TỰ THUẬT

(Kỳ 35)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

Ghét Pháp

Thưa cha thân ái, để cha khỏi bận tâm thắc mắc về một câu truyện nào đã xẩy ra trong đời con, con xin thành thật chú cước một hai dòng về vấn đề "ghét Pháp" con vừa tả ở trên.

Thưa cha thật ra trong đời con chưa khi nào làm chính trị, cho đến chữ cách mạng con cũng chưa thông hiểu cách rõ rãng. Con chỉ nhớ, hồi con dưới mười hai tuổi, không bao giờ con bận trí về vấn đề ghét Pháp cả. Trái lại con rất ưa người Pháp. Hồi còn ở nhà quê, thỉnh thoảng con lại thấy gia đình ông đồn đem nhau về dự lễ ở nhà thờ xứ. Họ là những người Pháp lịch thiệp, nhã nhặn, và có vẻ hiền hậu; những cô cậu con ông bà cũng có những tư cách dễ yêu dễ mến; sạch sẽ, ngây thơ, và có những cái làm con thích bắt chước một đời sống như họ.

Ðể chứng tỏ điều ấy, con còn nhớ một mẫu truyện chính thân phụ con đã kể lại rằng: "Lần đầu tiên thằng cu Văn thấy cậu con ông đồn mặc bộ đồ complet bảnh và gọn ghẽ, đi về nhà thờ xứ dự lễ. Nó ngắm nghía mãi, và xem ra nó có vẻ ước muốn có một bộ đồ như thế. Thế mà thật, về nhà nó cứ nằng nẵng vòi thày may cho một bộ đồ giống như thế cho nó mặc. Ðối với nó lúc ấy những chiếc áo the long nguyệt, với những chiếc quần sồi trắng không làm được cho nó thỏa thích nữa. Nó muốn vứt hết những thứ quí ấy để đổi lấy một bộ đồ tây."

Tuy nhiên không bao giờ con được thày theo ý cho con mặc y phục tây. Con chắc rằng con đã phải hao tổn nhiều nước mắt lắm, khi con bị từ chối như vậy. Nhưng đấy là cái thói quen của con hồi còn nhỏ.

Nhưng đến khi con đã lên mười hai tuổi những cái mã hiền từ kia không lôi cuốn được sự ưa chuộng của con nữa.

Con xin thú thật rằng con bắt đầu ghét Pháp ngay từ lúc con xem xong cuốn phim, mà con đã không biết đến nhan đề của nó, hồi con ở Thái Nguyên, như con đã có dịp thưa hầu cha ở mấy chương trên. Những người Pháp ngay từ lúc ấy con đã cho là những quân thù số một của dân tộc. Con ghét họ, và chỉ mong muốn phá hủy những rạp chiếu bóng.

Thêm vào đấy, ngày quân đội Nhật tràn vào Việt nam, bao nhiêu những truyền đơn cách mạng lợi dụng tình thế bay ra như rác. Người ta đã cổ động cách mạng bằng truyền đơn, và bằng những bài diễn thuyết thật vắn, chỉ độ trong vòng mười phút, do những ủy viên cách mạng gửi đến các vùng quê để thức tỉnh lòng dân chúng. Phần nhiều họ là những giáo viên.

Thật ra, hồi đó con chả thích tí nào, và cũng chả muốn nghe họ diễn thuyết. Thế mà, những lời họ nói cũng lọt qua tai con, và thấu nhập vào trí não.

Con còn nhớ một lần, hồi ấy con đang sửa soạn đi thi. Ðang một buổi học, chúng con thấy một trang thanh niên, chẳng biết tự đâu xuất hiện. Cậu ta ngấp nghé ở ngoài cửa trường đến mười lăm phút. Sau cùng mới xồng xộc chạy vào nhà trướng, chào thày giáo và học trò một cách lịch thiệp, tỏ rõ là một trang thanh niên trí thức, nhưng vẻ dạng thì chả học thức tí nào: đầu tóc thì bờm xờm, mặt mũi hốc hác; mặc bộ âu phục xốc xếch từ vai cho đến ống quần. Anh ta đặt chiếc cặp da cũ lên bàn thày giáo, rồi xoa tay xin phép nói vài lời với học sinh về thời cuộc. Từ thày giáo cho đến học sinh ai ai cũng điều bỡ ngỡ trước cử chỉ đột ngột của anh ta.

Ðang lúc ấy, anh ta lên giọng và múa tay diễn thuyết cho nhà trường một bài về nạn thực dân Pháp, và ách nô lệ của dân tộc Việt Nam. Giọng anh đượm một vẻ hùng hồn và cương quyết, khiến chúng con ai nấy điều xúc động, và như có cái gì thúc đẩy nghe theo một cách thành thật.

Nhưng bài diễn thuyết của anh kết thúc một cách mau lẹ bằng một câu:

- Một người học sinh mà không yêu tổ quốc, không nhìn đến giống nòi, không lo toan giải ách nô lệ cho giang sơn, người học sinh ấy là người đáng phải chịu thiêu sinh!

Anh chào mọi người rồi lại xách cặp ra đi.

Sau lần ấy và lần khác nữa con cứ bị chúng bạn rủ đi nghe diễn thuyết "mười phút" ở những nơi đầu đường xó chợ, và do những chàng hùng biện "đầu bù tóc rối" chiêu mời những anh học sinh như chúng con.

Những bài diễn thuyết ấy đối với con chả ăn thua gì cả. Có lúc con còn thì thào với những anh em bạn thính giả với con rằng:

- Me sừ này không chừng đã bị Pháp tống ngục rồi, nên hắn mới căm thù đến thế, chứ đời nào tây họ lại có dã tâm với người mình như thế?

Và phần đông các thính giả tí hon ấy cũng điều tư tưởng như con.

Nhưng sau những lần được ra tỉnh chơi, con mới tự trách mình đã phán đoán liều lĩnh cho những người cách mạng.

Con đã thấy thật sự những cái tàn bạo của người Pháp đối với người Việt Nam.

Từ đấy con nhập tâm hẳn những bài diễn thuyết trên kia. Con cho là họ đã nói đúng với sự thật. Và cũng từ đấy con ghét Pháp triệt để. Nhưng con càng ghét Pháp bao nhiêu con lại ưa người Nhật bấy nhiêu. Ði đâu con cũng chỉ thích đến với người Nhật, và mỗi lần gặp người Pháp nào lôi thôi muốn áp bức người Việt nam là con chạy đi tìm lính Nhật đến can thiệp ngay. Pháp mà thấy ông Nhật thì cũng chẳng khác chuột thấy mèo, và dầu có oai mấy, bệ vệ mấy, cũng phải liệu mà rút lui, không thì ông Nhật ông ấy mổ bụng cho thì chết!

Và khi có cuộc chơi "quân đội" con chẳng bao giờ thèm nhận mình là "ông Tây" nữa, luôn luôn con tình nguyện làm "ông Nhật" để ít là có thể báo thù pháp trong cách chơi của con. Do đó, người ta vẫn thường mắng con thế này:

- Quân Bắc Ninh chúng mày là truyền thống cách mạng. Liệu chừng không thì mất đầu đấy nhé!.

Chính con nhận thấy sự con ghét Pháp đấy không phải vì con có dã tâm gì, hoặc con đã bị pháp hành khổ. Con còn bé cơ mà. Nhưng con nhận thấy con ghét một cách thành thật, cũng như con ghét hết mọi cái bất công.

Là một đứa trẻ đã giầu lòng tự ái, lại dễ cảm xúc đối với những người bị nạn, đời nào khi thấy một bàn tay mạnh ức hiếp một người trong dân tộc, con lại có thể tha thứ cho? Một điều khổ tâm cho con từ đấy là con không có đủ sức mạnh và tài cán như cụ thánh Maisen để báo oán thay cho dân tộc. Lúc nào con tức với Pháp quá, con lại xin Chúa sai thiên thần Micae xuống đuổi lũ "quỉ" ấy đi ra khỏi nước Việt Nam. Những lúc ấy con chả coi cái chết là gì, và giá có chết vì đả đảo Pháp, con lại cho là một hạnh phúc lớn lao như được tử vì đạo..

Ðang lúc ấy Chúa gửi đến cho con một vị thánh, và vị thánh ấy đã dậy cho con theo đường cách mạng của sách Phúc âm. Nhưng làm sao ý? Mỗi lần con phải cầu nguyện cho nước Pháp, là con cảm thấy khó chịu và buốt xót như thể đặt một cái hôn lên chà gai nhọn.

Ngày nay, việc cầu nguyện cho nước Pháp đã thành chương trình rõ ràng trong cuộc sống hằng ngày của con. Nhưng con vẫn còn cảm thấy nó thế nào, và con cứ phải làm một cách như ép tình. Tuy dầu lòng con đã thành thật, như Chúa đã thấu tỏ.

Nhưng tại sao, con ghét Pháp mà lại yêu các vị thừa sai Pháp?

Thật ra, như con thấy, các ngài tuy là con dân của một nước thực dân, nhưng các ngài chẳng thực dân tí nào. Các ngài là người Pháp, nhưng hoàn toàn đã là của Việt nam. Có thể gọi các ngài là những vị cha, là thày dậy của dân tộc. Hy sinh của các ngài thật đã lớn lao, và chỉ có thể đền đáp bằng cái giá vô cùng đời sau mới xứng.

Ngày con ở Quảng Uyên con mới được thấy rõ ràng tấm lòng từ thiện của các vị thừa sai Pháp đối với dân bản xứ. Chính các ngài đã dùng oai công lý mà ngăn cản những người thực dân Pháp, không cho phép họ được dùng quyền lực để ức hiếp dân đen.

Con còn nhớ rõ một câu truyện xẩy ra trong một mùa gặt năm 1942.

Năm ấy, ông quan đồn người Pháp, mà dân bản thổ thường gọi là ông "tam-hợp" vì ông giữ ba bà, một người Pháp, một người Việt, và một người Nùng. Ông dữ có tiếng và ăn hối lộ dường như uống nước cam trong mùa hè. Cho nên dân trong vùng điều khiếp ông như khiếp cọp. Và có điều gì họ chỉ chạy đến nhờ "ông cha" xứ giúp.

Ông ta đã ra lệnh: Mỗi một mùa gặt nhà ai có ruộng phải nộp cho đồn lính một số rơm như ông đã ấn định, để trải ổ cho bò và dê sữa của ông nằm.

Tuy vậy, dân cũng có người tuân, cũng có người không, cũng có người bắt xén để giữ rơm cho bò mình nằm. Nên trong đồn năm nào cũng bị thiếu rơm.

Nên năm ấy ông bắt lính Việt, lẽ tất nhiên chỉ có lính Việt thôi, vì lính Việt là bồi của lính Pháp, đi tịch thu tất cả ruộng rơm của dân, gánh về đồn.

Cha Maillet thấy dân đến kêu nài, người cấp tốc đạp xe xuống đồn để phân trần cho ông Ca-bi-tần Tam-hợp hay nỗi khổ của dân.

Ông Tam hợp biết là cha xuống vì vụ ấy, nên dặn lính đồn ra kiếu rằng: cụ lớn ca-bi-tần đi vắng.

Thật ra, ông vừa cưỡi ngựa đi dạo phố, và vừa thút vào trong đồn khi thấy có bóng cha đạp xe tới.

Sau cùng, ông đành phải cho ông "ách" ra tiếp cha.

Cha Maillet thì tính nóng như lửa. Một khi đã vì công lý thì từ ông đồn trưởng cho đến anh lính quèn, người cũng kể như tụi trẻ con, còn thò lò mũi xanh. Bởi vậy, hôm ấy ông "cụ ách-duy-đằng" đã bị cha la cho một cơn đến phát sốt lên, chết điếng cả người đi, run như cầy sấy: cụp cả bộ râu vểnh xuống, chả biết nói năng ra làm sao. Người ta còn bảo: ông ách rớt nước mắt ra khi nghe cha mắng:

- Tụi chúng bay là tụi thực dân, có nghĩa là ăn thịt dân thuộc địa.

Không rõ ông rớt nước mắt ra vì cảm động, hay là vì tức?

Sau trận xát lá cà với cấp chỉ huy của đồn lính, cha lại đạp xe máy về, và kết quả là chiều hôm ấy ông đồn cho thêm lính ra ăn cướp rơm của dân. Dân đến kêu nài với cha. Và cha đã bảo họ:

- Các người được phép tự vệ, ai đến ăn cướp có quyền kháng cự lại.

Thế rồi, cha cầm đòn sóc dẫn đội binh mặc áo xanh đi chân không, đi đuổi lính đồn.

Thế mà lính ông Tam-hợp phải hàng, và từ đấy ông đồn không dám sai lính đi ăn cướp rơm của dân nữa. Và cũng sau vụ ấy, ông đồn phạt hai cha già, không cấp bánh mì cho hằng tuần nữa. Chiếc bánh mì hằng tuần ấy nó là món quà biếu của đồn lính, phụ cấp cho hai cha trong ngày Chủ nhật. Nhưng từ ngày lính của ông Tam hợp bị bại trước công lý, ông đồn cáu tiết không cho hai cha ăn bánh mì nữa.

Một tháng sau ông đồn được cha đưa lên cấp trên, và ông đã bị đổi đi nơi khác.

Ông đồn trưởng khác đến thay thế, được biết câu truyện ông cựu đồn trưởng đã phạt bánh mì hai cha, nên lại bảo lính cứ tiếp tục đem bánh mì lên cho hai cha xơi ngày Chủ nhật. Nhưng cha Maillet đã từ chối, và bảo:

- Người ta đã phạt không cho chúng tôi ăn bánh mì, vì đã nói lời thật, thì chúng tôi sẽ không ăn bánh mì nữa, để cho miệng lưỡi chúng tôi được luôn luôn sẵn sàng nói ra những lời minh chính.

Câu truyện trên đây đủ minh chứng rằng, các vị thừa sai không phải là thực dân, mà giá không có các ngài, thì những nước bị thực dân chiếm đóng, còn bị những cảnh huống ê chề bằng mấy.

 

Chung quanh câu truyện Chị em

Từ ngày hai anh Hiển và Tám thấy trên khuôn mặt con có lộ một vết tươi khác thường. Thật ra, con chỉ nghe hai anh xì xèo bàn tán với nhau thế, chứ còn con, con chẳng rõ mặt mình có cái gì khác thường không? Nhưng lòng con, thì con cảm thấy rõ ràng một niềm vui không bao giờ cạn.

Hai anh bạn của con cứ bàn đi tán lại mãi với nhau về vụ ấy, và tìm đủ mọi mánh lời để dò hỏi con.

Nhưng dù mãnh lới nào các anh cũng bị thất bại, và có khi nào nể nang lắm con mới nói xa xôi với Hiển rằng:

- Chị của tớ cũng vần "T."

Còn anh Tám thì lúc nào cũng chỉ muốn chọc tức Văn để bắt Văn phải phụt cái tên thật của người chị thiêng liêng ra. Thỉnh thoảng nói truyện với nhau về vấn đề ấy, Tám lại khơi:

- Chị của anh Văn thì một là toét mắt hai là thọt chân, vì chỉ có hai cái tật ấy mới ăn vận với vần "Tê" thôi.

Mặc dầu, con cứ để kệ cho Tám chế diễu danh tiếng người chị bí mật của con. Con chẳng hờn giận và cũng chẳng bao giờ vì bị chọc tức mà phải nói. Có đôi lần con nhắc lại với chị Thánh về câu Tám đã chế diễu chị, nhưng chị chỉ cười và bảo: Tám kể ra nó cũng tâm lý đấy, nhưng không khôn.

Thấy việc chọc tức Văn không có kết quả gì, Tám không còn tìm ra cách nào hơn là đi mách với cô mụ làm bếp, để nhờ cô ta dò hỏi bên nhà mụ.

Câu truyện như thế mới rắc rối.

Cô Tin vừa nghe Tám nói: Văn anh ta cũng có chị thiêng liêng rồi, mà chị của anh ta cũng vần "Tê," cô đã phát ghen lên, và cho ra một câu thách đố: Rồi tao sẽ chỉ tận mặt con chị của thằng Văn cho mà coi.

Thế rồi cô vào việc, nghĩa là dò xét thằng Văn kỹ lắm.

Hai anh Hiển và Tám vẫn theo dõi rình mò con như hai tên thám tử. Thấy con ra ngoài núi, họ cũng lẩn theo; thấy con vào nhà nguyện họ cũng vào xem. Họ muốn biết con làm gì ở những chỗ mà con chỉ thích chơi có một mình ở đấy. Bởi vì họ biết rằng hỏi con là vô ích, vì luôn luôn con chỉ trả lời một cách "bí mật."

Một hôm con nghe hai nhà thám tử ấy phao lên trong các cô mụ một tin buồn cười thế này:

- Anh Văn anh ta được Ðức Mẹ hiện ra ở ngoài núi.

Các cô mụ trẻ phần đông lại thuộc vào hạng ảo mộng, nghe người ta đồn thế, cũng tin ngay như bỡn, thế rồi họ tuôn đến với con để xin Ðức Mẹ cho họ được ơn nọ ơn kia, làm như thể là có những sự lạ đặc biệt đã xẩy ra ở ngoài chân núi vậy.

Thấy họ nông nổi một cách trẻ con quá, con ra sức cải chính cái tin đồn nhảm ấy. Nhưng mà Hiển và Tám thì cứ cố quyết rằng:

- Thật ý!

Hai anh vịn vào những bằng chứng đã bắt gặp con mấy lần quì lần hạt ở trong hốc đá, và họ còn thêm là: khác thường lắm, y như là có Ðức Mẹ thật ở đấy vậy. Hai anh cho con chối việc Ðức Mẹ hiện ra với con là vì lòng khiêm nhường. Tuy nhiên khi nghe con hỏi lại một cách gắt gao rằng: Các anh có dám quyết đoán một cách chắc chắn, và chịu trách nhiệm hoàn toàn về điều đó không? Thì hai anh cười khúc khích rồi lẩn mất. Nhưng họ còn do dự lắm và cứ nài nẵng xin con nói thật.

Con đáp:

- Tôi nói thật, là tôi không thấy Ðức Mẹ hiện ra.

Nhất là lại phải cái nợ các cô mụ trẻ, thấy con đâu họ cũng cứ hỏi xa xôi:

- Thật không đấy, hở cậu Văn?

Còn các bà mụ già, khi nghe người ta đồn như thế, đã không cải chính, lại còn thêm vào lời nghi đoán thế này:

- Có khi thật đấy? Mà. Ðức Mẹ có hiện ra với nó cũng chả có gì là lạ, vì xem ra nó còn ngây thơ chết lên ấy mà.

Con đã cảm thấy khổ tâm vì những nghi luận rối ren ấy, nhưng chỉ biết khóc thầm và xin Ðức Mẹ làm sao cho họ đừng tin cách mơ mộng như thế nữa.

Vài ba tuần lễ sau, câu truyện Ðức Mẹ hiện ra với thằng Văn, phai mờ dần theo thời gian.

(còn tiếp)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com