Công giáo, theo nghĩa thiêng liêng, là cộng đồng ‘Dân Chúa’ trên khắp thế giới. Theo phương diện trần gian, Giáo hội ấy cũng là một quốc gia, nước Vatican. Quốc gia Vatican ngày nay được thiết lập kể từ Hiệp định Latran năm 1929, ký kết giữa Ðức giáo hoàng Piô XI và quốc vương Ý. Về mặt địa lý, đây là một quốc gia nhỏ bé nhất thế giới (khoảng 40 hecta), bao gồm trung tâm là Ðền Thánh Phêrô, các dinh thự hành chánh, cư trú, v.v., bên trong bức tường cổ, và một số đền thánh, cơ sở bên ngoài bức tường ấy. Về mặt pháp lý, Vatican có độc lập và chủ quyền riêng, có hệ thống tiền tệ, quân đội, bưu điện biệt lập, và có cả ...một vị ‘tổng thống hiền nhất’ là Ðức Thánh Cha, vì đoàn quân của ngài (Swiss Guard) ít ỏi, mặc đồ đẹp, không hiếu chiến nhưng lại hay giúp đỡ. Về mặt hành chánh, ‘chính phủ’ Vatican, hay còn gọi là Giáo triều Roma (Curia Romana), có một hệ thống tổ chức đặc biệt mà mục đích chính là phục vụ thiêng liêng hơn là chính trị trần thế.

Chung chung, hệ thống hành chánh của Giáo triều Roma được tổ chức như sau:

- Ðứng đầu với tính cách Quốc trưởng và Giáo chủ là Ðức Thánh Cha. Trực tiếp dưới Ngài là Trung Ương Bí Thư Bộ, gồm Văn phòng Nội Vụ (đặc trách về các tổ chức và công việc nội bộ Giáo hội) và Văn Phòng Ngoại Giao hay Quốc Vụ Khanh (đặc trách về tương quan, công vụ của Giáo hội đối với quốc tế).

- 3 Tòa Án: Tòa Ân giải Tối cao (đặc trách về các vấn đề lương tâm và Ân xá); Tòa Kháng án Trung Ương (còn gọi là Roman Rota - đặc trách về việc duyệt xét các quyết định của các toà án địa phận, nhất là liên quan đến vấn đề hôn phối); Tòa Thượng thẩm hoặc Tối cao Pháp viện (đặc trách về công lý và điều hợp giữa các phân bộ trong giáo triều).

- 9 Thánh Bộ (Dicasteries), dưới sự điều khiển của các Hồng y Bộ trưởng, đặc trách về những phạm trù khác nhau trong Giáo hội. Ðó là các Thánh bộ Giáo Lý Ðức Tin, Phong Thánh, Giáo hội Ðông phương, Ðặc trách Giám mục, Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Rao giảng Phúc Âm và Truyền Bá Ðức Tin, Tu sỹ, Giáo sỹ, và Giáo dục Công giáo. Ngày xưa, số các thánh bộ ít hơn, và công việc chỉ liên quan đến địa phận mẹ là Rôma. Vì thế, các vị thánh bộ trưởng phải thuộc về địa phận mẹ Roma, và thường được gọi là các ‘Hoàng tử của Giáo hội’ (Principes Ecclesiae). Kể từ thời Ðức Phaolô VI, với khuynh hướng mở rộng, các chức thánh bộ trưởng và các chức vị khác trong Giáo triều cũng được trao cho nhiều vị từ các quốc gia ngoài Ý.

- 12 Hội Ðồng Giáo Hoàng (Pontifical Councils), đặc trách về những vấn đề như ‘Công Lý và Hòa Bình’ (Ðức cố Hồng y P.X. Nguyễn Văn Thuận đã được đặt để ở chức vị này, và là người Việt nam đầu tiên cao cấp nhất trong Giáo triều Roma), ‘Giáo dân’, ‘Gia đình’, ‘Di dân Mục vụ’, ‘Truyền thông xã hội’, ‘Hiệp nhất Kitô hữu’, ‘Ðồng tâm’, ‘Văn hóa’, ‘Ðối thoại Liên tôn’, ‘Ðối thoại với người vô thần’, ‘Mục vụ Y tế’, ‘Giải thích Văn bản Pháp luật’.

- Ngoài ra còn có các Văn phòng (Offices) chuyên lo về quản trị tài chánh, chăm lo văn khố, sắp xếp nghi lễ, v.v.; các Ủy ban (Commissions - Committees) về Thần học, Thánh kinh, Lịch sử, Khảo cổ thánh, Ðại hội Thánh thể quốc tế, v.v; và các Cơ quan (Institutions) Truyền thanh (Vatican Radio), Truyền hình (Vatican Television), Báo chí (Osservatore Romano), Nhà Xuất bản, Viện Khoa học, v.v.

Back to Top Back to Top


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com