KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICAN II
NHỚ VỀ ÐỨC GIÁO HOÀNG
GIO-AN XXIII 

(Kỳ 7)

Lm. Vũ Khởi Phụng, C.Ss.R.

Chiến tranh như một cơn điên cuồng khát máu. Rồi chiến tranh qua đi, người ta như tỉnh một cơn mê, lại bắt đầu xây dựng, có khi lâu bền, có khi là gieo mầm cho những xung đột khác. Ðồ đệ của Chúa, trong chiến tranh phải cố gắng sao cho ánh sáng nhân ái đừng tắt lịm, hết chiến tranh lại phải nỗ lực vun đắp cho hòa bình, từ mong manh trở nên lâu bền và vững chãi. Tháng 11.1918, mặt trận ở Ý im tiếng súng. Cha Roncalli còn tiếp tục phục vụ ở các quân y viện đến tháng 3.1919 thì giải ngũ.

Cha trở về trường cũ, Chủng Viện Bergamo. Năm vào học ở đây (1892) thì Angelo Roncalli mới 11 tuổi. Tám năm đèn sách ở nơi này, hồi ấy, Angelo còn là một chàng trai nông thôn mộc mạc, đạo đức theo một cung cách truyền thống. Cha Roncalli nhận xét về chính mình trong những năm niên thiếu ấy như sau: "Một chàng trai tốt bụng, vô tội, hơi nhút nhát," chỉ mơ làm "Linh Mục để phục vụ những tâm hồn đơn sơ cần được săn sóc ân cần và nhẫn nại." Nhưng cha cũng tự phê phán là "hơi điên, hơi ngu," tinh thần lang bang "như bướm." Mặt khác, cũng là loại người ngày nay người ta thường phê là "có tâm hồn ăn uống" "có những lúc tôi rất mau miệng, có lẽ đã nói quá nhiều."

Từ những ngày tưởng như chưa xa ấy, cuộc đời đã diễn tiến... Cha đã đi học Roma ở Chủng Viện Apollinario (1901), đã thi hành nghĩa vụ quân sự (1901 - 1903), lấy bằng tiến sĩ Thần Học và thụ phong Linh Mục (1904), làm thư ký cho Ðức Cha Radoni, dạy và nghiên cứu lịch sử Giáo Hội (1905 - 1914), đã xuất ngoại mấy lần để đi hành hương Lộ-đức (1905, 1911), tham dự Ðại Hội Thánh Thể ở Áo, rồi thăm Ba-lan và Hung-gia-lợi (1912) và hòa mình vào những khổ đau của con người trong thời Thế Chiến.

Nay trở về trường cũ, cha đã mất đi cái khờ khạo của chàng trai làng năm xưa. Cha được sai về đây để làm linh hướng cho các Chủng Sinh. Chủng Viện Bergamo là một tòa nhà rộng, nhưng đường nét khắc khổ, không tiện nghi. Ðối với cha Roncalli, nó không chỉ gợi lại những kỷ niệm thời trai trẻ, nó còn quý báu vì cha là người nghiên cứu Thánh Carlo Borromeo. Tòa nhà được xây lại năm 1821, nhưng nó là một trong những chủng viện đầu tiên được thành lập ở Ý (1567), do sự đốc thúc của Thánh Carlo, theo đường lối chấn chỉnh Giáo Hội của Công Ðồng Trento (1545 - 1563). Chủng viện xây trên núi, đứng trên sân rộng trồng nhiều cụm hoa hồng, giữa tiếng chim hót líu lo, nhìn xuống thấy đồng bằng vùng Lombardia với hơn ngàn năm Ki-tô giáo, vị linh hướng với kiến thức về công trình hồi sinh Giáo Hội của Thánh Carlo, với trải nghiệm bốn năm máu lửa, chắc là đã suy nghĩ nhiều về những nhu cầu của người đời.

Ở Roma, Ðức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô 15 lại càng suy nghĩ nhiều về sứ mạng của Giáo Hội. Bốn năm chiến tranh đã kềm hãm biết bao nhiêu sáng kiến của ngài. Chiến tranh cũng cho ngài nhìn thấy những giới hạn, những hẹp hòi và những hiểm họa bi đát của lòng người. Bây giờ là lúc phải giốc toàn lực để phục vụ Ơn Ðức Ðộ. Ðức Thánh Cha nghĩ tới những vùng đất mênh mông, Châu Á, Châu Phi còn đang chờ đợi Tin Mừng của Chúa. Ngày 30.11.1919, ngài công bố Tông Thư Maximum Illud về nhiệm vụ truyền giáo. Tông thư này được coi như văn kiện quan trọng vào bậc nhất trong đời Giáo Hoàng của ngài.

Ðọc lại các chỉ thị của Maximum Illud, thấy như đó là những chân lý đương nhiên, trong sáng. Ðấy là đứng trên bình diện lý tưởng mà nói. Trong thực tế, con người, kể cả người Thừa Sai, chìm vào trong hoạt động bộn bề trước mắt, và với cá tính riêng của mình, dễ sa đà vào những thói quen thường tình, nhưng phản tác dụng.

Ðức Thánh Cha yêu cầu "đào tạo và gây dựng hàng Giáo Sĩ bản xứ, là nguyên nhân của bao hy vọng tốt đẹp trong các vùng mới đón nhận Ðạo Ki-tô. Mọi sự, từ nguồn cội, đến tâm lý, tình cảm, lý tưởng đều gắn chặt Linh Mục bản xứ với các con chiên của mình, cho nên Linh Mục bản xứ có điều kiện tuyệt vời để vun trồng chân lý trong lòng người... Linh Mục bản xứ có thể dễ dàng tiếp xúc nhiều linh hồn mà Linh Mục người ngoại quốc không thể mon men đến gần..." Nhưng nếu muốn vậy, thì "hàng Giáo Sĩ bản xứ phải được đào tạo và chuẩn bị thích đáng," không thể chỉ là "nhập môn sơ đẳng lơ mơ" mà phải là "đào tạo đầy đủ, hoàn bị mọi mặt" như ở các nước văn minh, để có ngày còn "nắm quyền lãnh đạo."

Thứ đến, Ðức Thánh Cha nhấn mạnh người Thừa Sai phải thành tâm thiện ý, đừng đặt quyền lợi dân tộc của mình cao hơn Nước Trời: "Thật thảm hại khi mà các Thừa Sai ngộ nhận về phẩm tước của mình đến độ dành ưu tiên cho những quan tâm về tổ quốc trần gian của mình so với quan tâm về Nước Trời," bởi vì nếu thế thì "người dân có bản năng rất nhạy bén, sẽ nhận ra ngay" "mọi việc làm của Thừa Sai liền mất tư cách trước mắt người dân; người ta sẽ dễ dàng nghĩ rằng Ðạo Ki-tô chỉ là một tôn giáo của ngoại bang, và theo Ðạo có vẻ như là chấp nhận sự bảo hộ và chế ngự của một ngoại cường mà chối bỏ tổ quốc của mình."

Ngài tâm sự: "Chúng tôi cảm thấy đau buồn sâu sắc khi nhận thấy rằng một số chuyên san định kỳ về truyền giáo được phổ biến mấy năm sau này đã cho thấy những người viết báo nhiệt tình cổ võ sự bành trướng của đất nước mình, hơn là cổ võ sự quảng bá Nước Thiên Chúa. Và điều kỳ lạ là người ta không hề lo ngại rằng đường lối như thế sẽ gây tai tiếng cho Ðạo Thánh nơi những người chưa tin."

Ðức Thánh Cha còn nhớ rõ lắm: hồi Thế Chiến, người Công Giáo ở Pháp, ở Ðức đã gạt phăng những lời kêu gọi hòa bình của Cha chung để hô hào bắn giết như thế nào.

Một điểm nữa, ngài lưu ý các Thừa Sai là phải thông thạo tiếng nói của các dân tộc mà mình đang phục vụ, "nói sõi, nói đúng," và hơn nữa, phải đạt đến trình độ uyên bác.

Tông Thư Maximum Illud được coi như một biến cố lớn trong lịch sử truyền giáo. Vị Giáo Hoàng ngồi trong văn phòng thâm nghiêm, hóa ra sáng suốt hơn nhiều Thừa Sai ở thực địa. Năm 1919 này là lúc phe đồng minh Pháp - Anh - Mỹ chiến thắng đang tìm cách xóa sạch ảnh hưởng của Ðức, kể cả trong lãnh vực truyền giáo. Ðức Bê-nê-đi-tô 15 gửi đến Paris một nhà ngoại giao tài giỏi của Tòa Thánh, Ðức Ông Cerretti, để tác động lên hòa hội Versailles. Với sự trợ giúp nhiệt tình của tổng thống Wilson, ngài đã thành công bảo vệ tự do cho các Thừa Sai người Ðức lúc đầu tưởng như sẽ bị đuổi hết về nước.

Dù bận bịu hay mệt mỏi tới đâu, hễ có dịp là Ðức Giáo Hoàng tiếp các Thừa Sai từ phương xa về Roma, nói chuyện hồi lâu, hỏi han những chi tiết rất cụ thể. Năm 1920, Ðức Giáo Hoàng quyết định tổ chức lại Bộ Truyền Bá Ðức Tin. Ngài đặt Ðức Hồng Y Van Rossum, người Hà-lan, đứng đầu bộ này. Công việc của bộ liên quan đến hàng trăm Giám Mục Thừa Sai và các vị Ðại Diện Tông Tòa, hàng chục ngàn Thầy Giảng, hàng triệu tín hữu. Vị Hồng Y đứng đầu Bộ Truyền Bá Ðức Tin trở thành một cộng tác viên quan trọng vào bậc nhất của Ðức Giáo Hoàng. Người ta mệnh danh Ðức Hồng Y Van Rossum là "Giáo Hoàng đỏ."

Ðức Bê-nê-đi-tô 15 đang tìm một vị Linh Mục có khả năng để tiến hành công việc tổ chức lại guồng máy của Bộ Truyền Bá Ðức Tin. Ngài nổi tiếng là có trí nhớ tuyệt vời. Khi đã quyết định một điều gì quan trọng, thì ngài vừa bồn chồn vừa dứt khoát. Hôm đó ngài đang đưa mắt lướt nhanh một danh sách những người có thể đưa vào chức vụ ngài đang quan tâm. Bỗng nhiên ngài kêu lên sôi nổi: "Ông này! Ông này!"

Ðó là ông Angelo Roncalli. Chả là ngày trước, khi còn làm việc ở Phủ Quốc Vụ Khanh, thì hai vị Giacomo della Chiesa và Radini đã là đôi bạn thân. Về sau, đích thân Ðức Pi-ô 10 phong hai vị làm Giám Mục. Ðức Cha Radini chọn cha Roncalli làm thư ký riêng. Bên bàn tiệc mừng vị tân Giám Mục, Ðức Ông della Chiesa ngồi bên cạnh cha Roncalli, hai người nói chuyện với nhau thấy đã mặn mà. Năm 1909, Ðức Cha Radini đi thăm người bạn chí cốt bây giờ đã làm Tổng Giám Mục Bologna, cha Roncalli cũng đi theo. Lần này cha không chỉ quen biết một mình Ðức Cha della Chiesa, mà quen luôn với gia đình của ngài. Cha Roncalli rất cảm phục vị Tổng Giám Mục Bologna. Chính vị Tổng Giám Mục ấy nay là Ðức Bê-nê-đi-tô 15.

Ngày 10.12.1920, cha Roncalli được tin Ðức Thánh Cha muốn bổ nhiệm cha vào Bộ Truyền Bá Ðức Tin. Cha tìm đến xin ý kiến của một người mà cha rất quý trọng: Ðức Hồng Y (Chân Phước) Ferrari, Tổng Giám Mục Milano. Khi ấy Ðức Cha sắp qua đời vì ung thư họng, ngài trả lời ngắn gọn: "Ý Chúa đã quá rõ rồi: Giáo Hoàng "đỏ" là âm vang của Giáo Hoàng "trắng," và Giáo Hoàng "trắng" là âm vang của Chúa. Thiên Chúa gọi ta đi đâu, thì cứ đi, phó mình hoàn toàn cho tình yêu Quan Phòng của ngài. Làm như vậy, cha sẽ được bình an, thanh thản."

Giữa tháng giêng 1921, cha Angelo lên đường về Roma nhận nhiệm sở mới, lòng không khỏi bùi ngùi. Từ nay, nếu có về cũng chỉ được vài ngày nghỉ, môi trường của cha bây giờ là thế giới rộng lớn.

Bốn năm liền, cha Roncalli đi khắp đó đây, nối kết hoạt động truyền giáo của các địa phương để quy về một giềng mối. Cha đi vào những xứ sở nắng thiêu và bần cùng của miền Trung và miền Nam nước Ý, khác xa với miền Bắc quê hương cha. Rồi cha thăm viếng Châu Âu: Pháp, Bỉ, Hà-lan, Ðức. Cũng là một cơ hội để biết người, tìm hiểu tâm tư đa dạng của người ta, học cho biết muốn cùng làm việc với nhau trong Giáo Hội thì phải thế nào. Cha nói: "Trước tiên, cần phải tìm cách gây dựng những trung tâm trong mỗi nước, sao cho năng động, và bừng cháy lòng nhiệt thành Tông Ðồ, được hàng Giáo Sĩ hỗ trợ nhằm phát triển hoạt động Thừa Sai."

Cha cảnh báo về nước Pháp: "Cứ xem nước Pháp đấy: xét về tỷ lệ thì Pháp vẫn còn đóng góp nhiều; nhưng mỗi năm sự đóng góp một giảm đi. Nếu hàng Giáo Sĩ Pháp không tỉnh ngộ, và vận động lòng sốt sắng của nhân dân, thì tôi sợ rằng Pháp sẽ bị các nước khác qua mặt."

Ðúng là vậy. Trong quá khứ Pháp đã góp phần hết sức lớn vào việc Thừa Sai của Giáo Hội Công Giáo. Ngày nay thì lại quá khan hiếm nhân sự. Nhưng Pháp cũng làm được một việc này, là trước khi nhân sự Pháp trở nên khan hiếm, thì các Thừa Sai Pháp đã đào tạo được những hàng ngũ Giáo Sĩ bản xứ đông đảo khả dĩ tiếp nối sứ mạng và lãnh trách nhiệm lãnh đạo Giáo Hội trên quê hương mình.

Không chỉ đi lại ngược xuôi đôn đốc công việc, cha Roncalli còn liên lạc thư từ với khắp nơi. Những thư tín trao đổi được bảo quản, đóng thành tập cùng với các báo cáo của các Thừa Sai từ khắp nơi, Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc, làm thành một văn khố hết sức quan trọng, phản ảnh hoạt động của Giáo Hội khắp nơi trên thế giới, trong những nền văn hóa rất đa dạng.

Năm 1920 đó, hình như Ðức Bê-nê-đi-tô 15 có những linh cảm kỳ lạ. Ðức Thánh Cha là một người bề ngoài mong manh ốm yếu, nhưng chẳng bệnh tật gì và làm việc không biết mệt. Cuối tháng 4.1920, tự nhiên ngài cho gọi Ðức Hồng Y Merry del Val, quản nhiệm Ðền Thánh Phê-rô, để tháp tùng ngài xuống thăm địa cung Ðền Thánh, nơi an nghỉ của nhiều vị Giáo Hoàng. Rồi ngài chỉ một mảnh đất đối diện với mộ của Thánh Pi-ô 10, nói rằng ngài chọn nơi đó làm sinh phần. Qua năm sau, 13 tháng 6, có một lễ tấn phong Hồng Y. Ðức Thánh Cha nhỏ nhẹ như đang tư lự với chính mình: "Mấy hôm nay đã ban phát nhiều áo đỏ, nhưng sắp tới đây sẽ phát áo trắng, và áo trắng sẽ phủ lên vai một vị trong số các vị đây! Các Hồng Y vội kêu lên rằng việc ấy còn xa. Ðức Thánh Cha chỉ mỉm cười như thể trong thâm tâm đã biết một điều gì đó mà không thể chia sẻ với người khác."

Chỉ sáu tháng sau, đột nhiên ngài trở bệnh nặng. Ngài yêu cầu để ngài ở yên một mình hồi lâu để chuẩn bị tâm hồn chịu Mình Thánh Chúa như Của Ăn Ðàng. Chịu Lễ rồi ngài nói: "Nếu Chúa muốn tôi làm việc thêm ít lâu nữa cho Hội Thánh, thì tôi xin sẵn sàng phục vụ; nhưng nếu Chúa bảo: Thôi! (Basta) thì xin cho Thánh Ý thành sự." Khiêm tốn như một trẻ thơ, ngài phó thác mình cho Ðức Mẹ.

Ngài bình tĩnh và vui vẻ thăm hỏi, và tỏ ý săn sóc mọi người quen biết có mặt lẫn vắng mặt. 16 giờ ngày 21.1.1922, ngài bắt đầu hôn mê, và khi tỉnh dậy thì nói rất rành mạch và lớn tiếng cho cả những người ở phòng bên và ngoài hành lang nghe rõ: "Chúng tôi xin vui lòng dâng hiến mạng sống vì hòa bình thế giới." Ngài xưng mình là "chúng tôi" như những lúc đọc diễn văn trang trọng.

Ðến tối, tự nhiên ngài hỏi mấy giờ rồi. Người chung quanh thưa: 9 giờ. Ngài nói như thể đang có chuyện gì hài lòng: "À, vậy còn lâu mới đến 6 giờ." Mọi người tưởng ngài hôn mê. Và sau đó ngài hôn mê thật. 2 giờ sáng, rõ ràng cơn hấp hối đã bắt đầu. Ðức Hồng Y Georgi đứng bên giường, nói chậm rãi mà lớn tiếng: "Tâu Ðức Thánh Cha, xin ngài chúc lành cho gia đình ngài." Ðức Thánh Cha mắt nhắm nghiền nhưng bàn tay mặt hơi nhúc nhích phác hình Thánh Giá ba lần.

Hồng Y lại tiếp: "Bây giờ xin Ðức Thánh Cha chúc lành cho tất cả những người phục vụ ngài." Ðức Thánh Cha cũng đáp lại như lần trước. Hồng Y Georgi chưa chịu thôi: "Tâu Ðức Thánh Cha, xin chúc lành cho nhân dân đang khao khát hòa bình." Lần này, Ðức Thánh Cha kéo tấm mền đang đắp như muốn ngồi dậy, ngài giơ tay vạch hình Thánh Giá rất lớn ba lần, và với âm lượng mạnh phi thường, ngài long trọng đọc: "Nguyện xin phước lành của Thiên Chúa Toàn Năng, Cha, Con và Thánh Thần xuống trên anh chị em và ở lại luôn mãi.".. Ðúng 6 giờ sáng, Ðức Bê-nê-đi-tô 15 tắt thở, hưởng thọ 67 tuổi, ở ngôi 7 năm 4 tháng 19 ngày.

Hai tuần sau, Giáo Hội có Giáo Hoàng mới. Ðúng là người mới được phong Hồng Y sáu tháng trước: ngài Ratti, Tổng Giám Mục Milano, danh hiệu Pi-ô 11. Ðối với cha Roncalli, tân Giáo Hoàng không phải là người xa lạ. Trước kia, ngài chính là vị quản thủ Thư Viện Ambrosiano, nơi Linh Mục trẻ Roncalli thường lui tới để tìm đọc tài liệu về Thánh Carlo Borromeo. Ngài Ratti chia sẻ với cha Roncalli sự thích thú đối với vị Thánh đã từng áp dụng thành công các chỉ thị của Công Ðồng Trento. Ðức tân Giáo Hoàng vẫn đánh giá cao khả năng và trí tuệ của cha Roncalli.

Khi Ðức Pi-ô 11 mới đắc cử, có người đã kêu: "Sao lại bầu một ông thủ thư làm Giáo Hoàng? Suốt đời chìm trong sách vở thì biết gì về những vấn đề thực tế." Những người nói vậy là những người không biết gì về ông thủ thư. Ðức Pi-ô 11 sẽ là trong những vị Giáo Hoàng sáng suốt và cương nghị vào bậc nhất. Ðặc biệt ngài được mệnh danh là "Giáo Hoàng của các xứ Truyền Giáo." Suốt 18 năm ở ngôi, ngài vẫn canh cánh bên lòng nỗi thao thức về sứ mạng truyền giáo. Ngài thổ lộ: "Mỗi lần nghĩ tới còn một tỷ người trên trái đất chưa biết Chúa Ki-tô là suốt đêm tôi không sao chợp mắt được."

Ngài đẩy mạnh đường hướng Ðức Bê-nê-đi-tô 15 đã đề xuất trong Tông Thư Maximum Illud. Chính Ðức Pi-ô 11 sẽ tấn phong những vị Giám Mục tiên khởi người Trung Quốc, Nhật-bản, Ấn-độ, cũng chính ngài sẽ tấn phong vị Giám Mục Việt Nam tiên khởi: Ðức Cha Gio-an Bao-ti-xi-ta Nguyễn Bá Tòng. Cũng chính ngài tuyên phong hiển thánh cho Tê-rê-xa Hài Ðồng Giê-su, sẽ là Bổn Mạng các xứ Truyền Giáo.

Ðể phát huy công trình truyền giáo, Ðức Thánh Cha duy trì Ðức Hồng Y Van Rossum ở nhiệm vụ bộ trưởng Bộ Truyền Bá Ðức Tin. Vị Hồng Y Hà-lan này bề ngoài hơi lạnh lùng, nhưng là người có những quyết định táo bạo, và đã quyết định thì dứt khoát thực hiện.

Tinh thần và hoàn cảnh như thế, cha Roncalli cũng tiếp tục hành động của mình. Các đề nghị của cha được Ðức Giáo Hoàng chấp nhận và cho thi hành, theo hướng thống nhất chặt chẽ các công trình hỗ trợ truyền giáo dưới sự chỉ đạo của Bộ Truyền Bá Ðức Tin.

(Trích từ Ephata Việt Nam số 97)

(Còn tiếp)