KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICAN II (Kỳ 7) Lm. Vũ Khởi Phụng, C.Ss.R. Cha trở về trường cũ, Chủng Viện Bergamo. Năm vào
học ở đây (1892) thì Angelo Roncalli mới 11 tuổi. Tám
năm đèn sách ở nơi này, hồi ấy, Angelo còn là một
chàng trai nông thôn mộc mạc, đạo đức theo một cung
cách truyền thống. Cha Roncalli nhận xét về chính mình
trong những năm niên thiếu ấy như sau: "Một
chàng trai tốt bụng, vô tội, hơi nhút nhát," chỉ
mơ làm "Linh Mục để phục vụ những tâm hồn
đơn sơ cần được săn sóc ân cần và nhẫn nại."
Nhưng cha cũng tự phê phán là "hơi điên,
hơi ngu," tinh thần lang bang "như bướm."
Mặt khác, cũng là loại người ngày nay người ta
thường phê là "có tâm hồn ăn uống" và
"có những lúc tôi rất mau miệng, có lẽ đã
nói quá nhiều." Từ những ngày tưởng như chưa xa ấy, cuộc đời
đã diễn tiến... Cha đã đi học Roma ở Chủng Viện
Apollinario (1901), đã thi hành nghĩa vụ quân sự (1901 -
1903), lấy bằng tiến sĩ Thần Học và thụ phong Linh Mục
(1904), làm thư ký cho Ðức Cha Radoni, dạy và nghiên
cứu lịch sử Giáo Hội (1905 - 1914), đã xuất ngoại
mấy lần để đi hành hương Lộ-đức (1905, 1911), tham
dự Ðại Hội Thánh Thể ở Áo, rồi thăm Ba-lan và
Hung-gia-lợi (1912) và hòa mình vào những khổ đau của
con người trong thời Thế Chiến. Nay trở về trường cũ, cha đã mất đi cái khờ
khạo của chàng trai làng năm xưa. Cha được sai về
đây để làm linh hướng cho các Chủng Sinh. Chủng Viện
Bergamo là một tòa nhà rộng, nhưng đường nét khắc
khổ, không tiện nghi. Ðối với cha Roncalli, nó không
chỉ gợi lại những kỷ niệm thời trai trẻ, nó còn
quý báu vì cha là người nghiên cứu Thánh Carlo
Borromeo. Tòa nhà được xây lại năm 1821, nhưng nó là
một trong những chủng viện đầu tiên được thành
lập ở Ý (1567), do sự đốc thúc của Thánh Carlo, theo
đường lối chấn chỉnh Giáo Hội của Công Ðồng Trento
(1545 - 1563). Chủng viện xây trên núi, đứng trên
sân rộng trồng nhiều cụm hoa hồng, giữa tiếng chim
hót líu lo, nhìn xuống thấy đồng bằng vùng Lombardia
với hơn ngàn năm Ki-tô giáo, vị linh hướng với
kiến thức về công trình hồi sinh Giáo Hội của Thánh
Carlo, với trải nghiệm bốn năm máu lửa, chắc là
đã suy nghĩ nhiều về những nhu cầu của người đời. Ở Roma, Ðức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô 15 lại càng
suy nghĩ nhiều về sứ mạng của Giáo Hội. Bốn năm
chiến tranh đã kềm hãm biết bao nhiêu sáng kiến của
ngài. Chiến tranh cũng cho ngài nhìn thấy những giới
hạn, những hẹp hòi và những hiểm họa bi đát của
lòng người. Bây giờ là lúc phải giốc toàn lực
để phục vụ Ơn Ðức Ðộ. Ðức Thánh Cha nghĩ tới
những vùng đất mênh mông, Châu Á, Châu Phi còn đang
chờ đợi Tin Mừng của Chúa. Ngày 30.11.1919, ngài
công bố Tông Thư Maximum Illud về nhiệm vụ truyền
giáo. Tông thư này được coi như văn kiện quan trọng
vào bậc nhất trong đời Giáo Hoàng của ngài. Ðọc lại các chỉ thị của Maximum Illud, thấy như
đó là những chân lý đương nhiên, trong sáng. Ðấy
là đứng trên bình diện lý tưởng mà nói. Trong
thực tế, con người, kể cả người Thừa Sai, chìm
vào trong hoạt động bộn bề trước mắt, và với cá
tính riêng của mình, dễ sa đà vào những thói quen
thường tình, nhưng phản tác dụng. Ðức Thánh Cha yêu cầu "đào tạo và gây
dựng hàng Giáo Sĩ bản xứ, là nguyên nhân của bao hy
vọng tốt đẹp trong các vùng mới đón nhận Ðạo
Ki-tô. Mọi sự, từ nguồn cội, đến tâm lý, tình
cảm, lý tưởng đều gắn chặt Linh Mục bản xứ với
các con chiên của mình, cho nên Linh Mục bản xứ có
điều kiện tuyệt vời để vun trồng chân lý trong lòng
người... Linh Mục bản xứ có thể dễ dàng tiếp xúc
nhiều linh hồn mà Linh Mục người ngoại quốc không
thể mon men đến gần..." Nhưng nếu muốn vậy, thì "hàng
Giáo Sĩ bản xứ phải được đào tạo và chuẩn bị
thích đáng," không thể chỉ là "nhập môn
sơ đẳng lơ mơ" mà phải là "đào tạo
đầy đủ, hoàn bị mọi mặt" như ở các nước
văn minh, để có ngày còn "nắm quyền lãnh đạo." Thứ đến, Ðức Thánh Cha nhấn mạnh người Thừa
Sai phải thành tâm thiện ý, đừng đặt quyền lợi
dân tộc của mình cao hơn Nước Trời: "Thật
thảm hại khi mà các Thừa Sai ngộ nhận về phẩm
tước của mình đến độ dành ưu tiên cho những quan
tâm về tổ quốc trần gian của mình so với quan tâm về
Nước Trời," bởi vì nếu thế thì "người
dân có bản năng rất nhạy bén, sẽ nhận ra ngay" và
"mọi việc làm của Thừa Sai liền mất tư cách
trước mắt người dân; người ta sẽ dễ dàng nghĩ
rằng Ðạo Ki-tô chỉ là một tôn giáo của ngoại bang,
và theo Ðạo có vẻ như là chấp nhận sự bảo hộ và
chế ngự của một ngoại cường mà chối bỏ tổ quốc
của mình." Ngài tâm sự: "Chúng tôi cảm thấy đau buồn
sâu sắc khi nhận thấy rằng một số chuyên san định kỳ
về truyền giáo được phổ biến mấy năm sau này đã
cho thấy những người viết báo nhiệt tình cổ võ sự
bành trướng của đất nước mình, hơn là cổ võ sự
quảng bá Nước Thiên Chúa. Và điều kỳ lạ là
người ta không hề lo ngại rằng đường lối như thế
sẽ gây tai tiếng cho Ðạo Thánh nơi những người chưa
tin." Ðức Thánh Cha còn nhớ rõ lắm: hồi Thế Chiến,
người Công Giáo ở Pháp, ở Ðức đã gạt phăng
những lời kêu gọi hòa bình của Cha chung để hô hào
bắn giết như thế nào. Một điểm nữa, ngài lưu ý các Thừa Sai là phải
thông thạo tiếng nói của các dân tộc mà mình đang
phục vụ, "nói sõi, nói đúng," và hơn
nữa, phải đạt đến trình độ uyên bác. Tông Thư Maximum Illud được coi như một biến cố
lớn trong lịch sử truyền giáo. Vị Giáo Hoàng ngồi
trong văn phòng thâm nghiêm, hóa ra sáng suốt hơn nhiều
Thừa Sai ở thực địa. Năm 1919 này là lúc phe đồng
minh Pháp - Anh - Mỹ chiến thắng đang tìm cách xóa
sạch ảnh hưởng của Ðức, kể cả trong lãnh vực
truyền giáo. Ðức Bê-nê-đi-tô 15 gửi đến Paris một
nhà ngoại giao tài giỏi của Tòa Thánh, Ðức Ông
Cerretti, để tác động lên hòa hội Versailles. Với sự
trợ giúp nhiệt tình của tổng thống Wilson, ngài đã
thành công bảo vệ tự do cho các Thừa Sai người
Ðức lúc đầu tưởng như sẽ bị đuổi hết về nước. Dù bận bịu hay mệt mỏi tới đâu, hễ có dịp là
Ðức Giáo Hoàng tiếp các Thừa Sai từ phương xa về
Roma, nói chuyện hồi lâu, hỏi han những chi tiết rất
cụ thể. Năm 1920, Ðức Giáo Hoàng quyết định tổ
chức lại Bộ Truyền Bá Ðức Tin. Ngài đặt Ðức
Hồng Y Van Rossum, người Hà-lan, đứng đầu bộ này.
Công việc của bộ liên quan đến hàng trăm Giám Mục
Thừa Sai và các vị Ðại Diện Tông Tòa, hàng chục
ngàn Thầy Giảng, hàng triệu tín hữu. Vị Hồng Y đứng
đầu Bộ Truyền Bá Ðức Tin trở thành một cộng tác
viên quan trọng vào bậc nhất của Ðức Giáo Hoàng.
Người ta mệnh danh Ðức Hồng Y Van Rossum là "Giáo
Hoàng đỏ." Ðức Bê-nê-đi-tô 15 đang tìm một vị Linh Mục có
khả năng để tiến hành công việc tổ chức lại
guồng máy của Bộ Truyền Bá Ðức Tin. Ngài nổi tiếng
là có trí nhớ tuyệt vời. Khi đã quyết định một
điều gì quan trọng, thì ngài vừa bồn chồn vừa dứt
khoát. Hôm đó ngài đang đưa mắt lướt nhanh một danh
sách những người có thể đưa vào chức vụ ngài
đang quan tâm. Bỗng nhiên ngài kêu lên sôi nổi: "Ông
này! Ông này!" Ðó là ông Angelo Roncalli. Chả là ngày trước, khi
còn làm việc ở Phủ Quốc Vụ Khanh, thì hai vị Giacomo
della Chiesa và Radini đã là đôi bạn thân. Về sau,
đích thân Ðức Pi-ô 10 phong hai vị làm Giám Mục.
Ðức Cha Radini chọn cha Roncalli làm thư ký riêng. Bên
bàn tiệc mừng vị tân Giám Mục, Ðức Ông della Chiesa
ngồi bên cạnh cha Roncalli, hai người nói chuyện với
nhau thấy đã mặn mà. Năm 1909, Ðức Cha Radini đi thăm
người bạn chí cốt bây giờ đã làm Tổng Giám Mục
Bologna, cha Roncalli cũng đi theo. Lần này cha không chỉ quen
biết một mình Ðức Cha della Chiesa, mà quen luôn với gia
đình của ngài. Cha Roncalli rất cảm phục vị Tổng Giám
Mục Bologna. Chính vị Tổng Giám Mục ấy nay là Ðức
Bê-nê-đi-tô 15. Ngày 10.12.1920, cha Roncalli được tin Ðức Thánh Cha
muốn bổ nhiệm cha vào Bộ Truyền Bá Ðức Tin. Cha tìm
đến xin ý kiến của một người mà cha rất quý trọng:
Ðức Hồng Y (Chân Phước) Ferrari, Tổng Giám Mục Milano.
Khi ấy Ðức Cha sắp qua đời vì ung thư họng, ngài trả
lời ngắn gọn: "Ý Chúa đã quá rõ rồi: Giáo
Hoàng "đỏ" là âm vang của Giáo Hoàng "trắng,"
và Giáo Hoàng "trắng" là âm vang của Chúa.
Thiên Chúa gọi ta đi đâu, thì cứ đi, phó mình hoàn
toàn cho tình yêu Quan Phòng của ngài. Làm như vậy, cha
sẽ được bình an, thanh thản." Giữa tháng giêng 1921, cha Angelo lên đường về Roma
nhận nhiệm sở mới, lòng không khỏi bùi ngùi. Từ
nay, nếu có về cũng chỉ được vài ngày nghỉ, môi
trường của cha bây giờ là thế giới rộng lớn. Bốn năm liền, cha Roncalli đi khắp đó đây, nối kết
hoạt động truyền giáo của các địa phương để quy về
một giềng mối. Cha đi vào những xứ sở nắng thiêu
và bần cùng của miền Trung và miền Nam nước Ý,
khác xa với miền Bắc quê hương cha. Rồi cha thăm
viếng Châu Âu: Pháp, Bỉ, Hà-lan, Ðức. Cũng là một
cơ hội để biết người, tìm hiểu tâm tư đa dạng của
người ta, học cho biết muốn cùng làm việc với nhau
trong Giáo Hội thì phải thế nào. Cha nói: "Trước
tiên, cần phải tìm cách gây dựng những trung tâm
trong mỗi nước, sao cho năng động, và bừng cháy lòng
nhiệt thành Tông Ðồ, được hàng Giáo Sĩ hỗ trợ
nhằm phát triển hoạt động Thừa Sai." Cha cảnh báo về nước Pháp: "Cứ xem nước
Pháp đấy: xét về tỷ lệ thì Pháp vẫn còn đóng
góp nhiều; nhưng mỗi năm sự đóng góp một giảm đi.
Nếu hàng Giáo Sĩ Pháp không tỉnh ngộ, và vận động
lòng sốt sắng của nhân dân, thì tôi sợ rằng Pháp
sẽ bị các nước khác qua mặt." Ðúng là vậy. Trong quá khứ Pháp đã góp phần
hết sức lớn vào việc Thừa Sai của Giáo Hội Công
Giáo. Ngày nay thì lại quá khan hiếm nhân sự. Nhưng
Pháp cũng làm được một việc này, là trước khi
nhân sự Pháp trở nên khan hiếm, thì các Thừa Sai
Pháp đã đào tạo được những hàng ngũ Giáo Sĩ
bản xứ đông đảo khả dĩ tiếp nối sứ mạng và
lãnh trách nhiệm lãnh đạo Giáo Hội trên quê hương
mình. Không chỉ đi lại ngược xuôi đôn đốc công việc,
cha Roncalli còn liên lạc thư từ với khắp nơi. Những
thư tín trao đổi được bảo quản, đóng thành tập
cùng với các báo cáo của các Thừa Sai từ khắp
nơi, Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc, làm thành
một văn khố hết sức quan trọng, phản ảnh hoạt động
của Giáo Hội khắp nơi trên thế giới, trong những
nền văn hóa rất đa dạng. Năm 1920 đó, hình như Ðức Bê-nê-đi-tô 15 có
những linh cảm kỳ lạ. Ðức Thánh Cha là một người
bề ngoài mong manh ốm yếu, nhưng chẳng bệnh tật gì và
làm việc không biết mệt. Cuối tháng 4.1920, tự nhiên
ngài cho gọi Ðức Hồng Y Merry del Val, quản nhiệm Ðền
Thánh Phê-rô, để tháp tùng ngài xuống thăm địa cung
Ðền Thánh, nơi an nghỉ của nhiều vị Giáo Hoàng. Rồi
ngài chỉ một mảnh đất đối diện với mộ của Thánh
Pi-ô 10, nói rằng ngài chọn nơi đó làm sinh phần. Qua
năm sau, 13 tháng 6, có một lễ tấn phong Hồng Y. Ðức
Thánh Cha nhỏ nhẹ như đang tư lự với chính mình: "Mấy
hôm nay đã ban phát nhiều áo đỏ, nhưng sắp tới
đây sẽ phát áo trắng, và áo trắng sẽ phủ lên vai
một vị trong số các vị đây! Các Hồng Y vội kêu lên
rằng việc ấy còn xa. Ðức Thánh Cha chỉ mỉm cười như
thể trong thâm tâm đã biết một điều gì đó mà
không thể chia sẻ với người khác." Chỉ sáu tháng sau, đột nhiên ngài trở bệnh nặng.
Ngài yêu cầu để ngài ở yên một mình hồi lâu để
chuẩn bị tâm hồn chịu Mình Thánh Chúa như Của Ăn
Ðàng. Chịu Lễ rồi ngài nói: "Nếu Chúa muốn
tôi làm việc thêm ít lâu nữa cho Hội Thánh, thì tôi
xin sẵn sàng phục vụ; nhưng nếu Chúa bảo: Thôi! (Basta)
thì xin cho Thánh Ý thành sự." Khiêm tốn như
một trẻ thơ, ngài phó thác mình cho Ðức Mẹ. Ngài bình tĩnh và vui vẻ thăm hỏi, và tỏ ý săn
sóc mọi người quen biết có mặt lẫn vắng mặt. 16
giờ ngày 21.1.1922, ngài bắt đầu hôn mê, và khi tỉnh
dậy thì nói rất rành mạch và lớn tiếng cho cả
những người ở phòng bên và ngoài hành lang nghe rõ:
"Chúng tôi xin vui lòng dâng hiến mạng sống vì
hòa bình thế giới." Ngài xưng mình là "chúng
tôi" như những lúc đọc diễn văn trang trọng. Ðến tối, tự nhiên ngài hỏi mấy giờ rồi.
Người chung quanh thưa: 9 giờ. Ngài nói như thể đang
có chuyện gì hài lòng: "À, vậy còn lâu mới
đến 6 giờ." Mọi người tưởng ngài hôn mê.
Và sau đó ngài hôn mê thật. 2 giờ sáng, rõ ràng
cơn hấp hối đã bắt đầu. Ðức Hồng Y Georgi đứng
bên giường, nói chậm rãi mà lớn tiếng: "Tâu
Ðức Thánh Cha, xin ngài chúc lành cho gia đình ngài."
Ðức Thánh Cha mắt nhắm nghiền nhưng bàn tay mặt
hơi nhúc nhích phác hình Thánh Giá ba lần. Hồng Y lại tiếp: "Bây giờ xin Ðức Thánh Cha
chúc lành cho tất cả những người phục vụ ngài."
Ðức Thánh Cha cũng đáp lại như lần trước. Hồng
Y Georgi chưa chịu thôi: "Tâu Ðức Thánh Cha, xin
chúc lành cho nhân dân đang khao khát hòa bình." Lần
này, Ðức Thánh Cha kéo tấm mền đang đắp như muốn
ngồi dậy, ngài giơ tay vạch hình Thánh Giá rất lớn ba
lần, và với âm lượng mạnh phi thường, ngài long
trọng đọc: "Nguyện xin phước lành của Thiên
Chúa Toàn Năng, Cha, Con và Thánh Thần xuống trên anh
chị em và ở lại luôn mãi.".. Ðúng 6 giờ
sáng, Ðức Bê-nê-đi-tô 15 tắt thở, hưởng thọ 67
tuổi, ở ngôi 7 năm 4 tháng 19 ngày. Hai tuần sau, Giáo Hội có Giáo Hoàng mới. Ðúng là
người mới được phong Hồng Y sáu tháng trước:
ngài Ratti, Tổng Giám Mục Milano, danh hiệu Pi-ô 11. Ðối
với cha Roncalli, tân Giáo Hoàng không phải là người
xa lạ. Trước kia, ngài chính là vị quản thủ Thư Viện
Ambrosiano, nơi Linh Mục trẻ Roncalli thường lui tới để
tìm đọc tài liệu về Thánh Carlo Borromeo. Ngài Ratti chia
sẻ với cha Roncalli sự thích thú đối với vị Thánh
đã từng áp dụng thành công các chỉ thị của Công
Ðồng Trento. Ðức tân Giáo Hoàng vẫn đánh giá cao
khả năng và trí tuệ của cha Roncalli. Khi Ðức Pi-ô 11 mới đắc cử, có người đã kêu:
"Sao lại bầu một ông thủ thư làm Giáo Hoàng?
Suốt đời chìm trong sách vở thì biết gì về những
vấn đề thực tế." Những người nói vậy là
những người không biết gì về ông thủ thư. Ðức Pi-ô
11 sẽ là trong những vị Giáo Hoàng sáng suốt và
cương nghị vào bậc nhất. Ðặc biệt ngài được mệnh
danh là "Giáo Hoàng của các xứ Truyền Giáo."
Suốt 18 năm ở ngôi, ngài vẫn canh cánh bên lòng nỗi
thao thức về sứ mạng truyền giáo. Ngài thổ lộ: "Mỗi
lần nghĩ tới còn một tỷ người trên trái đất chưa
biết Chúa Ki-tô là suốt đêm tôi không sao chợp mắt
được." Ngài đẩy mạnh đường hướng Ðức Bê-nê-đi-tô
15 đã đề xuất trong Tông Thư Maximum Illud. Chính
Ðức Pi-ô 11 sẽ tấn phong những vị Giám Mục tiên
khởi người Trung Quốc, Nhật-bản, Ấn-độ, cũng chính
ngài sẽ tấn phong vị Giám Mục Việt Nam tiên khởi:
Ðức Cha Gio-an Bao-ti-xi-ta Nguyễn Bá Tòng. Cũng chính
ngài tuyên phong hiển thánh cho Tê-rê-xa Hài Ðồng
Giê-su, sẽ là Bổn Mạng các xứ Truyền Giáo. Ðể phát huy công trình truyền giáo, Ðức Thánh Cha
duy trì Ðức Hồng Y Van Rossum ở nhiệm vụ bộ trưởng
Bộ Truyền Bá Ðức Tin. Vị Hồng Y Hà-lan này bề ngoài
hơi lạnh lùng, nhưng là người có những quyết định
táo bạo, và đã quyết định thì dứt khoát thực
hiện. Tinh thần và hoàn cảnh như thế, cha Roncalli cũng tiếp
tục hành động của mình. Các đề nghị của cha được
Ðức Giáo Hoàng chấp nhận và cho thi hành, theo hướng
thống nhất chặt chẽ các công trình hỗ trợ truyền
giáo dưới sự chỉ đạo của Bộ Truyền Bá Ðức Tin. (Trích từ Ephata Việt Nam số 97) (Còn tiếp) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |