TRONG DÒNG ÐỜI 

CHỈ CÓ HÔM NAY

Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR.

Tin Cha Gildo Dominici Ðỗ Minh Trí, SJ qua đời Thứ Hai ngày 03/03/2003 sau một thời gian dài chịu bệnh đã nhắc tôi nhớ đến biết bao kỷ niệm đáng yêu về vị linh mục khả ái khả kính này.

Cha Dominici là vị linh mục đầu tiên tôi được gặp sau khi vượt biên đến trại tị nạn Galang tháng 07/1981, sau hơn một tháng ở đảo Kuku thuộc Indonesia. Vừa đặt chân đến trại Galang, tôi đã đọc được tấm biển đề: "Galang - Cửa Ngõ của Tự Do và Tình Người". Sau hơn 13 tháng ở Galang, tôi đã nhận ra rằng, với tính cách là linh mục tuyên úy cho người tị nạn trong trại, Cha Dominici đã là biểu tượng cho lý tưởng yêu chuộng tự do và cổ võ tình người thấm nhuần đức ái Kitô đối với tất cả mọi người tị nạn Việt Nam bất kể lương giáo.

Ngay lần đầu tiên được tham dự Thánh Lễ do ngài cử hành trong nhà thờ của trại Galang, tôi đã đem lòng yêu kính, biết ơn, ngưỡng mộ ngài vì ngài đã có thể làm lễ bằng tiếng Việt và có những bài giảng thật súc tích và đầy ắp tình mến Chúa yêu người. Sau này, tôi được biết ngài sinh tại Ý năm 1935, chịu chức linh mục năm 1960 sau chuyển sang Dòng Tên và đã từng là giáo sư tại Giáo Hoàng Học Viện Ðà Lạt ở Việt Nam. Do đó, ngài thông thạo tiếng Việt. Sau biến cố 30/04/1975, ngài bị trục xuất khỏi Việt Nam, nhưng tình yêu sâu xa dành cho dân Việt vẫn theo ngài suốt cuộc đời còn lại. Vì thế, ngài đã tìm cơ hội đến phục vụ người tị nạn Việt Nam tại trại tị nạn Galang.

Tình yêu Cha Dominici dành cho người Việt tị nạn khiến ngài đã tận tâm quyên góp tiền bạc từ các cơ quan thiện nguyện quốc tế và các nhà hảo tâm ở mọi nơi trên thế giới để giúp đỡ mọi người trong trại. Trong vai trò tuyên úy trại tị nạn, rất nhiều lần ngài đã can đảm lên tiếng bênh vực người Việt tị nạn khi họ bị cảnh sát Indoneisia ức hiếp. Ðể thư từ và tiền bạc của người tị nạn khỏi bị thất thoát, Cha Dominici đã cho họ mượn tên và địa chỉ của ngài để liên lạc với thân nhân nước ngoài.

Hơn nữa, ngài còn quan tâm đến đời sống văn hóa và tinh thần của người tị nạn, nên đã bỏ tiền để lập ra bán nguyệt san Tự Do góp phần nuôi dưỡng tinh thần người tị nạn. Tình yêu mến đặc biệt của ngài dành cho đất nước và con người Việt Nam được diễn tả trong những bài giảng và những bài báo của ngài trên bán nguyệt san Tự Do, và những bài báo ấy sau này được in lại trong tác phẩm Việt Nam, Quê Hương Tôi.

Hơn bất cứ người Việt Nam nào khác, Cha Dominici là người đã giúp tôi có thêm lòng tự hào dân tộc đích thực bằng cuộc sống và lời giảng đầy yêu thương của ngài. Những điều ngài nhấn mạnh hơn cả khi có dịp gặp gỡ người Việt tị nạn là người Việt tị nạn phải có tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc để đừng có thái độ ăn xin khi có thể tự lập, phải sống cho đáng sống vì sự tự do của họ đã phải trả bằng một giá quá đắt, và phải biết yêu thương hiệp nhất với nhau.

Biến cố 30/04/1975 dẫn đến hiện tượng người Việt Nam bắt đầu hiện diện ở nhiều nơi trên giới được Cha Dominici đón nhận sự một biến cố hồng ân. Theo ngài, từ biến cố đóù "người Việt nở hoa trên toàn thế giới". Ngài muốn nói đến việc người Việt Nam sẽ gieo rắc tinh thần Việt Nam, tinh thần yêu Chân-Thiện-Mỹ, ở mọi nơi họ sống để mọi người biết đến và yêu mến đất nước, con người và văn hóa Việt Nam. Noi gương Thánh Phaolô, người "đã nên mọi sự cho mọi người để đem mọi người về với Chúa", Cha Dominici thực sự "đã nên người Việt cho người Việt để đem người Việt về với Chúa".

Ðiều tâm đắc hơn cả đối với Cha Dominici là rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô cho mọi người. Linh đạo ảnh hưởng sâu đậm nhất nơi cuộc sống và lời giảng của ngài là linh đạo hiệp nhất của Phong Trào Focolare do Bà Chiara Lubich sáng lập. Ngài hay nhấn mạnh đến tính cách trung tâm và tuyệt đối của Chúa Kitô trong đời sống tín hữu.

Cha thường tha thiết kêu gọi mọi tín hữu Công Giáo phải nỗ lực sốt sắng đọc, nghe, học hỏi, suy niệm và thực hành Lời Chúa, Lời duy nhất mang lại sự sống và niềm vui đích thực. Với ngài, điều mà nhân loại hôm nay cần hơn cả không phải là có thêm nhiều linh mục hay tu sĩ mà là những vị thánh, những Chúa Kitô khác! Ðiều mà mọi người phải quan tâm hơn cả không phải là thành công trong việc học, việc làm, tình cảm, danh phận, nhưng là thành công trong tình yêu thương hiệp nhất.

Tháng 09/1982, tôi rời Galang để đi định cư tại Mỹ, lòng mãi ghi sâu hình ảnh linh mục thánh thiện vui tươi của Cha Dominici, và ngày ngày tôi vẫn nhớ cầu nguyện đích danh cho ngài như một trong những đại ân nhân của đời tôi.

Khi không còn làm tuyên úy cho người tị nạn nữa, Cha Dominici tiếp tục góp phần xây dựng và củng cố niềm tin cho người Công Giáo Việt Nam tại hải ngoại qua việc giảng tĩnh tâm và linh thao cho các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam và các đoàn thể Công Giáo tiến hành. Nhờ vậy, tôi đã được vui mừng gặp lại Cha Dominici khi tham dự buổi tĩnh tâm do ngài hướng dẫn cho cộng đoàn giáo dân Việt Nam ở Oklahoma City năm 1985. Sau khi thụ phong linh mục năm 1994, tôi còn được gặp lại ngài trong buổi họp mặt với các anh chị trong Nhóm Hiệp Nhất (sống theo tinh thần Phong Trào Focolare).

Khoảng năm 1997, tôi được mời đến phụ giúp giải tội và đồng tế Thánh Lễ với Cha Gildo Dominici khi ngài hướng dẫn tĩnh tâm cho một nhóm linh thao ở Orange County. Khi tôi hỏi ngài: "Cha có cần gì không?" Ngài đã mỉm cười trả lời: "Con chỉ cần sự thánh thiện." Câu trả lời cho thấy nơi ngài lòng khát khao nên thánh thật sâu xa, đơn sơ và chân thực.

Khi nghe tin ngài qua đời, tôi nhớ ngay đến bài báo ngài đã viết cách đây hai ba năm trên tờ Ðồng Hành của Phong Trào Linh Thao Việt Nam. Khi ấy, ngài đã bắt đầu đau nặng không thể đi giảng đó đây như trước được. Từ kinh nghiệm mang bệnh như thế, ngài đã chia sẻ với mọi người rằng ngài tìm thấy niềm vui và sức mạnh nội tâm nơi Chúa Kitô khi nỗ lực sống theo khẩu hiệu "sống giây phút hiện tại với tình yêu lớn nhất—live the present moment with maximum of love".

Tôi có cảm tưởng đó chính là di ngôn tuyệt hảo ngài muốn trối lại cho tôi và những ai ngài từng gặp gỡ trên đời này.

Khẩu hiệu này khiến tôi nhớ đến lời nguyện và bài thơ "Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa" được một cô bé học viên khóa học về Lòng Sùng Kính Thánh Tâm sáng tác và gửi tặng tôi dịp sinh nhật tháng trước: "To love you, Jesus, I only have today - Lạy Chúa Giêsu, con chỉ có hôm nay để yêu Chúa".

Lạy Chúa là Chúa tình yêu!
Chúa yêu con thuở con chưa chào đời.
Chúa ơi, Chúa quá yêu con.
Biết con yếu đuối, nhưng Ngài vẫn yêu.
Con đây chỉ ước một điều:
Yêu Chúa như Mẹ, yêu nhiều không ngơi.
Mến Mẹ như Chúa mà thôi.
Chúa ơi, chỉ vậy con đây thỏa lòng.

Cùng với di ngôn của Cha Dominici, lời nguyện và bài thơ trên khích lệ tôi thật nhiều trong nỗ lực yêu mến Chúa trong giây phút hiện tại, như tôn chỉ của Cha Dominici theo gương mẫu của Mẹ Maria.

Lạy Chúa Giêsu rất yêu dấu, cùng với Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse con yêu mến Chúa, con thờ lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã cho con được gặp Cha Dominici trong buổi đầu đời tị nạn tha hương, được ngài dạy con thêm lòng yêu mến và tự hào vì được là người Việt, được ngài giải tội, trao ban Lời Chúa và Mình Thánh Chúa, được ngài hướng dẫn trên con đường yêu thương hiệp nhất và được có ngài làm mẫu gương linh mục thánh thiện cho đời con.

Xin Chúa giúp con biết ghi nhớ mãi những lời dạy quý báu và hình ảnh thánh thiện vui tươi của ngài, nhất là biết cố gắng noi gương ngài, sống giây phút hiện tại với tình yêu lớn nhất, tình yêu đối với Chúa, với Mẹ Maria, với Hội Thánh và với mọi người. Amen.

(Mar. 19, 2003)


NGỌN LỬA THÁNG HAI

 

Trên trang nhất Nhật Báo Los Angeles Times số ra ngày 01/03/2002, tròn một tháng kể từ biến cố Phi Thuyền Columbia bị nổ tung, có đăng hình ảnh hai phi hành gia William C. McCool và Rick D. Husband ít phút trước khi phi thuyền bị nổ tung. Người ta có được những hình ảnh này khi tìm được cuốn video 13 phút trên phi thuyền rơi xuống tại Texas cùng với những mảnh vụn của phi thuyền.

Trong cuốn video này, người ta thấy các phi hành gia không hay biết tí gì về tai nạn sắp xảy ra cho họ. Họ đang làm những điều họ thích nhất: chiêm ngưỡng vẻ đẹp của không gian khi về gần trái đất. Người ta nghe được phi công McCool nói với trưởng phi đoàn Husband: "Ôi đẹp quá! Mầu cam và màu vàng thật sáng. Tất cả ngay trước mũi mình... Thật tuyệt vời! Thật sáng bên ngoài kia!" Và Anh Husband đùa lại: "Ðúng rồi! Nhưng chắc hẳn anh không muốn ở ngoài đó đâu!"

Cả bảy người trong phi hành đoàn đã ra đi về cõi đời đời đang khi sống những giây phút tuyệt vời nhất trongsứ vụ và cuộc đời của họ, giữa khoảng không bao la bát ngát như giữa khối tình vô biên của Thiên Chúa cao cả. Ngọn lửa của chiếc phi thuyền bốc cháy của họ đã làm cho cả thế giới biết đến lý tưởng phục vụ khoa học và thám hiểm không gian cao cả của họ.

Không đầy 3 tuần sau, vào tối Thứ Năm ngày 20/02/2003, truyền hình, truyền thanh và báo chí tại Mỹ lại loan tin một ngọn lửa khác gây chú ý cho mọi người: ngọn lửa tại hộp đêm có tên là"The Station" tại thành phố West Warwick ở bang Rhode Island khiến 97 người thiệt mạng và khoảng 200 người khác bị thương.

Vụ cháy xảy ra vì việc đốt pháo bông trong buổi trình diễn củaban nhạc rock mạnh (heavy metal rock) Great White. Chuû nhaân cuûa hoäp ñeâm phuû nhaän vieäc cho pheùp ñoát phaùo boâng trong buoåi trình dieãn, trong khi ban nhaïc cho raèng vieäc naøy ñaõ ñöôïc chuû nhaân hoäp ñeâm chaáp nhaän. Baùo Los Angeles Times soá ra ngaøy 02/03/2003 cho biết các vụ kiện liên quan đến vụ cháy này có thể lên đến 500 triệu Mỹ kim.

Dù bên chủ nhân hay bên ban nhạc có chấp nhận hay khước từ trách nhiệm thế nào đi nữa, những người bị thiệt mạng hay phải mang thương tích vì vụ cháy trên vẫn là những người phải gánh chịu thiệt thòi vì chính họ đã chọn đến tham dự buổi trình diễn của ban nhạc rock Great White. Ðược biết các nạn nhân của vụ cháy này là những người trẻ từ thiếu niên đến tuổi 30.

Nhân vụ cháy ở hộp đêm "The Satation", báo chí Hoa Kỳ đã ghi lại những vụ cháy gây chết người nhiều nhất trong lịch sử Hoa Kỳ như sau:

- 492 người chết tại hộp đêm Coconaut thuộc thành phố Boston năm 1942.

- 198 người chết tại hộp đêm Rhythm thuộc thành phố Natchez, bang Mississipi năm 1940.

- 165 người chết tại hộp đêm Beverly Hills Supper Club thuộc thành phố Southgate, bang Kentucky năm 1977.

- 87 người chết tại hộp đêm Happy Land Social Club tại thành phố New York năm 1990.

Như vậy, số người chết tại hộp đêm "The Station" đứng hàng thứ tư trong số những vụ cháy tại các hộp đêm gây chết người nhiều nhất.

Tôi tự hỏi: "Tại sao khi biết tin về vụ cháy tại hộp đêm "The Station" với số người chết gấp hơn một chục lần số các phi hành gia tử nạn trên Phi Thuyền Columbia trong tháng hai vừa qua, dù xót xa cho số phận các nạn nhân và gia đình của họ, tôi không có sự xúc động mãnh liệt như khi tôi nghe tin Phi Thuyền Columbia bị nạn?"

Câu trả lời đã được tìm thấy nơi nguyên nhân và bối cảnh cho sự hiện diện của những nạn nhân của hai vụ cháy trên.

Các phi hành gia của Phi Thuyền Columbia đã chết trên đường nghĩa vụ. Ngọn lửa bùng cháy giữa không gian bao la vời vợi đưa họ về cõi đời đời cũng là biểu tưởng ngọn lửa của lý tưởng dấn thân phục vụ khoa học và nhân loại trong sứ vụ thám hiểm không gian cao cả trong trái tim của họ. Họ chết trong niềm vui phục vụ. Họ chết trong sự ngưỡng mộ, yêu mến và biết ơn của toàn thể nhân loại, cũng như trong sự thương tiếc nhưng đầy tự hào của gia đình và những người thân yêu của họ.

Những nạn nhân tử nạn trong các vụ cháy tại các hộp đêm trên đây đã chết trong lúc tự ý đi tìm thú vui nơi những bản nhạc rock ồn ào khơi dậy những đam mê thác loạn nơi tuổi trẻ. Họ chết vào buổi tối thứ Năm trong tuần ở tuổi thanh xuân, ở thời điểm mà lẽ ra họ phải đang miệt mài với việc học tập bên đèn sách hay chí thú theo đuổi nghề nghiệp phục vụ trong xã hội của họ. Việc đốt pháo bông gây ra vụ cháy ở hộp đêm "The Station" đã được các giới thẩm quyền xác nhận là không hợp pháp. Còn việc những người trẻ tìm đến cuộc vui thác loạn trên có được các phụ huynh có lương tri chấp nhận không? Phụ huynh, gia đình và những người thân yêu của các nạn nhân này có thể tự hào về cái chết của họ không?

Ngọn lửa của hộp đêm thiêu đốt sinh mạng của gần một trăm người trẻ tại hộp đêm "The Station" chính là biểu tượng của ngọn lửa đam mê hưởng thụ ích kỷ nơi những con người chỉ muốn chạy theo thú vui trần thế. Sự phủ nhận trách nhiệm gây ra vụ cháy của chủ nhân hộp đêm và ban nhạc rock cho thấy sự vô trách nhiệm của những kẻ chạy theo lợi nhuận trong việc khai thác bản tính ham vui hưởng thụ nơi những người trẻ thiếu lý tưởng cao thượng.

Hình ảnh chật chội của hộp đêm với tiếng nhạc ồn ào, những lời ca kích dục, những ánh đèn màu tranh tối tranh sáng, những làn khói thuốc, những áo quần loè loẹt khêu gợi, những mùi rượu nồng nặc, những điệu nhảy đầy đam mê phải chăng là hình ảnh của một chiếc bẫy ma quái nhằm giết chết cuộc đời và linh hồn của những con người với tâm hồn hẹp hòi chỉ biết tìm kiếm thú vui cho riêng mình?

Lịch sử thám hiểm không gian của Hoa Kỳ ghi nhận chỉ có 17 phi hành gia tử nạn trong nghĩa vụ. Chỉ trong 5 vụ cháy ở các hộp đêm trên đây đã có hơn 1,000 người thiệt mạng! Phải chăng sự kiện này cho thấy rằng con số những người dám sống và chết với lý tưởng vị tha cao cả thật hiếm hoi và ít ỏi so với con số những người chỉ sống theo đam mê và hưởng thụ cho riêng mình. Chúa Giêsu biết rõ điều này nên đã nói: "Hãy vào cổng hẹp. Vì rộng rãi thênh thang là con đường dẫn đến hư vong; và lắm kẻ đi ngang qua đó. Còn cổng hẹp và đường chật, thì dẫn đến sự sống, và ít kẻ gặp được nó" (Mt 7:13-14).

Giữa hai ngọn lửa đã bừng lên trong Tháng Hai năm 2003 này: ngọn lửa của Phi Thuyền Columbia--biểu tượng của ngọn lửa của tình yêu vị tha và sự tận tâm trong nghĩa vụ--và ngọn lửa nơi hộp đêm "The Station"—biểu tượng của ngọn lửa đam mê hưởng thụ, tôi muốn được được soi sáng và sưởi ấm, được sống và chết trong ngọn lửa nào?

"Chúa ban cho con một đời sống, Chúa cũng ban tự do để con để con làm thành một đời sống thánh thiện, cao đẹp hữu ích, hay phá tán thành một cuộc sống cằn cỗi, phản bội, độc hại, đê hèn" (Ðường Hy Vọng # 195).

(Mar. 20, 2003)


VÌ KHÔNG NGHE MẸ

Trên tuần báo The Wanderer số ra ngày 27/02/2003, ký giả Paul Likoudis tường thuật tin Cha Charles Fiore từ trần ngày 18/02/2003 tại thành phố Madison bang Wisconsin, hưởng thọ 68 tuổi sau một thời gian chịu bệnh lâu dài. Cha Fiore chịu chức linh mục trong dòng Ðaminh ngày 03/06/1961. Sau 30 năm trong Dòng Ðaminh, ngài được phép của Tòa Thánh để chuyển sang Tu Hội Linh Mục Thánh Phêrô năm 1992.

Ký giả Likoudis ghi nhận ba đặc nét của Cha Fiore như sau:

1. Cha là một sáng lập viên của phong trào Công Giáo bênh vực sự sống và cổ võ sự giáo dục học đường nơi gia đình Công Giáo. Bạn thân lâu năm của ngài là ông Margo Szews ở Wilwaukee nhận xét: "Ngài sẽ đi vào lịch sử như một trong những người bênh vực đức tin can đảm và vĩ đại nhất trong những năm xáo trộn sau Công Ðồng Vatican II. Ngài còn là một trong những linh mục Công Giáo đầu tiên đề xướng phong trào bênh vực sự sống ngay cả trước khi Tối Cao Pháp Viện cho phép phá thai năm 1973. Ngài đã đem lại khích lệ và giúp đỡ lớn lao cho các tín hữu Công Giáo tại Wisconsin và trên toàn quốc". Cha đã có nhiều cơ hội làm việc chung với Mẹ Têrêsa Calcutta và mời Mẹ đến Hoa Kỳ nhiều lần.

2. Tại Wisconsin, Cha Fiore được biết đến như một đối thủ trường kỳ của Tổng Giám Mục Rembert Weakland, người đã phải từ chức Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Wilwaukee trong ô nhục vào tháng 05/2002 vì có liên hệ đồng tính luyến ái với một người khác. Ông Al Szews là người đã mời Cha Fiore thuyết giảng tại Ðại Hội Toàn Quốc của Hội Tôn Sùng Thánh Danh ở Wilwaukee nhận xét: "Ngài có một lòng nhiệt thành mãnh liệt với thiên chức linh mục. Cha Fiore đặc biệt vì ngài có một khả năng và lòng can đảm lớn lao để nói sự thật trong niềm tin và lòng mến".

Năm 1990, với tính cách là một người lãnh đạo trong phong trào bênh vực sự sống, Cha Fiore đã lên tiếng yêu cầu Tổng Giám Mục Weakland phải từ chức vì giám mục này đã cho rằng một "người Công Giáo tốt" có thể ủng hộ quyền phá thai! Cha Fiore thẳng thắn nhận định: "Tổng Giám Mục Weakland rõ ràng là một kẻ thù của Giáo Hội Công Giáo và là một kẻ rối đạo... Trong khi Weakland có thể sống với những người Công giáo ủng hộ phá thai, thì rõ ràng các trẻ em chưa sinh ra không thể sống được vì phá thai!".

3. Trên bình diện toàn quốc tại Hoa Kỳ, Cha Fiore đã mạnh mẽ lên tiếng chống lại Cố Hồng Y Bernardin của Tổng Giáo Phận Chicago về sự dung túng cho những phong trào bất phục giáo huấn Giáo Hội và chống lại chính sách bao che những linh mục lạm dụng tính dục mà nhiều giám mục Hoa Kỳ đã từng theo đuổi trong nhiều năm qua.

Về những chủ chăn có lập trường bất phục Hội Thánh, năm 1994 Cha Fiore chia sẻ: "Tôi không thích những con người này. Tôi đã là linh mục 33 năm. Tôi kết hôn với Hội Thánh. Hội Thánh là Hiền Thê của tôi, và tôi không muốn những người này bỡn cợt với Người. Tôi không thích những gì tôi đang chứng kiến. Tôi không thích lối xử sự nước đôi của họ về các vấn đề tín lý".

Ông Steve Brady, người sáng lập tổ chức Trung Thành với Công Giáo Rôma, nhận xét về Cha Fiore như sau: "Trong tâm trí tôi, ngài trung thành với giáo lý chính tông 100% và hết lòng yêu mến Hội Thánh".

Bản tin về Cha Fiore trên đây giúp tôi nhận ra nơi ngài chân dung của một ngôn sứ đích thực, dám nói, dám làm và dám sống với lý tưởng bênh vực sự sống con người và niềm tin Công Giáo.

Lòng yêu mến, trung thành, vâng phục và bênh vực Hội Thánh và lòng tận tâm nhiệt thành can đảm để sống trọn ơn gọi linh mục nơi Cha Fiore đánh động tôi hơn cả. Tôi nghĩ đó cũng chính là bí quyết giúp Cha Fiore hoàn tất sứ vụ linh mục của ngài cách thánh hảo.

Nếu Cha Fiore là mẫu gương cao quý cho các linh mục về lòng yêu mến vâng phục Hội Thánh, thì Tổng Giám Mục Rembert Weakland, đối thủ trường kỳ của ngài, là minh họa điển hình cho số phận đáng buồn của những chủ chăn có tinh thần bất phục Hội Thánh.

Trong lá thư 11 trang đề ngày 25/08/1980 gửi cho Paul Marcoux, người đã bị Weakland lạm dụng tính dục và là người sau này đã tống tiền ông, Weakland viết: "Lẽ ra tôi không nên viết xuống những gì tôi không muốn cả thế giới đọc được, nhưng mặc kệ, tôi vẫn viết ra đây!... Tôi cảm thấy mình như kẻ giả hình nhất thế giới nên tôi đã dần dà nhận ra sự quan trọng của việc độc thân trong đời tôi".

Sau này, Marcoux dùng chính lá thư này để phơi bày tư cách đồi bại của Weakland. Tổng Giám Mục Weakland đã phải than tiếc vì không nghe mẹ ông dạy là đừng viết xuống những gì ông không muốn cả thế giới đọc được (The Wanderer 30/05/2002).

Ngày 15/05/1961, Chân Phuớc Giáo Hoàng Gioan XXIII đã ban hành Thông Ðiệp Mẹ và Thầy (Mater et Magistra 15/05/1961) để nhắc nhở mọi tín hữu Công Giáo rằng Hội Thánh vừa là Mẹ vừa là Thầy, để mọi người vừa yêu mến vừa vâng phục Hội Thánh. Việc Tổng Giám Mục Weakland bị ô danh vì không nghe lời mẹ ông dạy phải chăng là biểu tượng cho những thiệt hại lớn lao gấp bội cho Hội Thánh và các linh hồn bị gây ra do thái độ bất phục giáo huấn Hội Thánh nơi ông và những kẻ bất phục trong Hội Thánh.

Một lần nữa, tôi lại nhớ đến nhận định quý giá của Cha Phêrê Trần Ðoàn Kết trong cuốn video về tang lễ Ðức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận: "Chúa hạ những kẻ phản nghịch cùng Hội Thánh và nâng những người khiêm nhượng lên" và khuôn vàng thước ngọc cho các linh mục mà các cha giáo trong chủng viện xưa nay vẫn thường dạy: "Sentire cum Ecclesia--Hãy có cùng cảm nghĩ với Hội Thánh".

Lạy Mẹ Maria là Mẹ Hội Thánh, xin Mẹ dạy con và giúp con luôn hết lòng yêu mến, trung thành, vâng phục và bênh vực Hội Thánh Chúa Kitô, luôn có cùng cảm nghĩ với Hội Thánh và trong Hội Thánh, để mãi mãi là con thảo của Mẹ và của Hội Thánh. Ðó chính là chân thành thực hiện di ngôn duy nhất Mẹ đã ân cần trối lại cho chúng con nơi tiệc cưới Cana: "Người có bảo gì, hãy làm theo" (Jn 2:5). Amen.

(Mar. 21, 2003)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu  
E-mail : ducme@cuuthe.com