KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICAN II (Kỳ 6) Lm. Vũ Khởi Phụng, C.Ss.R. Ngày 21.8.1914, các bác sĩ giải phẫu ghi nhận ung thư
ruột đã di căn, hết phương cứu chữa. Khi Ðức Cha
tỉnh dậy, cha Roncalli đứng bên giường, thưa: - Thưa Ðức Cha, mạng sống chúng ta ở trong tay Chúa. - Ðược, tôi hiểu rồi. Ta hãy chúc tụng Chúa và
quy hướng về một mình Chúa mà thôi. Ðức Cha còn sống thêm được một ngày rưỡi,
không một lời than van, chỉ tạ ơn Chúa, chúc lành cho
mọi người, cầu nguyện, và sáng suốt đến giây phút
cuối cùng. Khoảng 24g30 ngày 23.8, Ðức Cha vẫn hổn hển
dâng hiến Chúa mạng sống mình, vì Hội Thánh, vì vị
tân Giáo Hoàng Chúa sắp ban cho Hội Thánh, vì đoàn
chiên, vì đất nước, và Ðức Cha lớn tiếng: "Vì
hòa bình... hòa bình!" Ngài nhìn mọi người chung
quanh, trên môi thoáng một nụ cười, và tắt thở. Cha Roncalli ghi trong nhật ký: "Ðột nhiên, hóa ra
tôi đứng trước một chân trời mới. Nhưng tôi
không vì thế mà mất tinh thần... Tôi sẽ lưu tâm để
đừng lo lắng gì cho tương lai." Tương lai của cha không lấy gì làm vui vẻ. Cha vẫn
dạy môn Giáo Sử ở Chủng Viện, cầu nguyện, nghiên
cứu và làm việc mục vụ. Nhưng cuộc sống bình thản
ấy không được lâu. Ngày 23.5.1915, nước Ý nhập
cuộc với Pháp và Anh, và tuyên chiến với Áo, mong
sẽ chinh phục được vùng Trentin, Trieste và Istrie ở
bên kia biên giới Ðông Bắc, nơi cư dân nói tiếng Ý.
Có nghĩa là cha Roncalli sẽ phải nhập ngũ. Ðời sống
trong quân ngũ không hẳn là xa lạ với cha, vì năm 20
tuổi (1901), chủng sinh Roncalli đã thi hành nghĩa vụ quân
sự. Lúc đầu thì thật khổ, anh chủng sinh trong sáng
rơi vào giữa nếp sống lính tráng dung tục. "Ôi!
Sao thế gian xấu xa thế! Bẩn quá, nhơ nhớp quá...
Ðời lính là một con suối thối tha..." Nhưng dù sao dân Ý là dân có đạo, Angelo lại là
người đàng hoàng dễ mến, chỉ cần vài tuần là sự
ngán ngẩm với đời lính "hầu như tan biến hết."
Cả các sĩ quan lẫn lính trơn đều tỏ ra rất tử
tế. Anh Roncalli giải ngũ với cấp bậc trung sĩ. Và đến nay thì lại được động viên: "Ngày
mai tôi lên đường nhập ngũ trong ngành Quân Y, không
biết tôi sẽ được phái đi đâu? Có lẽ ra tiền
tuyến chăng? Tôi có còn được trở về quê hương
Bergamo hay là Chúa đã định cho tôi giờ cuối cùng là
ở chiến trường? Không thể biết được. Tôi chỉ
muốn một điều, là Ý Chúa trong mọi sự, ở mọi nơi;
hy sinh mình đến tận tuyệt vì vinh quang của Chúa. Chỉ
có như thế tôi mới ngang tầm với Ơn Gọi của mình
và tỏ bày bằng hành động lòng yêu mến đối với
tổ quốc và linh hồn các anh em tôi. Tôi đã sẵn sàng
và trong lòng vui vẻ. Trung sĩ Roncalli đến trình diện ở bệnh viện San
Ambrogio, thành phố Milano. Các thương binh đầu tiên đang
được đưa về từ mặt trận. Trung sĩ Roncalli được
điều ngay về làm y tá ở bệnh viện Bergamo, và mười
một tháng sau được cử làm Tuyên Uý, cấp bậc trung
úy. Ngày nay, ta còn một tấm ảnh chụp cha Tuyên úy,
với một bộ ria mép khá rậm. Tâm trạng của cha Roncalli cũng giống như tâm trạng
của người dân các nước lâm chiến thời đó, nghĩa
là yêu nước tuyệt đối và rất dân tộc chủ nghĩa.
Cha viết cho chú em Giuseppe khi đó đã bị bắt làm tù
binh: "Những người đã và đang cai trị chúng ta
không xứng đáng để ta phải hy sinh cho họ; nhưng tổ
quốc ngày nay đang lâm nguy thì xứng đáng để ta hy sinh
mọi sự: con người qua đi nhưng tổ quốc trường tồn!" Cha lại viết cho một người em khác, Zaverio: "Bây
giờ kẻ thù đã ở trong nhà, phải đuổi nó đi bằng
mọi giá, nếu không thì còn tồi tệ hơn. Ai có nhà
nấy. Chúng ta cũng có những sự sai trái, nhưng ngày
nay bổn phận của chúng ta là chấp nhận mọi hy sinh để
đẩy nước Ðức ra ngoài, ra khỏi nước Ý!" Những ý tưởng như trên đây rất phổ biến trong
lời nói cũng như thư từ của vô số người Châu
Âu, không phân biệt nam nữ, trong thời Thế Chiến
thứ nhất. Ðó là những ý tưởng chân thành mà
lại quá dân gian. Nếu so sánh những ý tưởng ấy
của cha Roncalli với bức Thông Ðiệp nổi tiếng "Hòa
Bình trên Thế Giới" ( Pacem in Terris ) của
Ðức Giáo Hoàng Gio-an 23 năm mươi năm sau, ta mới
thấy trong năm mươi năm ấy, ngài đã đi một đoạn
đường dài như thế nào. Vào lúc sắt máu ấy, chỉ có một nhà lãnh đạo
ở Châu Âu có một tầm nhìn bao quát để đề cao hòa
bình: Ðức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô 15. Ngay từ khi
lên ngôi, ngài đã có 3 điều quyết tâm: Tuyệt đối
vô tư giữa các bên tham chiến - Nỗ lực không ngơi
nghỉ để làm việc thật tối đa cho mọi người không
phân biệt cá nhân, quốc tịch, tôn giáo - Không từ
nan một việc gì khả dĩ chấm dứt chiến tranh càng sớm
càng tốt." Tiếc thay, thời đó phe nào cũng đòi toàn thắng.
Phe nào cũng trách móc gay gắt Ðức Giáo Hoàng là
đã không đứng về phe mình. Ðức Bê-nê-đích-tô 15
nhận định rằng hai phe đều không tiếc lời đả kích
ngài, thì đó là bằng chứng đối với lương tâm
ngài rằng ngài đúng là vô tư thật. Ngài dùng lời
sách I-sai-a (58, 1) làm kim chỉ nam: "Clama, ne cesses":
"Hãy cất tiếng kêu, đừng bao giờ ngừng.".. Kêu
đây là kêu gọi hòa bình. Ngày 1.8.1917, Ðức Bê-nê-đích-tô 15 đề xuất hẳn
một chương trình 7 điểm để chấm dứt chiến tranh: 1. Lấy "sức mạnh của công lý" thay cho sức
mạnh của võ khí. 2. Cả hai bên tham chiến đồng thời tài giảm binh bị
trên cơ sở có qua có lại. 3. Thiết lập một định chế trọng tài quốc tế. 4. Tự do giao thông đường biển cho mọi nước. 5. Cả hai bên đều không đòi hỏi bồi thường
chiến tranh. 6. Triệt thoái và phục hồi các lãnh thổ bị chiếm
đóng. 7. Xem xét "trong tinh thần hòa giải" những
tranh chấp về lãnh thổ của đôi bên. Ngài phong chức Tổng Giám Mục cho một vị đặc sứ
để thương lượng, soạn thảo và xúc tiến kế hoạch
này: vị đặc sứ đó là Ðức Cha Pacelli, sau này sẽ
là Giáo Hoàng Pi-ô 12. Lại một lần nữa, kế hoạch bị cả hai bên khước
từ. Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson cho gửi đến Vatican
một bức thư dài, lời lẽ khá nghiệt ngã, đại ý
nói rằng không thể chấp nhận một kế hoạch như thế
bao lâu chưa đập tan tành đế chế Ðức (nước Mỹ
đã nhảy vào vòng chiến ngày 6.4.1917). Một điều đáng buồn là các giới Công Giáo ở
cả Pháp lẫn Ðức, kể cả những vị trong hàng Giáo
Phẩm, cũng bị cuốn vào cơn hăng máu chiến tranh, và
không muốn nghe lời Ðức Giáo Hoàng. Ở Pháp, có vị
Linh Mục nổi tiếng còn lên cả tòa giảng, trước mặt
các bậc vị vọng đạo đời, để giảng một bài nảy
lửa: "Thưa Ðức Thánh Cha, vào lúc này, chúng
con không thể chấp nhận lời ngài kêu gọi hòa bình;
chúng con chủ trương chiến tranh quyết liệt. Chúng con
là những đứa con đôi khi nói: Không, không, giống
như đứa con có vẻ cứng đầu trong Tin Mừng." Khi Ðức Thánh Cha đưa ra lời cầu nguyện: "Ôi
Vua Hòa Bình, chúng con khiêm tốn khẩn cầu Ngài ban Ơn
Hòa Bình mà chúng con khao khát," có vị Giám
Mục lại tự tiện dịch thành: "Chúng con khiêm
tốn khẩn cầu Ngài ban cho một nền hòa bình làm vinh
danh đất nước chúng con," một vị Giám Mục
khác lại diễn giải như sau: "Tiếp tục chiến tranh
để chinh phục hòa bình: như thế chắc chắn sẽ đáp
ứng lòng mong mỏi của Ðức Bê-nê-đích-tô 15." Thế mới biết có những đam mê tập thể to lớn
đến nỗi người có Ðức Tin mà không cảnh giác
cũng bị quáng mắt, và sẽ lấy Ðức Tin làm một món
ngụy trang hời hợt cho những tham lam rất trần tục,
và cả những người tưởng như đã từ bỏ mọi sự
vẫn sa vào chước cám dỗ của ý chí kiêu căng. Và
thế là đại chiến cứ phát triển đến mức tận
cùng, cho đến tháng 11 năm 1918. Khoảng 9 triệu người
chết vì chiến cuộc, trong đó, Ðức và Áo 3.000.000,
Pháp 1.450.000, Nga 1.700.000... Không kể vô số chấn
thương vật chất và tinh thần. Bây giờ thì đế chế Ðức đã sụp đổ. Bây giờ
đến lượt tổng thống Wilson đưa ra kế hoạch hòa bình
nổi tiếng, gồm 14 điểm, điểm then chốt là thành lập
Hội Quốc Liên để giải quyết mọi tranh chấp bằng
đường lối ngoại giao, kế hoạch này rất giống với
kế hoạch 7 điểm của Ðức Thánh Cha một năm trước
đó. Ngày nay, nói chung, người ta nhìn nhận kế hoạch
của ông Wilson được xây dựng trên những gợi ý
của Ðức Thánh Cha. Ông Wilson trở nên thân thiện
với Tòa Thánh. Nhưng nay đến lượt ông thất bại.
Các nhà chính trị đầu có sạn ở Châu Âu bực bội
coi ông là người mơ màng, lý tưởng hão (ông xuất
thân là giáo sư Triết Học), còn Quốc Hội Mỹ thì có
khuynh hướng cô lập, không thích can dự vào việc
quốc tế, bản thân ông Wilson cũng sắp suy sụp vì tai
biến mạch máu não, Hội Quốc Liên chỉ có hình thức
mà không có thực chất. Cuối cùng thì chủ trương
"được ăn cả" đã thắng. Nhưng nó để lại
những uất hận dọn đường cho Hitler lên nắm chính
quyền ở Ðức, và gây ra Thế Chiến thứ hai, làm
chết 55 triệu người. Các đề nghị trung gian hòa giải và kế hoạch hòa
bình của Ðức Bê-nê-đích-tô không được ai chấp
nhận; ngài chỉ có thể hết sức cứu giúp những
người đau khổ. Năm 1915, ngài yêu cầu các nước
lâm chiến phóng thích hoặc trao đổi những dân
thường bị tù chiến tranh theo thứ tự ưu tiên: Phụ
nữ và thiếu nữ, trẻ nam dưới 17 tuổi, người lớn
trên 55 tuổi, các bác sĩ, các Giáo Sĩ, mọi người bị
khuyết tật hoặc không có khả năng quân dịch. Chỉ trong một tháng, 3.000 người Bỉ và 20.000 người
Pháp liền được trở về gia đình. Qua năm 1916, ngài
lại đề nghị những tù nhân có 4 con nhỏ được xuất
trại và an dưỡng ở Thụy-sĩ. Hai phe đều tích cực
hưởng ứng và chính phủ Thụy-sĩ tiếp tay nhiệt tình.
Qua năm 1917 là dịch vụ săn sóc các tù binh bị bệnh ho
lao. Những người này được phóng thích vô điều
kiện và đưa đi an dưỡng ở một số vùng núi cao.
12.376 người Pháp, 8.594 người Ðức, 1.822 người Bỉ,
964 người Anh được chiếu cố. Thường dân bị tan nát nhà cửa, trẻ con ốm đói
thì đông vô số. Ðức Thánh Cha mang hết ngân quỹ
của Tòa Thánh ra cứu trợ, đến nỗi khi ngài qua
đời đầu năm 1922, Tòa Thánh phải đi vay tiền để
trang trải chi phí Tang Lễ và tổ chức Mật Hội bầu
Giáo Hoàng mới. Một hoạt động nữa là thăm viếng các tù nhân.
Ở mọi nước lâm chiến, Tòa Thánh đều cử đại
diện để làm công việc này. Một việc từ thiện
khác rất xuất sắc là giúp các gia đình bị ly tán vì
chiến cuộc liên lạc lại được với người thân.
Ngày ấy chiến tranh vô cùng dữ dội, mọi thông tin
liên lạc đều khó khăn. Từ ngày Ðức Thánh Cha huy
động nhân lực của Vatican, với nhiều Nữ Tu, vào
công việc này, không biết bao nhiêu thư từ gửi đến
xin tìm chồng, cha, con, anh, em mất tích. Có những mảnh
giấy viết lem nhem bằng bút chì, có những tờ đầy
lỗi chính tả của những người cùng khổ ở khắp hang
cùng ngõ hẻm gửi đến cầu cứu. Cho tới khi đó,
chưa có một tổ chức quốc tế nào vượt qua nổi
những chiến tuyến thù địch sắt máu để nối lại
liên lạc. Sáng kiến của Ðức Thánh Cha được
hưởng ứng đến mức trở nên hiện tượng, và
hàng Giám Mục Ðức, Áo, Thụy-sĩ cũng noi gương vào
cuộc. Vậy mà công cuộc này sẽ phải ngưng lại, vì phe
chống Giáo Hội ở Ý vu khống ầm ĩ rằng đây là
một tổ chức gián điệp. Dù sao thì cũng đã có rất
nhiều người gửi thư đến Vatican cám ơn vì họ đã
nhận được tin tức của người thân. Giữa cảnh bi thảm bao trùm cả Châu Âu và cả Giáo
Hội đó, cha Roncalli làm gì? Công việc không thiếu.
Mỗi ngày các xe cứu thương từ những trạm cấp cứu
ở tiền tuyến trở về đầy những thương binh, người
mất tay, người cụt chân, có những người băng bó
kín bưng cả đầu cả mắt. Ngày đêm cha Tuyên Uý vẫn
có mặt trong bệnh viện, đi hết giường này đến
giường khác, cử hành các Bí Tích, tâm sự tỉ tê
với từng người. Một thương binh nhớ lại: "Mỗi
ngày cha đều đến ngồi bên giường tôi... Lúc nào
cha cũng có sẵn một lời khích lệ, đem đến một tia hy
vọng. Cha có cả một tổ chức rất tốt để chuyển thư
từ, mặc dù hồi đó sự liên lạc khó khăn. Cha bảo
một lá thư từ gia đình gửi đến thì hiệu quả hơn 2
tuần chữa trị." Ngày 24 tháng 10 năm 1917, quân đội Ý bại trận thê
thảm ở Caporetto, trước quân Áo - Ðức:180.000
người bị bắt làm tù binh, 1.500 đại bác bỏ lại
trên chiến trường. Những ngày sau đó các bệnh viện
miền Bắc Ý đầy nghẹt thương bệnh binh. Dịch cúm do
tàn quân từ mặt trận đưa về được thể lan tràn
dữ dội. Chỉ trong 2 tháng, mấy ngàn người chết vì
cơn bệnh này. Cha Roncalli ở bên giường những người
hấp hối hàng mấy giờ liền. Cha thì thầm vào tai họ
những lời bình an, ghi nhớ những tâm sự trối trăn
của họ. Lúc này cha không còn phân biệt họ là
người Ý hay tù binh Áo - Ðức. Trong một bức thư đề ngày 4.4.1918, cha viết: "Chiến
tranh đã tạo dịp cho tôi lại gần các tâm hồn hơn
trước và học được những đường lối tốt nhất
để động tâm họ. Cho nên đây là một kinh nghiệm
đã và vẫn đang gây nhiều hậu quả tốt lành nơi tôi,
nhờ thế mà bản thân tôi tốt hơn, tôi biết thông
cảm hơn với những lỗi lầm của người khác, biết
quên mình và quên tất cả những gì có thể tạo danh
giá cho tôi ở đời này." (Trích từ Ephata Việt Nam số 96) (còn tiếp) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |