Trong việc chọn lọc những câu hỏi, chúng tôi cố gắng lưu ý đến nhiều phương diện khác nhau của ‘lẽ đạo’, nhất là những vấn nạn liên quan đến luân lý, là phương diện bức xúc nhất trong đời sống Kitô hữu ngày nay. Ðể trả lời những thắc mắc, quan điểm của chúng tôi được đặt trên căn bản là Lời Chúa, Truyền Thống và Huấn Quyền của Giáo Hội. Quan điểm ấy cũng cố gắng kết hợp giữa suy tư thần học và thực tế mục vụ.

Ðương nhiên, trong khuôn khổ nhất định của đề mục này, những giải đáp của chúng tôi không thể bao gồm tường tận mọi chi tiết. Vì thế, ngoài mục đích chính là cống hiến những hiểu biết căn bản để giải tỏa những băn khoăn, hy vọng những giải đáp này cũng gợi ý và động viên sựï chú tâm tìm hiểu kỹ càng những bài nghiên cứu hệ thống hơn.

Mục ‘Hiểu Ðạo - Sống Ðạo’ mong ước được trở nên người bạn đồng hành để chia sẻ với Quý Ðọc Giả những băn khoăn trong hành trình Ðức Tin hằng ngày. Mọi thắc mắc liên quan đến việc tìm hiểu để sống đạo, xin Quý Vị vui lòng gởi về cho chúng tôi qua tòa soạn ÐMHCG.

Back to Top Back to Top


Luân Lý Y Khoa: Bệnh Nhân Cận Tử

Hỏi: Phải chăm lo cho các bêïnh nhân hôn mê sắp chết, đôi khi con cảm thấy băn khoăn lương tâm trong việc đề nghị với bệnh nhân và gia đình nên tiếp tục hay đình hoãn việc chữa trị. Xin cha cho biết giáo huấn luân lý Công giáo quy định thế nào về vấn đề này. Có nên hay không trong việc áp dụng tất cả mọi phương tiện y khoa để kéo dài sự sống bệnh nhân cận tử?

(Một Bác Sĩ)

Ðáp: Ðây là một câu hỏi rất chính đáng. Trong quá trình mục vụ, chúng tôi cũng gặp thắc mắc này nơi các gia đình có người bệnh nguy tử. Về vấn đề này, chúng ta phải phân biệt rõ 3 trường hợp. Trước nhất là ‘Trợ Tử Chủ Ðộng’ (Active Euthanasia). Nghĩa là, với sự đồng ý của bệnh nhân, bác sĩ sẽ chủ động giúp bệnh nhân ấy chết ngay lập tức (bằng một mũi thuốc chẳng hạn). Thứ hai là ‘Trợ Tử Thụ Ðộng’ (Passive Euthanasia). Nghĩa là, với sự đồng ý của bệnh nhân hoặc thân nhân, bác sĩ sẽ đình trệ việc tiếp tế chất liệu dưỡng sinh căn bản (nutrition, hydration) để người bệnh chết từ từ. Những người ủng hộ các việc trợ tử này thì gọi nó bằng danh từ hoa mỹ là ‘giết vì ân huệ’ (mercy killing), vì thể hiện ý muốn của người bệnh là mong được chết ngay, khỏi phải chịu những sự đau đớn. Trường hợp thứ ba là không áp dụng (hoặc không tiếp tục) những phương pháp chữa trị đặc biệt (chạy máy, chemotherapy, giải phẫu, v.v,), màkết quả không chắc chắn.

Mỗi trường hợp trên đây mang ý nghĩa luân lý riêng. Trường hợp thứ nhất (Active Euthanasia) là tích cực giết chết, vì được thể hiện qua một hành động cụ thể. Ðây rõ ràng là một việc sát nhân trực tiếp. Hiện nay, Hòa Lan và Bỉ là hai quốc gia tiên phong đã chính thức cho phép về việc này. Trường hợp thứ hai (Passive Euthanasia) có thể được coi là giết cách gián tiếp. Riêng trường hợp thứ ba, thật ra không phải là giết chết (trực tiếp hay gián tiếp), mà là chấp nhận để bệnh ra đi tự nhiên, an bình.

Hội thánh Công giáo luôn xác tín rằng sự sống là tặng phẩm Thiên Chúa trao ban cho con người. Duy nhất Thiên Chúa mới có toàn quyền trên sự sống và sự chết. Con người chỉ có thể đón nhận, phát huy, mà không có quyền hủy bỏ sự sống, cho dầu là sự sống của tha nhân hay của chính mình (xem Giáo Lý Công Giáo # 2258; Tông thư ‘Humanae Vitae’ #13). Vì thế, Giáo huấn của Hội thánh về 3 trường hợp này thật rõ ràng. Trường hợp thứ nhất là sát nhân (hoặc tự tử) cách tích cực và trực tiếp. Giáo hội cực lực lên án rằng đó là một việc phản nghịch trầm trọng luật Thiên Chúa, khinh thường món quà sự sống và phẩm giá con người (xem Tuyên Bố của Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin về ‘Trợ Tử’ năm 1980, Tông thư ‘Phúc Âm Sự Sống’, #65). Về trường hợp thứ hai, tuy không mang tính cách trầm trọng như trường hợp thứ nhất, nhưng cũng là việc chủ ý hủy hoại sự sống, do đó, cũng không được phép (xem GLCG #2279). Nên ghi chú rằng, giới y khoa và luật pháp dùng chữ ‘trợ tử chủ động’ và ‘trợ tử thụ động’ như để phân biệt ý nghĩa luân lý giữa hai trường hợp này. Tuy nhiên, đối với Giáo hội, cả hai trường hợp đều mang cùng mục đích là tiêu hủy sự sống. Một đàng là bằng hành động cụ thể (positive action). Một đàng là do sự thiếu sót có ý thức (intentional omission). Riêng về trường hợp thứ ba, vì không chủ tâm làm cho chết mà chỉ nhằm để cho bệnh nhân ra đi cách tự nhiên cho nên không phản luân lý. Giáo hội không những chấp nhận mà còn khuyên rằng, nếu những phương pháp chữa trị đặc biệt quả thật không thích đáng (Disproportionate -nghĩa là không thể cứu vãn sự sống mà còn làm cho bệnh nhân đau đớn, sợ hãi, gia đình tốn kém vật chất, căng thẳng tinh thần, v.v.), thì nên tuân theo luật tự nhiên, và để cho bệnh nhân và gia đình đón nhận sự chết ấy trong bình an (xem Tuyên bố của Thánh bộ Tín lý về ‘Trợ Tử’; GLCG # 2278).

Tóm lại, theo luân lý Công giáo, ta không được phép ‘giúp chết’ (dù là bệnh nhân hoặc gia đình muốn). Nếu bệnh nhân hoặc gia đình yêu cầu, có thể miễn những phương pháp trị liệu đặc biệt không mang lại kết quả xứng đáng. Tuy nhiên vẫn phải tiếp tục dưỡng sinh bệnh nhân với những chất liệu căn bản (không đau đớn hoặc tốn kém) cho đến khi sự sống thật sự chấm dứt.

Back to Top Back to Top


Ðức Mẹ Có Phải Chết Hay Không?

Hỏi: Con có một thắc mắc liên quan đến Ðức Mẹ. Trong tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác lên Trời, Giáo hội nói rằng Ðức Mẹ được lên Trời ‘cả hồn lẫn xác.’ Như vậy nghĩa là Ðức Mẹ không ‘bị’ chết như mọi người. Ðiều đó có đúng không?

(Ð. Ngô, TX)

Ðáp: Trong truyền thống Giáo hội Công giáo, việc tin rằng Ðức Mẹ lên trời cả hồn và xác trở nên phổ cập vào thế kỷ 16, khi Thánh Grêgoriô thành Tours giảng rằng: khi Ðức Mẹ lìa trần, Chúa Giêsu đến đem xác Mẹ về hợp với linh hồn Mẹ trên Thiên quốc để, cùng với các người Chúa chọn, hưởng phúc trường sinh.

Dựa trên niềm tin truyền thống này, ngày 1-11-1950, Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã long trọng tuyên bố thành tín điều rằng: "Ðức Vô Nhiễm Maria, Mẹ Thiên Chúa, trọn đời Ðồng Trinh, khi hoàn tất cuộc đời trần thế, đã được đưa về Thiên quốc Cả Hồn và Xác." Theo suy tư thần học của Giáo hội, tín điều này hoàn toàn hợp lý và liên đới chặt chẽ với các tín điều khác về Ðức Maria. Vì nếu Ðức Mẹ được ơn miễn nhiễm tội nguyên tổ, thì Ngài cũng được cứu khỏi hậu quả của tội lỗi là sự hư nát trong mồ. Hơn nữa, vì là Mẹ Thiên Chúa, thân xác Mẹ đã cưu mang Con Một Chúa, cho nên thân xác ấy cũng được thông phần vinh quang Thiên đàng.

Tuy thế, điều ‘khó nghĩ’ ở đây là, cả truyền thống lẫn tín điều về việc ‘lên trời’ của Mẹ chỉ nhằm diễn tả một mầu nhiệm niềm tin (cả Hồn và Xác Mẹ được về Trời). Tín điều ấy không hề nhằm mục đích làm một cuộc ‘khảo cứu lịch sử’ xem trước khi về Trời, xác Ðức Mẹ có chết hay không. Chính vì thế, từ rất lâu, đã có 2 giả thuyết: Ðức Mẹ chết và Ðức Mẹ không chết.

Giả thuyết thứ nhất được sự tán thuận của một số sử gia và các thánh Giáo hội. Chẳng hạn, vào thế kỷ thứ 8, Thánh Gioan Ðamasênê đã dựa theo ý kiến chung thời đó mà xác nhận Ðức Mẹ "đã chết, và đã được chôn trong một nấm mồ tại vườn Cây Dầu. Trong suốt ba ngày, mồ được các Thiên thần hát ca, canh giữ. Sau ba ngày, cửa mồ mở toang, các tông đồ không còn tìm thấy xác Mẹ ở đó." Có lẽ vì thế mà trong phụng vụ Giáo hội Ðông phương có lễ ‘Mẹ An Nghỉ’ (Dormition of Mary) vào ngày 14-8, trước lễ Mẹ Mông Triệu (15-8). Giả thuyết thứ hai cũng không kém hữu lý. Nếu Mẹ được Thiên Chúa ban đặc ân không biết sự hư nát trong mồ do hậu quả tội lỗi (như tín điều Mông Triệu xác định), thì điều đó cũng có thể hàm ý rằng Mẹ không biết đến sự chết như mọi tạo vật khác. Hơn nữa, các sử gia Giáo hội cũng không bao giờ giả thuyết tìm thấy mồ của Mẹ, hoặc các di tích liên quan đến biến cố sự chết của Mẹ.

Cả hai giả thuyết đều có những lý luận thuyết phục. Tuy nhiên, sự thật là Giáo hội không hề bao giờ xác nhận rõ ràng Ðức Mẹ có chết hay không. Ðể tránh đi vào sự tranh tụng giữa hai giả thuyết này, trong tín điều Mẹ Lên Trời, Ðức Piô XII cũng chỉ tuyên bố rằng "sau cuộc đời trần thế (expleto terrestris vitae cursu), Mẹ đã được Chúa đưa hồn xác về Trời." Ðiều đó có nghĩa là, việc Ðức Mẹ có chết hay không chỉ là một sự kiện thuộc phương diện lịch sử. Ðiều quan trọng nhất đối với niềm tin Công giáo là, (cho dù Mẹ có phải chết) Mẹ đã được diễm phúc về trời cả hồn và xác. Ðó là hình ảnh bảo đảm cho niềm hy vọng sau cùng của đời Kitô hữu.

Back to Top Back to Top


Chứng Nhân Jêhôva

Hỏi: Tại thành phố nơi con ở, có những người mà con biết là thuộc giáo phái Nhân Chứng Jêhôva thường xuyên đến giảng đạo. Họ nói Kinh thánh rất giỏi và hay phê bình Giáo hội Công giáo. Con muốn biết rõ hơn về giáo phái này. Xin cha cho biết có cách nào hiệu quả để thuộc lòng Kinh thánh và đối thoại với họ, hầu bênh vực Giáo hội mình?

(Trần Minh, CO)

Ðáp: Chứng nhân Jêhôva (Jehovah’s Witnesses) là một giáo phái hình thành cách đây khoảng một thế kỷ. Người đầu tiên sáng lập là ông Charles Russell. Giáo phái này cũng có tên là Hội Tháp Canh (Watchtower Society). Hiện tại, giáo phái ấy có khoảng trên dưới 2 triệu tín đồ trên thế giới, trong đó có khoảng nửa triệu ở Hoa kỳ. Giầu có phương tiện vật chất là một trong những đặc nét của giáo phái này.

Về tổ chức, giáo phái được chia thành những đơn vị địa phương, gọi tên là ‘Vương quốc Hội đường’ (Kingdom Hall). Mỗi ‘Hội đường’ bao gồm khoảng từ 75 đến 100 thành viên.

Về sinh hoạt, mỗi tuần họ thường họp mặt tại ‘Hội đường’ để nghe giảng Kinh thánh, và học tập về những sứ điệp hằng tuần, trích từ bản tin ‘Watchtower’ hoặc ‘Awake’ do Hội xuất bản. Sau đó, mỗi thành viên phải dành ít nhất 15 đến 20 giờ một tuần để đi ‘truyền giáo’. Họ thường đi từng hai người một. Trong việc này, ta thấy họ áp dụng Thánh kinh triệt để. Họ nghĩ rằng phải thi hành y như Chúa đã làm, là sai từng nhóm ‘hai người’ (Lc10:1). Nhiều khi không được gia chủ ‘welcome’ lắm, họ vẫn không ngại ngùng gì vì họ tin rằng ‘khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng’ (1 Cor. 9:16).

Về tư tưởng, Chứng nhân Jêhôva tin rằng thế giới đang ở vào thời gần tận mạt. Ngày tận thế sẽ là ngày ‘đại chiến Armageddon’ giữa Chúa Kitô và Satan. Họ đã tiên đoán rằng biến cố Armageddon xảy ra vào năm 1914. Sau khi tận thế ‘thất hẹn’, họ ‘hẹn’ biến cố ấy lại vào năm 1924. Rồi lại ‘dời’ đến năm 1975. Và cho tới nay, họ vẫn rao truyền rằng biến cố ấy sắp xảy ra.

Theo đạo lý Chứng nhân Jêhôva, chỉ có Chúa Cha mới thật là Thiên Chúa (Jêhôva). Chúa Giêsu là một ‘tạo vật thần linh’ trên Thiên đàng giống như các thiên thần. Nhiệm vụ của Ngài là ‘Tổng Quản Lý’ Thiên quốc. Ngài đã ‘đầu thai’ xuống trần gian để chuộc tội cho con người. Ngài đã chịu chết, không phải trên thánh giá, mà bởi sự hành hình. Vì lẽ này, tín đồ Jêhôva không tin nhận giá trị thiêng liêng của thánh giá. Ngoài ra, họ cũng chủ trương rằng Thiên đàng... chật lắm; chỉ đủ chỗ cho khoảng 144.000 người (Khải huyền 7:4). Các tín hữu Jêhôva (hạng hai!!) thì cũng được cứu rỗi, nhưng sẽ ở lại nơi ‘Thiên đàng trần thế’. Tất cả nhân loại còn lại sẽ bị tiêu hủy. Ngoài ra, họ cấm ngặt ngoại tình, dâm ô, phá thai, đồng tính luyến ái, bài bạc, truyền máu, v.v. Họ không mừng Giáng sinh, Phục sinh, và cũng không tổ chức lễ trong ngày sinh nhật.

Làm thế nào để thuộc lòng Kinh thánh và bênh vực Giáo hội trước những nhân chứng Jêhôva? Thưa, giáo hội Công giáo không chủ trương đọc Kinh thánh thuộc lòng như computer. Lời Chúa là để suy gẫm, và áp dụng vào cuộc sống hầu hoán cải đời mình hằng ngày chứ không chỉ là để đọc vanh vách cách máy móc. Hơn nữa, trong kinh nghiệm đối thoại với các chứng nhân Jêhôva, chúng tôi nhận thấy điều hiển nhiên này. Họ chỉ muốn ‘truyền đạo’ cho chúng ta mà thôi. Ðối với họ, chúng ta là những kẻ ‘tội lỗi’ chẳng có gì đáng cho họ nghe và ghi nhận. Vì thế, không thể có một sự ‘đối thoại liên tôn’ trong tinh thần xây dựng để cùng tìm đến chân lý. Vậy, tốt hơn, xin anh đừng nghĩ đến việc trao đổi gì với họ về đạo lý. Chỉ cần học hỏi, suy niệm Lời Chúa trong Giáo hội. Ðồng thời, cũng cần hiểu biết rõ ràng về đức tin Công giáo của mình để khỏi bị dễ dàng lung lạc tinh thần.

Back to Top Back to Top


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com