KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICAN II (Kỳ 5) Lm. Vũ Khởi Phụng, C.Ss.R. Trong thế kỷ 19, sự phát triển mau chóng của công
nghiệp, kỹ nghệ làm thay đổi nếp sống và các mối
tương quan xã hội. Giai cấp công nhân hình thành.
Người lao động bị bóc lột, đưa tới bất ổn xã
hội nghiêm trọng. Vấn đề công bình xã hội cần phải
được đặt lại vì cơ sở vật chất và các mối
tương quan kinh tế đã thay đổi. Phải nhìn nhận người
Công Giáo đã chậm chân trong lãnh vực này. Tuy có
một số người đại độ lao vào nghiên cứu và đề
nghị giải pháp, nhưng Giáo Hội nói chung và Giáo Quyền
nói riêng, đã thiếu nhạy cảm trước một thực tại
sẽ chi phối tương lai lâu dài. Hạ bán thế kỷ 19,
những người xông xáo nhất ở Châu Âu đã đấu
tranh cho các công nhân bị bóc lột, tiếc thay, lại là
những người vô thần, và trong số những người ấy
nổi lên gương mặt của Karl Marx. Sự thể này sẽ để
lại nhiều di lụy đau đớn cho Giáo Hội. Ðức Giáo
Hoàng Lê-ô 13 tạo ra đột phá cho thế bí này với
Thông Ðiệp Rerum Novarum (1891) về các vấn đề xã hội.
Nhờ sự mở đường này, các tín hữu Công Giáo
ở Tây Âu đã góp phần đáng kể tạo ra xã hội
hiện đại và làm sáng tỏ các giá trị Ki-tô giáo. Từ ngày về làm thư ký cho Ðức Cha Radini, cha
Roncalli được tiếp xúc với nhiều chiến sĩ xã hội.
Giáo Phận Bergamo là nơi tích cực học tập và hưởng
ứng Thông Ðiệp Rerum Novarum. Mùa Thu 1909, tám
trăm công nhân nhà máy dệt ở Ranica, gần Bergamo,
thành lập "Liên Minh Công Nhân". Ban giám đốc
nhà máy phản ứng bằng cách sa thải phó chủ tịch
Liên Minh, và giảm giờ làm việc. Toàn thể công nhân
liền đình công. Họ đòi nhà máy phải thu nhận lại
vô điều kiện người phó chủ tịch, tăng lương và
ký hợp đồng minh bạch với công nhân. Cuộc đình
công kéo dài 50 ngày từ 21.9 đến 8.11 năm 1909. Chỉ đình công có nửa tháng là các gia đình công
nhân đã lâm cảnh thiếu thốn. Ðình công một tháng
thì trắng tay. Tờ báo Công Giáo "Eco di Bergamo",
rất thân cận với Tòa Giám Mục, quyết định mở lạc
quyên để ủng hộ các công nhân đình công. Ðức Cha
Radini liền tỏ rõ lập trường. Ngài là người đầu
tiên đăng ký đóng góp, số tiền là 500 lira. Ngay hôm
sau, tờ báo bảo thủ miền Lombardia, "Perseveranza"
đăng bài đả kích dữ dội vị Giám Mục và tố cáo
ngài "thiên vị": "Dâng cúng như vậy là
phong thánh cho vụ đình công, là ra mặt ủng hộ một
chế độ hiển nhiên là xã hội chủ nghĩa!" Ðây
đó phe bảo thủ làm ầm ĩ chuyện này. Thậm chí ở
Vatican cũng có người tỏ thái độ ác cảm. Trong dịp này, Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 10 đã thẳng
thắn bênh vực Ðức Cha Radini. Giữa lúc đình công
còn đang tiếp diễn, ngài viết cho Ðức Cha một bức
thư: "Tôi không thể phi bác những điều mà
Ðức Cha, với tất cả sự thận trọng, đã nghĩ là
cần phải làm, vì Ðức Cha biết rõ địa phương, biết
người, biết hoàn cảnh..." Lá thư của Ðức Giáo Hoàng làm cho những người
chống đối Ðức Cha Radini phải im tiếng. Mà nào Ðức
Cha Radini có "đỏ", có cấp tiến gì đâu cho cam.
Có thể đặt Ðức Cha, cũng như Ðức Lê-ô 13 vào
số những người bảo thủ sáng suốt, tức là những
người hiểu rất rõ phần hồn của những gì là tốt
trong những cái cũ, và vì thế mà có khả năng "ứng
vạn biến", mở ra cái mới để tiếp nối cái
phần hồn tốt lành đó, trong khi những người thủ
cựu chỉ biết bám lấy những lề thói, những công
thức sáo mòn, còn cái vỏ những hết sức sống rồi. 17 năm sau Thông Ðiệp Rerum Novarum, Ðức Cha
Roncalli chỉ ứng dụng những chỉ đạo của Ðức Lê-ô
13. Nhưng vụ việc cũng cho thấy 17 năm vẫn chưa đủ
để xói mòn những thách đố trì trệ và những lực
cản trong Giáo Hội. Nói chung, cuộc sống trong Giáo Hội
vẫn là một tiến bước nhẫn nại kiên trì. Giáo Hội
không ưa đảo lộn, không thích coi thường hạ bệ
người cũ, chỉ thích làm dòng suối nước chảy đá
mòn, dù có lúc dòng suối cũng oằn oại, sủi tăm,
biến thành thác lũ. Như vậy có chậm chạp quá, có
thủ phận quá chăng? Hay là nhờ thế mà tránh được
nhiều điều bi thảm thường không thể tránh trong
những khi "cách mạng". Vấn đề vẫn cần phải
đặt ra cho Dân Chúa lựa chọn đường mình đi, ở
mỗi tình huống cụ thể... Ðến tháng 11, cuộc đình công Ranica đã chấm dứt.
Cha Roncalli viết một bài dài về vụ này, đăng trong
tờ nội san "Sinh Hoạt Giáo Phận" (Vita Diocesana).
Ðại để cha viết rằng hiển nhiên ta phải tìm kiếm
sự an bình trong sinh hoạt và trong xã hội. Và một trong
những nhiệm vụ hàng đầu của Linh Mục là rao giảng
hòa bình. Nhưng khi những quyền của con người bị đe
dọa thì đình công là điều chính đáng. Chức năng
của Linh Mục không phải là đích thân trực tiếp tham
gia vào hoạt động xã hội. Nhưng Linh Mục phải dứt
khoát bênh vực các tổ chức do nhu cầu nghề nghiệp. Bảy năm sau, cha Roncalli còn trở lại vấn đề này
như sau: "Những người, kể cả những người
tốt bụng, vẫn nghĩ rằng một chính nghĩa không thể
được ủng hộ nữa, mỗi khi dùng đến một số phương
tiện có thể đưa đến những sự sa sẩy. Ðức Cha
Radini Tedeschi thì không nghĩ thế. Ở Ranica, sự được
thua không phải là chuyện lương bổng hay cá nhân, nhưng
là một nguyên lý: nguyên lý căn bản về tự do và
về sự tổ chức lao động theo tinh thần Ðạo Ki-tô,
đứng trước tổ chức hùng mạnh của tư bản. Vì lẽ
đó, đối với Ðức Giám Mục, dứt khoát đứng về
phía những người đình công là chu toàn một hành
động có tính Ki-tô cao sâu, là một công trình của
lẽ công bằng, của bác ái, và của hòa bình xã hội." Nếu xét rằng, hồi ở Chủng Viện, chủng sinh Roncalli
đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng thủ
cựu, thì lập trường của cha bây giờ cho thấy cha
đã đi một chặng khá dài vào thực tế thời đại,
dưới sự hướng dẫn của Ðức Cha Radini. Hai năm
trước cuộc đình công Ranica, Thông Ðiệp Pascendi của
Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 10 đã mở đầu cho giai đoạn gay
gắt của cuộc khủng hoảng mang tên là cuộc khủng
hoảng duy tân (modernisme, modernism). Trong lịch sử Giáo
Hội đầu thế kỷ 15, "duy tân" là tên gọi
không phải của một học thuyết nào nhất định, nhưng
là một khuynh hướng bàng bạc nổi lên trong nhiều
lãnh vực. Trào lưu duy tân xuất phát từ những bước đầu
muốn đưa những thành quả của tư duy và phương pháp
nghiên cứu cận đại vào lãnh vực Thần Học và
Giáo Hội. Triết lý duy tân cuối thế kỷ 19 cộng với
lối tiếp cận Thánh Kinh bằng khoa phê bình văn sử,
đưa đến một số lập luận không phải là không hay,
nhưng trong khí thế canh tân, có nguy cơ tác động tai
hại đến Ðức Tin, giống như khi một người chưa thạo
lái xe càng tăng tốc. Trong số những chân lý được khuynh hướng duy tân
làm nổi rõ, ta có thể kể: 1. Cảm nghiệm tôn giáo nội tâm là nhân tố cốt
yếu của đời sống tâm linh; Ðức Tin bắt nguồn và
phát xuất từ đó. 2. Những công thức tín lý không bao giờ có thể
lột tả hết được nội dung hàm chứa bên trong. 3. Mạc khải trước tiên và trên hết là để cứu
độ con người, để đưa lại cho nhân sinh một chất
lượng mới, chứ không phải là để tạo ra những
câu chữ lý thuyết. 4. Mạc khải được triển khai từ từ từng bước
trong đời sống Giáo Hội, và phải trải qua nhiều nỗi
thăng trầm. 5. Kinh Thánh, cũng như mọi nguồn của truyền thống
Ðạo Ki-tô, phải được nghiên cứu bằng cách ứng
dụng những phương pháp phê bình khoa học nhất mà ta
hiện có. Những điểm trên đây ngày nay được Giáo Hội
công nhận. Nhưng những chân lý này được chuyển
tải giữa những lập luận, những lối diễn tả và
những thái độ sống vàng thau lẫn lộn, có nguy cơ
làm tan biến Ðức Tin, vì: a. Cảm nghiệm tôn giáo nội tâm dẫu quan trọng vẫn
không thể tự nó làm phát sinh ra Ðạo Ki-tô được. b. Các công thức tín lý không chỉ là kết quả của
những cố gắng gọt dũa câu chữ cho sát với một
cảm nghiệm nội tâm nhất thời. Nhưng tự chúng quay
về một nội dung khách quan nhất định, không lệ thuộc
cõi nội tâm chủ quan của con người. c. Sự phát triển Tín Lý và sự hiểu biết mạc
khải không chỉ là một tiến trình thuần túy tự nhiên.
Tiến trình tự nhiên có khi soi sáng cho ta nhiều điều,
những khi khác có thể bóp méo Tin Mừng. d. Kinh Thánh và các nguồn khác làm chuẩn mực Tín
Lý không chỉ là những văn kiện lịch sử thuộc về
sử học, đó còn là những cách diễn tả, những
kết tinh của Ðức Tin chung của Giáo Hội, không thể
lãnh hội bên ngoài Ðức Tin chung đó. Nói tóm lại, nguy cơ của khuynh hướng duy tân là
giản lược Ðạo vào Ðạo nội tâm chủ quan của con
người, với tất cả những biến đổi vô chừng của
nó. Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 10 không phải là một trí tuệ
xuất chúng như vị tiền nhiệm của ngài là Ðức
Lê-ô 13. Nhưng ngài nổi tiếng vì sự nhân từ, vì
đời sống cầu nguyện và thần hiệp, vì Lòng Tin trong
sáng rực cháy như lửa hồng. Ngài biện luận nhiều,
nhưng thấy rõ rằng những lập luận nghe ra có vẻ sâu
sắc trên những tầng cao trí thức có thể đẩy Ðức
Tin đơn sơ của cộng đồng Dân Chúa vào một thể tan
loãng, bồng bềnh, mờ mịt. Thế là ngài quyết định
cắt khối u. Ba biện pháp lớn nối tiếp nhau! Sắc Lệnh Lamentabili
của Bộ Thánh Vụ năm 1907 lên án một số mệnh đề
Thần Học, được tiếp nối bởi Thông Ðiệp Pascendi
của Ðức Giáo Hoàng cũng trong năm đó. Ba năm sau,
1910, Tòa Thánh bắt tất cả các Giáo Sĩ đều phải
tuyên lời thề chống duy tân. Ngày nay, Giáo Hội phải cám ơn Ðức Pi-ô 10, vì
trong một tình thế tư tưởng chông chênh, ngài đã
tạo ra một điểm dừng cần thiết, có thể gây bất
bình cho một số nhà trí thức, nhưng Giáo Hội là toàn
Dân Chúa đang lữ hành, không thể không có thì giờ
để kiểm điểm và định hướng trước những chân
trời mới. Nói thế không có nghĩa là những biện pháp chống
duy tân của Tòa Thánh không tạo ra những khó khăn
mới. Thói đời có những người thích đánh hôi,
một khi đã có thể núp bóng Ðức Giáo Hoàng, họ
liền ra tay, không biết để thỏa những ấm ức gì. Có
thể là trong lòng họ có những dồn nén bất an nào
đó. Dù sao chỉ trong một thời gian ngắn, cả một mạng
lưới dò xét, giống như một cơ quan mật vụ, đã
thành hình. Từ chủng sinh còn ngồi trên ghế nhà
trường, đến các giáo sư trên bục giảng; từ các
vị Linh Mục trong nhiệm vụ giảng thuyết đến các vị
Giám Mục, Hồng Y, không một ai thoát khỏi sự xoi mói.
Một bầu khí nặng nề bao trùm lên Giáo Hội. Những
người danh tiếng như Ðức Hồng Y Mercier, Tổng Giám
Mục Malines (Bỉ), hay Ðức Hồng Y Ferrari, Tổng Giám Mục
Milano (Ý) đều bị theo dõi. Hồi Thế Chiến thứ nhất, quân đội Ðức chiếm
đóng nước Bỉ một lần khám nhà một luật gia ở Gand
và tịch thu một số tài liệu. Khi kiểm duyệt thì thấy
những tài liệu này không liên quan gì tới chính trị,
nhưng toàn nói chuyện tôn giáo, với nhiều bí danh,
mật mã. Họ trả lại mớ tài liệu này cho khổ chủ,
sau khi đã sao chụp để lưu giữ. Từ đó người ta
mới phát hiện là đã có cả một tổ chức bí mật,
được một Giáo Sĩ điều động từ Roma, phân nhánh
đi khắp Châu Âu. Tổ chức này mang tên Sodalitium
Pianum (Hội Ái Hữu Thánh Pi-ô 5) với bí danh La
Sapinière, chỉ chuyên theo dõi, vạch lá tìm sâu, bôi
nhọ, gây dư luận xấu, và nhiều lần ném đá giấu tay,
để làm hại bất kỳ ai mà họ nghi ngờ là có ít
nhiều hơi hướng Duy Tân. Thì ra trong Giáo Hội có một
số người nào đó có tâm trạng hoảng loạn, ám ảnh,
nhìn đâu cũng thấy anh em mình rối đạo. Và họ đã
cùng nhau tạo ra cả một bầu khí mật vụ, khủng bố tinh
thần. Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 10 có can thiệp một vài lần,
khi ngài biết chuyện. Có những anh "nhà báo Công
Giáo" bị gọi vào Vatican, phải quỳ nghe Ðức Giáo
Hoàng quở trách nặng lời và bắt đi xin lỗi những
vị Giám Mục mà họ vu khống. Nhưng đã gọi là tổ
chức bí mật thì Ðức Giáo Hoàng làm sao biết hết
được việc họ làm. Cho nên những trò đả kích công
khai lẫn lén lút vẫn đục ngầu ở khắp nơi. Nhiều vị
Hồng Y, Giám Mục phải lên tiếng cảnh báo. Ðức Cha
Mignot, Tổng Giám Mục Albi (Pháp) phải thừa nhận: "Lòng
quý mến đối với Giáo Hội đang mất dần, nhất là
nơi những nhà tư tưởng và nhà bác học", còn
trong Giáo Hội thì "những người lao động trí
thức bị mất tinh thần, họ bị tố giác, săn đuổi, hay
thóa mạ trên một số báo chí nằm trong tay của một
quyền lực ngấm ngầm"... "Các Ðại Chủng Viện,
các Học Viện của các Dòng Tu và các giới đại học
đều không thoải mái". Trong bối cảnh đó, Ðức Cha Radoni và thư ký của
ngài, cha Roncalli, không thoát khỏi sự dòm ngó.
Người của tổ chức Sodalitium Pianum ở Bergamo là
một Tu Sĩ, cha Mattiussi. Cha giảng dạy ngay trong trường
Công Tác Xã Hội (Scuola Social) do Ðức Cha Radini sáng
lập. Cha liền sử dụng bục giảng để liên tục đả
kích phái Duy Tân, phái cấp tiến, báo chí Công Giáo
vùng Lombardie, và phong trào xã hội. Kể cả Ðức Giáo
Hoàng Lê-ô 13, cha cũng không tha. Về mặt công khai,
đó là gián tiếp kết án Ðức Cha Radini và đường
lối của ngài. Còn ngấm ngầm thì đã có người tố
cáo Ðức Cha cùng với cha Roncalli lên Bộ Giáo Sĩ ở
Roma. Ðến một lúc Ðức Cha Radini chịu hết nổi. Ngài giao
cho 10 giáo sư Chủng Viện, trong đó có cha Roncalli (đang
dạy môn Giáo Sử), mổ xẻ tới nơi tới chốn các
bài diễn thuyết của cha Mattiussi và đưa ra câu trả
lời. Chính cha Roncalli được giao nhiệm vụ chấp bút
để trả lời trên nội san Giáo Phận. Cha viết một
bài khá mạnh, không thiếu sự châm chọc. Trong bài cha
bày tỏ sự ngán ngẩm đối với não cuồng tín trong
tôn giáo. Vài năm sau, cha còn nhắc lại việc này và
nói thêm: "Ðúng là ta phải nói sự thật, tất
cả sự thật, nhưng tôi không hiểu tại sao lại phải
pha chế vào đấy những sấm rền chớp giật của núi
Sinai, thay vì sự bình an thanh thản của Chúa Giê-su trên
bờ hồ và trên sườn núi. Nhiều lần, khi nghe cha
Dòng diễn thuyết, tôi đã cố gắng theo phản xạ tự
nhiên của mình để cảm nhận những sự tốt lành trong
hệ thống của cha. Nhưng xin thú thực là tôi không
cảm được. Cung cách của cha tương khắc với tôi
nhiều quá". Tình trạng căng thẳng này trong Giáo Hội kéo dài
từ 1907 đến 1912 thì bắt đầu có dấu hiệu biến
chuyển. Trong tài liệu người Ðức phát hiện ở Bỉ
có đoạn ghi: "Vào mùa Xuân, Charles đã dọa
Michel và Georges rằng nàng Nellie sẽ chết vì thiếu tự
do. Ông Georges vốn thận trọng vô cùng nên đã áp
lực không ngừng lên nàng Nellie tội nghiệp khiến cho
nàng có nguy cơ sẽ chết vì kiệt sức." Tất cả
những bí danh đó có nghĩa là: "Vào mùa Xuân,
Ðức Ông Benigni đã dọa Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 10 và
Ðức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Merry Del Val rằng báo
Correspondance de Rome (Tin Thư Roma) sẽ chết vì thiếu tự do.
Hồng Y Merry Del Val vốn thận trọng vô cùng đã gây áp
lực khiến cho tờ báo có thể phải đóng cửa". Ðức Ông Benigni làm việc trong Bộ Giáo Sĩ, về sau,
tài liệu phát hiện ở Bỉ cho biết chính đó là
người điều khiển tổ chức Sodalitium Pianum. Còn
"Tin Thư Roma" là tờ báo của Ðức Ông Benigni
viết bằng tiếng Pháp làm đầu trò cho tất cả hệ
thống thông tin và gây dư luận nghi kỵ trong Giáo Hội.
Cũng trong năm đó, đột nhiên Ðức Ông Benigni phải ra
khỏi điện Vatican. Và đến năm sau, 1913, Ðức Hồng Y
Quốc Vụ Khanh Merry Del Val ra lệnh đóng cửa báo Correspondance
de Rome. Một ngày mùa Xuân 1914, Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 10
đứng trước các Hồng Y trong Giáo Triều và xướng
danh 14 vị tân Hồng Y mà ngài vừa tuyển chọn. Người
ta để ý một chi tiết: tên các vị tân Hồng Y đã
được Phủ Quốc Vụ Khanh viết chữ rất đẹp, nhưng
ở giữa danh sách, Ðức Giáo Hoàng đã tự tay viết
thêm vào tên Ðức Cha Giacomo Della Chiesa, Tổng Giám Mục
Bologna. Năm 1907, Ðức Cha Della Chiesa đang làm việc ở
Phủ Quốc Vụ Khanh được cử đi làm Tổng Giám Mục
Bologna. Ngay từ lúc đó đã râm ran dư luận rằng đây
là một vụ thăng chức để đẩy đi xa. Vì vì Ðức Cha
Della Chiesa không đồng ý với chiến dịch tố cáo đang
bùng phát trong Giáo Hội. Dư luận này xem ra có lý:
theo truyền thống thì Tổng Giám Mục Bologna bao giờ cũng
là một Hồng Y, có khi vừa được phong Tổng Giám Mục
đã nhận ngay mũ đỏ, nếu không thì cũng lãnh mũ
đỏ trong lần phong Hồng Y gần nhất. Với Ðức Cha Della
Chiesa thì không thế, một năm, hai năm, ba năm, rồi sáu
năm qua đi, vẫn chẳng có áo đỏ, mũ đỏ, khiến cho
dân Bologna vừa ngạc nhiên, vừa buồn. Thế rồi đến
năm thứ bẩy, Ðức Thánh Cha tự tay ghi thêm tên
ngài vào trong một danh sách đã soạn sẵn. Như vậy,
phải chăng đường lối Ðức Cha theo đuổi, vì nó mà
ngài bị nghi ngờ, nay đã được Ơn Trên soi thấu? Ðã đến một khúc quanh mới trong Giáo Hội và trong
xã hội. Hai tuần sau khi vị tân Hồng Y trở về Giáo
Phận Bologna, xảy ra vụ ám sát Ðại Quận Công Thái
Tử Francis Ferdinand của nước Áo và phu nhân ở
Sarajevo hôm 18.6.1914. Tháng sau, ngày 28 tháng 7, nước
Áo tuyên chiến với Serbia. Trong thế trận liên minh
giữa các nước hồi đó, như thế có nghĩa là chiến
tranh sẽ lan rộng ở Châu Âu. Ngày 1 tháng 8, nước
Ðức vào cuộc và tuyên chiến với nước Nga. Ngày 3
tháng 8, Ðức tuyên chiến với Pháp. Ngày 4 tháng 8,
Anh tuyên chiến với Ðức, và quân Ðức vượt biên
giới xâm lăng nước Bỉ trung lập. Thế Chiến thứ
nhất đã bắt đầu. Thánh Pi-ô 10 là một người có ơn tiên tri. Ngài
đã nhiều lần tiên báo về một cuộc đại chiến sẽ
xảy ra trước cuối năm 1914. Từ đầu năm 1914, người
ta thấy ngài buồn bã khác thường. Những khi ngài
nhắc tới cuộc chiến sắp tới, người ta có cảm
tưởng như ngài đang nhìn thấy trước mắt những cảnh
máu lửa khủng khiếp. Một nỗi đau xé lòng đối với
ngài là khi các Chủng Sinh thuộc 8 nước tham chiến đang
du học ở Roma bị gọi về nước để thi hành nghĩa vụ
quân sự. Ngày đêm ngài cầu nguyện: "Tôi xin
dâng mạng sống khốn khổ của tôi này làm lễ vật
toàn thiêu, để ngăn cản bao nhiêu con cái tôi khỏi
cảnh tương tàn thảm sát"... "Tôi đau đớn cho
tất cả những ai ngã gục trên chiến trường... Chao
ôi ! Cuộc chiến này!... Cuộc chiến này, tôi sẽ chết
vì nó mất thôi!" Ngài kêu gọi mọi người cầu nguyện cho chiến tranh
lùi xa, cho các nhà lãnh đạo biết nghĩ đến hòa bình,
đừng gây tang tóc. Tiếc thay, ở các nước tham chiến,
cả người Công Giáo cũng chỉ nghĩ đến chuyện hận
thù. Người ta nói, chỉ trong vài tuần, ngài già đi
cả chục tuổi. Giáo sư Marchiafava, bác sĩ của ngài,
nói không thể bảo chiến tranh là nguyên nhân trực
tiếp khiến ngài tắt thở, nhưng hiển nhiên chiến tranh
đã làm cho ngài chết sớm. Ðức Giáo Hoàng qua đời
lúc 1g15 ngày 20.8.1914, không đầy 3 tuần sau khi Thế
Chiến bùng nổ. (Ðức Pi-ô 10 được tuyên phong Hiển
Thánh ngày 29.5.1954). Ngày 31 tháng 8, 57 vị Hồng Y vào Mật Hội để bầu
Giáo Hoàng kế vị. Sáng ngày 3.9, khói trắng bốc lên
trên nóc nhà nguyện Sixtina, báo hiệu bầu cử đã có
kết quả. Dân Roma và khách quốc tế lại tưng bừng
đổ về quảng trường Thánh Phê-rô. Hồng Y Della Volpe
xuất hiện ở lan can sân thượng tiền đình Ðền Thờ
Thánh Phê-rô để xướng danh Ðức Tân Giáo Hoàng: "Ngài
Giacomo Della Chiesa, đã nhận danh hiệu là
Bê-nê-đích-tô 15". Thì ra là vị Tổng Giám Mục
Bologna, người đã 7 năm như bị Trung Ương quên lãng,
chỉ mới được phong Hồng Y trước đó 3 tháng. Tháng 11.1914, Thông Ðiệp đầu tiên của vị tân Giáo
Hoàng nhan đề "Ad Beatissimi", cho thấy những định
hướng của Giáo Hội trong giai đoạn mới. Ðức
Bê-nê-đích-tô 15 tha thiết kêu gọi hòa bình. Kế đó,
ngài đề cao những thành quả của triều đại Pi-ô 10:
lòng đạo đã được nâng cao trong toàn thể Giáo Hội,
Giáo Sĩ cũng như Giáo Dân; hoạt động của các Hiệp
Hội Công Giáo có kỷ cương hơn trước; giáo quyền
được củng cố và mở rộng; việc giáo dục trong các
Chủng Viện có nề nếp hơn; chủ nghĩa Duy Tân bị lên
án; Phụng Vụ được chấn hưng, đặc biệt trong lãnh
vực Thánh Nhạc; Ðạo Chúa được loan truyền. Phần nói về đường lối đối nội của Giáo Hội
cũng được người đọc rất lưu ý. Trước tiên,
Ðức Bê-nê-đích-tô nêu lên đòi hỏi thuận hòa: - Những vấn đề không tổn hại gì đến Ðức Tin
và kỷ luật, thì có thể tự do tranh luận, vì Tòa
Thánh chưa quyết định... Mỗi người được tự do
phát biểu và bênh vực ý kiến của mình, nhưng phải
giữ sự ôn hòa, đừng tự cho mình quyền bài bác
Ðức Tin và tinh thần kỷ luật của người khác chỉ vì
họ có ý kiến trái ngược với mình. - Gần đây, có thói quen dùng những tên gọi này
khác để kỳ thị người Công Giáo này với người
Công Giáo khác. Bản Tòa muốn rằng cách làm đó
phải chấm dứt. Phải tránh đưa ra những tên gọi như
thế, không những vì đó là những từ ngữ dung tục
mới đặt ra, không đúng và không công bình, mà còn
vì chúng tạo ra những rối loạn và ngộ nhận nghiêm
trọng trong cộng đồng Công Giáo... Ðức Tin đã tuyên
xưng, thì không cần gì phải gắn thêm vào đấy những
tính từ mới để đánh giá Ðức Tin ấy. Khi đã nói:
Họ tôi là Ki-tô, tên tôi là Công Giáo, thì đã
đủ rồi, chỉ cần cố gắng trung thực với danh xưng
của mình mà thôi". Tuy Ðức Bê-nê-đích-tô 15 không nói rõ tên
người nào, nhưng ai cũng hiểu ngài nhắm vào những
người tự phong cho mình là "Công Giáo toàn diện"
(Catholiques intégraux - Integral Catholics) để lên án
người khác. Ðối với Ðức Cha Roncalli, giai đoạn vừa trải qua
làm cho cha càng thấy rõ một não trạng hẹp hòi nào
đấy, tưởng là sốt sắng, nhiệt thành, mà nhiều khi
trái ngược với Tin Mừng đến mức nào. Hơn 40 năm sau, cha Roncalli đã 78 tuổi, và đã thành
Ðức Giáo Hoàng Gio-an 23. Một hôm, cha lại tò mò
muốn xem ngày xưa người ta tố cáo mình vì tội gì. Hồ
sơ về vụ việc này vẫn còn lưu trữ ở Bộ Giáo Sĩ.
Thì ra tội của cha là có quen biết với cha Buonaiuti,
một lãnh tụ Duy Tân ở Ý, và đã có viết thư cho
cha này. Tội trạng là như thế, nhưng trong hồ sơ không
thấy một bức thư nào cả. Cha Roncalli hồn nhiên, nhưng
cũng là sử gia thận trọng, viết thư cho ai vẫn giữ
một bản lưu. Vị Giáo Hoàng già, hóm hỉnh, liền sao
chép thư từ, ghép vào những lời tố cáo cũ để "bổ
túc hồ sơ" và gửi lại cho kho lưu trữ của
Bộ Giáo Sĩ. Việc xa xưa, nhưng chắc cũng để lại kinh
nghiệm cho các vị Giáo Hoàng tương lai. Tóm lại, câu chuyện về "vụ Duy Tân" trong
Giáo Hội là câu chuyện về một thời người ta khám
phá ra những chiều kích mới của thực tại, bao la bát
ngát đến nỗi có thể làm người ta say mê chếnh
choáng; là câu chuyện về một vị Giáo Hoàng rực rỡ
trong thánh thiện (Ðức Pi-ô 10) đã vững tay chèo lái,
định hướng cho con thuyền Ðức Tin; nhưng cũng là câu
chuyện về những vẩn đục của lòng người giữa một
thời sóng gió, và là câu chuyện của những người
nhẫn nại vượt qua khó khăn để tìm đến sự thanh
thản của chân lý. (Trích từ Ephata Việt Nam, số 94 & 95) (còn tiếp) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |