CUỘC THÁNH CHIẾN SỐNG CHẾT CỦA THỜI ÐẠI

QUANG VIỆT

Nói đến Thánh Chiến người ta nghĩ ngay đến các đạo binh Thánh giá thời Trung cổ từ Âu Châu kéo sang Thánh địa chiến đấu với lực lượng Hồi giáo đang phát triển tại vùng Trung Ðông đang mưu chiếm cả Âu Châu và nhất là làm chủ nơi Chúa Giêsu đã sinh ra, rao giảng Tin Mừng và chịu chết rồi về trời.

Ngày nay, những trận chiến như thế không còn xảy ra trên quy mô lớn vì đặc tính của Ðạo Công Giáo là tình yêu được các vị chủ chăn rao giảng đã thấm nhuần trên đời sống không những của người Công giáo mà ngay cả trên nền văn minh Tây phương, mặc dù đã xa lì căn tính Kitô giáo của mình về nhiều phương diện.

Tuy nhiên xã hội đảo lộn từ sau Thế chiến II mà nhiều người quy lỗi cho đạo Công giáo, đang khi đó không ai nói đến những giáo phái Tin lành cũng phát xuất từ Ðạo Chúa Giêsu.

Sự đảo lộn xã hội này xảy ra trên mọi lãnh vực: tinh thần, đạo đức, niềm tin.

Bởi thế, những ai còn trung tín với Giáo Hội, với Ðạo Chúa đang chịu đựng áp lực ghê gớm hơn cả cuộc chiến đấu có máu đổ đầu rơi: Ðó là Cuộc Thánh Chiến thời đại.

 

I. ÐẠO CHÚA BỊ TẤN CÔNG

Hồi tháng 11-2002, báo chí khắp nơi đưa tin một nhà sưu tập người Pháp mua được hộp đựng Hài cốt từ Do Thái với hàng chữ đề: "Giacôbê, con ông Giuse, anh em của Chúa Giêsu."

Tuần báo của Pháp Le Nouvel Observateur số 1990 (26/12/2003 - 1/1/2003) liền đặt vấn đề ngay: "Có một ông Giêsu người Nazareth - Leshoua ben Losseph - mà lịch sử thì chẳng còn dấu vết gì. Rồi 50 năm sau khi ông chết, dựa vào những lời chứng được nghe kể thì đẻ ra một vị cứu thế, xưng mình là Con Thiên Chúa và cuộc đời cũng như lời dạy của ông được viết ra trong ‘Phúc Âm’".

Trong bài báo, tác giả Jean-Lue Pouthier lại nhắc đến nhóm "Jesus Seminar" ở Hoa Kỳ do ông Robert W. Funk sáng lập.

Theo cuốn "The Acts of Jesus" thì:

- Chúa Giêsu Nazareth sinh trong thời Herod đại đế trị vì.

- Tên của mẹ người là Mary và có người Cha không phải tên Joseph.

- Chúa Giêsu sinh tại Nazareth chứ không phải tại Bethlehem.

- Chúa Giêsu là một nhà hiền triết lang thang đây đó dùng bữa với lớp cùng đinh.

- Chúa Giêsu chữa bệnh không dùng thuốc cổ truyền hay ảo thuật mà dùng sự âu yếm mà chúng ta ngày nay: biết là người chữa bệnh tưởng (Psychosomatic).

- Chúa không hề đi trên mặt nước và cho nhiều người no nê bằng mấy chiếc bánh và vài con cá, biến nước thành rượu hay cho Lazarô từ cõi chết sống lại.

- Chúa Giêsu đã bị bắt tại Jerusalem và chịu đóng đinh bởi người Roma (chứ không phải người Do thái).

- Chúa bị xử chết như một người phá rối công cộng chứ không phải vì tự xưng mình là Con Thiên Chúa.

- Nấm mồ trống chỉ là chuyện hư cấu. Chúa Giêsu không hề sống lại bằng thân xác khi đã chết rồi.

- Niềm tin vào sự sống lại chỉ dựa vào ảo tưởng do Phêrô, Phaolô và Maria truyền lại.

Tại cả Châu Âu lẫn Hoa Kỳ người ta đánh phá đạo Chúa từ gốc rễ để biến niềm tin Kitô trở thành tương đối, cũng như bất cứ đạo nào khác do con người làm ra: Phật giáo, Ấn Giáo hay Hồi Giáo cũng vậy thôi.

Lề lối làm việc của nhóm Jesus Seminar là: Tổ chức những cuộc hội thảo, sau đó họ đem ra bỏ thăm xem một đoạn Phúc Âm của Chúa Giêsu có thể tin được hay không, ở mức độ nào. Họ dùng máu để đánh dấu.

Ðỏ (Red): Biểu lộ sự thật chắc chắn.

Hường (Pink): biểu lộ tin nhưng cần dè dặt.

Xám (Gray): chỉ một vài phần đáng tin (hầu như hoang đường).

Ðen (Black): hoàn toàn hoang đường.

Trong những cuộc hội thảo này mọi người đều bỏ phiếu dù họ không biết gì về phúc âm (Acts of Jesus, Harper, San Francisco 1998).

Kết quả của những công cuộc gọi là nghiên cứu này khiến cho đời sống luân lý, đức tin trở nên do con người quyết định

II. THAY ÐỔI NÃO TRẠNG VỀ TÔN GIÁO

1. Nơi Những Người Có Niềm Tin

Theo thống kê, Hoa kỳ được coi là một xứ có tinh thần tôn giáo cao nhất trong các xứ Tây phương. Năm 2001, thống kê nói: 82% dân Hoa kỳ nhận mình theo đạo Chúa, so với các tôn giáo khác, tỷ lệ là 8/1. Trong số 8 người theo đạo Chúa mới có 1 người theo đạo khác như Hồi giáo, Phật giáo.... nhưng tới 90% dân số Hoa kỳ nhận mình có tin vào một thượng đế và ít nhất một lần trong tuần có cầu nguyện. Có khoảng 60% số dân tham dự nghi thức tôn giáo mỗi tháng một lần và 43 % tham dự mỗi tuần một lần. Số người không tin Chúa chỉ là thiểu số nhỏ. Người Hoa kỳ đố kỵ người không tin đến nỗi khi được hỏi một ứng cử viên tổng thống sẽ được bầu thế nào, câu trả lời: nếu là phụ nữ thì được 92% chấp thuận; nếu là người da đen, được 95%; nếu là người Do Thái, được 92%; người đồng tính luyến ái được 59%;’nhưng ứng cử viên vô thần chỉ được 49%.

Tuy vậy, trong những thập niên gần đây, ý niệm về niềm tin của người Hoa Kỳ đã thay đổi rất nhiều. Ðại đa số tin rằng đời sống thiêng liêng là chính yếu. Ðối với họ, theo các giáo điều tôn giáo dạy, theo đức tin truyền thống không còn quan trọng nữa. Mặc dù hầu hết người Hoa kỳ muốn tôn giáo giữ vai trò quan trọng hơn trong đời sống công cộng như thúc đẩy cho điều kiện về luân lý của quốc gia được khả quan hơn, nhưng theo tác giả Hugh Heclo trong bài "The Wall That Never Was " đăng trong tạp chí WQ (Wilson Quarterly) số mùa Ðông 2003 thì chỉ có 25% dân Hoa kỳ chấp nhận tín lý tôn giáo là nền tảng cho những xét đoán của mình về luân lý: cái gì đúng, cái gì sai. Người ta không còn coi Thánh Kinh là nền tảng cho đời sống đạo đức nữa. Có đến 3/4 người Hoa kỳ trong tuổi trưởng thành cho rằng kẻ nào chủ trương có một chân lý tuyệt đối về đạo đức, hoặc lấy niềm tin tôn giáo này trổi vượt hơn của tôn giáo kia thì kẻ đó là người kỳ thị tôn giáo.

Chúng ta biết ở xã hội này chữ chủ nghĩa kỳ thị sẽ bị lên án gay gắt. Bởi vậy, sự xét đoán cách sống của người khác bị coi như trọng tội. Mặc dầu 3/4 người dân muốn tôn giáo có nhiều ảnh hưởng hơn vào xã hội, nhưng họ lại không cần biết loại tôn giáo nào nên được có nhiều ảnh hưởng hơn. Cũng thế, từ 80-90% người Hoa kỳ nhận mình là Kitô hữu, nhưng đa số những người này đã chối bỏ nhiều niềm tin căn bản của đạo Chúa. Họ chỉ có tên là Kitô hữu còn thực chất họ chỉ còn giữ lại một số ảnh hưởng lời dạy của đạo nơi họ mà thôi.

Vì thế đối với những kẻ trung tín với đạo Chúa, sống thật sự niềm tin của mình trong xã hội Hoa Kỳ quả là một môi trường tử đạo.

Vào năm 1960 khi ứng cử viên tổng thống John F. Kennedy tuyên bố rằng niềm tin Công giáo và những lời dạy của tôn giáo của ông về các vấn đề công ích chỉ là vấn đề riêng tư, không liên hệ gì đến những quyết định khi ông vào Tòa Bạch ốc, đối với những vấn đề quốc gia. Bao nhiêu hậu quả tai hại đi theo sau nhận định này của Kennedy. Ða số các chính trị gia Công giáo được bầu vào Thượng viện và Hạ viện liên bang đều ủng hộ và khuyến khích phá thai, lấy tiền thuế của dân đem viện trợ cho thế giới để giúp các nước chấp nhận phá thai. Ðiển hình là Thượng nghị sĩ Edward Kennedy, em Cố Tổng thống John Kennedy, thuộc tiểu bang Massachussetts và Thống đốc Gray Davis của tiểu bang California.

Người ta tin rằng cá nhân hoá tôn giáo là điều thích hợp với bất cứ xã hội nào muốn được hiện đại hóa.

Bởi vậy cũng trong thập niên 1960 đã xảy ra "cuộc cách mạng tình dục" làm đảo lộn toàn thể xã hội. Trai gái 15 tuổi mà chưa có giao du phái tính là điều hiếm hoi. Xã hội quan niệm đó chỉ là vấn đề cá nhân. Nhà trường mở lớp "giáo dục phái tính" để phát thuốc ngừa thai cho con nít. Truyền hình, xinê đầy dẫy cảnh khỏa thân, trác táng mà người ta cho rằng đó chỉ là phản ánh sự thật của đời sống còn nếu che dấu chỉ là đạo đức giả. Nền văn hoá đồi trụy này cổ võ tuổi trẻ làm sao thoát được vòng kìm tỏa của xã hội. Vì thế, cuộc chiến chống lại nền văn hoá sự chết này có thể coi là cuộc tử đạo anh hùng.

Tại Âu Châu, theo tác giả Roger Scruton trong bài "Impius Europe" cùng in trên tờ WQ số mùa Ðông 2003 thì tôn giáo không còn chỗ đứng trong đời sống công cộng nửa, và người ta đã gọi thời đại này là thời đại hậu Kitô giáo.

Một quan điểm được coi là nguy hiểm nếu quan điểm đó thuộc về nền văn hoá phát xuất từ tôn giáo Do thái - Kitô. Người nào tuyên xưng niềm tin Kitô giáo của mình đều bị coi là đám "Kitô hữu quá khích" (Christian Fundamentalists) hay còn bị coi nặng hơn nữa: "bọn tranh đấu quá khích cho quyền Kitô hữu " (Christian Fundamentalist Right) và nhóm đó bị coi là mối đe dọa cho tự do quan điểm. Kẻ nào đặt vấn đề "căn tính quốc gia" (national identity) đều được gọi là nhóm cực hữu. Ðó chính là nhãn hiệu người ta gán cho ông Pim Fortuyn người Hoà Lan, chỉ vì khi tranh cử ông đã đưa ra những vấn đề xã hội do người Hồi giáo di dân tới. Ông đã bị ám sát. Người nào bênh vực nếp sống gia đình được coi là nhóm "hữu khuynh độc đoán" (Right-wing authoritarian). Một thày giáo bênh vực sự tiết dục hơn là cho thuốc ngưà thai miễn phí cho học trò để tránh cho thiếu niên mang thai thì không những bị coi là hủ lậu mà còn bị coi là xúc phạm đến học trò của mình.

Người ta gạt bỏ những gì thuộc về căn tính Kitô giáo 2000 năm của mình. Bởi vậy cựu tổng thống Pháp Giscard d'Estang thuộc phe De Gaule (được coi là bảo thủ) khi soạn thảo bản hiến pháp cho tổ chức Âu Châu thống nhất đã không hề đề cập gì đến vấn đề tôn giáo và những đóng góp lớn lao cho Âu châu từ nền văn hóa của đạo Chúa. Bao nhiêu người yêu cầu tác giả bản dự thảo tôn trọng căn tính Kitô giáo, và cả những tôn giáo đang hiện diện tại đây, nhưng tác giả vẫn yên lặng.

Nhiều lần Ðức Gioan Phaolô II đã lên tiếng về vấn đề này. Nhưng chính Tổng thống Pháp, ông Jacques Chirac, một nhân vật quan trọng bậc nhất tại Âu Châu đã phát biểu: "Là đại diện của một nhà nước thế tục, tôi không ủng hộ việc nhắc đến tôn giáo." Ông nói thế trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ Le Figaro để phản đối ý kiến Ðức Thánh Cha và Hội đồng Giám mục Âu Châu muốn Hiến pháp Âu Châu nhắc đến căn tính Kitô giáo của mình. Chính vì rời bỏ căn tính đó mà Quốc hội Âu Châu đã có nhiều quyết định mang tính cách "hoàn toàn thế tục". Ngày 14-3-03 tổ chức Quốc hội Âu Châu bỏ phiếu chấp thuận viện trợ cho việc phá thai tại hải ngoại. Luật này trùm lên cả luật của các quốc gia hội viên trong đó có nước Ái nhĩ lan vẫn còn có bản hiến pháp phò sự sống. Ngày 12-2-03, Quốc hội Âu Châu còn bỏ phiếu công nhận hôn nhân cuả các cặp đồng tính. Ðiều cũng cần nhắc ở đây, đó là vì phá thai là hợp pháp nên giống người gốc Âu châu đang trở thành lão hoá (sinh xuất dưới 2.1 con cho 1 phụ nữ), nhất là tại Ý và Tây ban nha (sinh xuất dưới 1.2 con cho 1 phụ nữ.)

2. Những Người Vô Thần

Ngày 2-11-2002, lần đầu tiên có một cuộc tuần hành tại thủ đô nước Mỹ của những người nhận mình là vô thần " Godless Americans ". Số người tham dự không lớn chỉ vào khoảng 2400 người theo sự lượng định của cảnh sát. Nhưng vấn đề là cuộc tuần hành trở nên dấu chỉ sự có mặt của nhóm vô thần đang tổ chức thành một sức mạnh chính trị. Cuộc tuần hành chỉ kéo dài chừng 30 phút, nhưng những bài diễn văn thì liên tục. Có lẽ lời phát biểu được hoan nghênh nhất là của một bác sĩ kiêm luật sư, ông Micheal Newdow. Ông kể lể thành tích đạt được lúc ông đưa ra toà San Francisco hồi mùa hè 2002 yêu cầu hủy bỏ chữ "Under God" mà Quốc hội đã thêm vào bài Pledge of Allegiance năm1954. Cũng may mưu toan của ông đã bị thất bại khi hầu như mọi người dân trong nước Hoa Kỳ đều hiệp nhất công kích.

Tài liệu của đoàn biểu tình này có kể ra nhiều nhóm vô thần khác nhau hợp nhất lại, bỏ mọi tỵ hiềm để cùng cộng tác như: Hội Ðồng Cổ Võ Chủ Nghĩa Nhân Bản Thế Tục (Council for secular humanism), Liên Minh Các Sinh Viên Ðại Học Tự Do Tư Tưởng (Campus Free Thought Alliance), Liên Minh Sinh Viên Thế Tục (secular student Alliance), Liên Minh Vô Thần (Atheist Alliance), v.v...

Sau đó trên mạng lưới Internet American Atheist, họ đưa ra tin tức làm cho người ta có ấn tượng nhóm vô thần được phát trìển mạnh nhất trong thập niên qua.

Họ đưa ra bản điều tra gọi là The American Religious Identification Survey 2001 do Barry A. Kosmin, Egon Mayer và Ariela Keysar hướng dẫn để nói rằng vào năm 1990 có 14.3 triệu người nhận mình là vô thần hay 8% dân số Hoa Kỳ. Năm 2001 số người nhận mình là vô thần lên 29.4 triệu tức 14.1% số dân.

Thực tế thì số người nhận mình là vô thần lên, xuống một vài triệu không quan trọng. Quan trọng là những hoạt động của họ muốn biến một quốc gia trở thành hoàn toàn nhân bản, nhân bản toàn diện, lấy con người làm gốc, con người vật chất mà không có con người tâm linh.

Trong số báo WQ đã trích dẫn ông Hugh Heclo khi ông đưa ra hình ảnh Hoa kỳ là nước có tinh thần tôn giáo cao nhất trong khi Thụy điển là nước có số vô thần cao nhất Tây Âu. Hoa kỳ được mô tả thế này: quần chúng thì có tinh thần tôn giáo được cai trị bởi những người đến từ Thụy Ðiển, 5ức là giới trí thức, lãnh đạo chính là nhóm vô thần. Nhóm này có mặt khắp nơi, nguy hiểm nhất là toà án và học đường.

Từ học đường họ đang biến con cái chúng ta thành những kẻ vô thần theo trật tự thế giới mới của họ (New World Order).

Ðây là một vài lời trích của những bậc trí thức Ðại học dạy cho các giáo viên tương lai.

Bác sĩ Chester Pierce, giáo sư Harvard nói với các giáo viên tương lai như sau:

"Tất cả anh chị em trong nước Mỹ đi học ở lứa 5 tuổi đã hư đầu óc vì chúng đến trường với tâm thức vẫn muốn duy trì cái hình thức cai trị mà chúng ta đang có. Tinh thần ái quốc, quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, mọi chuyện đều chứng tỏ con em chúng ta đau bệnh vì một cá nhân hoàn toàn lành mạnh là đã phải từ chối tất cả những quan niệm đó và thực sự trở thành một đứa trẻ với tinh thần quốc tế trong viễn tượng tương lai."

Bác sĩ Paul Brandwein chuyên về tâm lý trẻ em cho rằng để thày giáo biết một em có bị bệnh tâm thần hay không, ông nói: "Tất cả các em bé có niềm tin vào Chúa đều bị đau yếu tâm thần."

Về toà án, nhiều bản án được coi như để chống lại tôn giáo do những người vô thần hay tự nhân là theo đạo Chúa, nhưng thực tế là vô thần.

Theo bản tin của Catholic World News ngày 31-3-03 tại thủ đô Hoa thịnh đốn, bà quan tòa tên Mildred Edwards, tự nhận là Công giáo đã không phạt 3 người vào phòng các giám mục đang họp phá phách mà còn được bà quan toà mang danh đạo Công giáo xin lỗi vì họ đã bị từ chối cho rước lễ khi đang đeo dấu hiệu của nhóm đồng tính gọi tên là Sulforce.

Ngày 14-2-03 cũng bản tin CW News cho biết quan toà Tối cao Pháp viện Antonin Scalia, một người Công giáo nói với sinh viên tại Ðại học Pennsylavia rằng đại ý rằng chúng ta hiện không còn đi tìm những luật sư giỏi (để làm quan tòa) nữa mà chúng ta tìm chọn một quan tòa có thể giải thích Hiến pháp theo ý chúng ta. Ông có ý nói toà án đã bị chính trị hóa bởi các khuynh hướng thời đại mà phán quyết về tự do phá thai 1973 là một điển hình. Lúc đó nhóm cấp tiến chiếm đa số trong Tối cao Pháp viện.

KẾT LUẬN

Hiện tình xã hội đang diễn ra một cuộc tranh đấu quyết liệt như Ðức Gioan Phaolô II thường nói: Giữa nền văn hoá sự sống và nền văn hóa sự chết. Chúng ta không còn được sống thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Ngoài cuộc sống cầu nguyện còn cuộc sống xã hội. Ðó là trách nhiệm của mọi người, nhất là những người biết xử dụng Internet. Chúng ta đóng góp phần tranh đấu cho chân lý, lẽ phải theo ánh sáng của đạo Chúa. Chúa Giêsu là Chúa thật, chúng ta có chân lý thật, không phải là chân lý tương đối. Chúng ta hoặc phò sự sống hoặc phò phá thai, không lấp lững với chữ phò tự do lựa chọn. Các trường học đang dạy theo lối sống "tương đối". Xin đừng mắc bẫy.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com