|
|
NIỀM TIN KITÔ GIÁO Võ Danh Tôi có dịp ghé thư viện, tình cờ tôi thấy quyển: "Ðối thoại với Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nhân đọc cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng" của nhóm Giao Ðiểm có nội dung xuyên tạc và phỉ báng đạo Công Giáo. Giao Ðiểm chê nhiều người Công giáo không hiểu ý nghĩa cao đẹp của từ Catholic; rồi dạy người Công giáo rằng, đừng xưng mình là Công giáo nữa (mặc dầu từ Công giáo đã có từ lâu) mà hãy xưng là Ca tô La Mã. Khi nghe từ Ca tô La Mã, người Việt Nam nào cũng thấy nó xa lạ, nó ngớ ngẩn. Tại Việt Nam có khoảng 10 triệu tín hữu Công giáo nhưng phải chăng nhóm Giao Ðiểm nghĩ rằng 10 triệu tín hữu Công giáo đều dốt nát, không dịch nổi từ Catholic ra Việt ngữ, nên họ đã tự ý làm giúp? Và họ đã làm điều đó, vì thiện ý hay ác ý? Việc làm đó, phát sinh từ tấm lòng quảng đại yêu thương, hay khởi đi từ tâm địa nhỏ nhoi, ghen tị? Trong thâm tâm họ, có thật sự họ nghĩ, Ca tô La Mã thì đẹp hơn, có ý nghĩa hơn là Công giáo? Những câu hỏi đó, đã hàm chứa những câu trả lời. Người Công giáo dịch từ Catholic là Công giáo, đúng về phương diện ngôn ngữ và chính xác về phương diện tôn giáo. Trên thế giới chưa có một người nào theo Thiên Chúa giáo mà nghĩ rằng mình theo đạo ngoại quôc; bởi Thiên Chúa giáo là đạo từ Trời, không thuộc riêng cho một dân tộc nào. Vị giáo tổ là Trời, và chỉ có một Ông Trời, và Ông Trời cũng là Ðấng tạo dựng mọi loài, do đó người Việt Nam còn gọi Thiên Chúa giáo là Công giáo, đạo của mọi dân tộc. (Catholic có nghĩa: bao gồm, phổ quát, tổng quát, phổ biến, đại lượng, rộng lượng, khoan hồng, khoan dung, chân chính, tông truyền, thuộc về Thiên Chúa giáo.) Dẫu vậy, đọc qua "Ðối thoại với Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nhân đọc cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng" của nhóm Giao Ðiểm giúp tôi có cơ hội để chia sẻ vài điều về niềm tin Công giáo. 1. Nhân loại nghĩ gì về Thượng Ðế và Kinh Thánh? Nhóm Giao điểm phủ nhận sự hiện hữu của Thượng đế (Ông Trời, Thiên Chúa, Ðấng Tạo Hóa). Kinh Thánh đối với họ là bịa đặt. Nhưng nhân loại không có mấy người tin như thế; cũng như dân tộc Việt Nam cũng không tin như thế. Vì thế người Việt Nam vẫn thường có những câu như: "Cầu Trời, khấn Phật" "Lạy Trời mưa xuống lấy nước tôi uống"... "Con chim nó hót trên cành, Nếu Trời không có, có mình làm sao? Con chim nó hót trên cao, Nếu Trời không có, làm sao có mình?" Ðức Khổng Tử có nói: "Duy Thiên vi đại" (Chỉ có Trời là lớn) "Nhân tri nhân bất khả dĩ bất tri Thiên." (Người ta còn biết nhau, không thể mà không biết Trời được.) "Nhân hữu đạo, bảo thực, noãn y, dật cư nhi vô giáo, tắc cận ư cầm thú." (Làm người phải có đạo, nếu chỉ tìm ăn no mặc ấm, mà sống vô đạo, thì có hơn gì con vật.) Thầy Chu Tử: "Thượng đế giả, Thiên chi Chúa tể giả." (Vua trên hêt là Chúa trên trời.) Ông Ðỗ Trọng Thư: "Thiên giả vạn vật chi tổ." (Trời là gốc của vạn vật.) Triết gia Pascal: "Nếu bạn muốn tin vào Thượng đế, bạn phải quỳ xuống." Bác học Pasteur: "Càng nghiên cứu về khoa học, tôi càng tin vào Thượng đế." Bác học Becquerel: "Nghiên cứu khoa học đã dẫn tôi đến Thượng đế và tôi có đức tin." Bác học Newton: "Tôi đã thấy Thượng đế qua viễn vọng kính." Văn hào Platon: "Những ai có một chut trí khôn, đều phải kêu cầu Thượng đế trươc khi băt đầu công việc của họ, dù việc lớn hay việc nhỏ." Bác học Duclaux: "Nếu sự sống đầu tiên xuất hiện trên mặt đất do sự tình cờ, nơi mà (vũ trụ này) mọi sự đều có luật, thì sự xuất hiện kia, nó kỳ dị như hòn đá, tự nó bò lên sườn núi." Triết gia Kant: "Không ai chứng minh một cách xác đáng là không có Thiên Chúa." Bác học Edison, đã ghi vào sổ vàng khi ông đến viếng tháp Eiffel: "Edison hết sức khâm phục và ca ngợi tất cả những nhà kỹ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa." Pascal: "Người không tin nói nếu tôi có đưc tin, tôi sẽ bỏ tà dâm. Nhưng tôi bảo anh, nếu anh bỏ tà dâm, anh sẽ có đức tin." Văn hào Bossuet: "Những chân lý đời đời không thay đổi (của luân lý) buộc ta phải tin rằng có một Ðấng Tạo Hóa." Triêt gia Brunetter: "Ðã từ lâu, tôi cố gắng tìm kiếm một nền luân lý vô tôn giáo. Trước hết, tôi thấy rằng điều này khó thực hiện, sau tôi thấy rằng quá liều lĩnh, cuối cùng tôi thấy rằng không thể được. Tôi một người thuộc nhóm Tự Do tư tưởng. Tôi bắt đầu nghiên cứu Kitô giáo. Tôi đã học hỏi rất lâu, suy nghĩ rât cẩn thận, cuối cùng tôi phải nói rằng, chân lý ở phía chân trời đó." Giáo sĩ Moreux là Giám đốc đài thiên văn Bourges: "Tôi liên lạc với các vị giám đốc thuộc hết mọi đài thiên văn trên thế giới, tất cả đều tin có Thiên Chúa." Văn hào Victor Hugo: "Thượng đế là Ðấng vô hình xac thực. Chối Ngài là mù quáng điên rồ." Thánh Augustin: "Không ai phủ nhận Thượng đế, nếu họ không có lợi gì khi phải phủ nhận Ngài." Triết gia Platon: "Có thể xây một thành trì trên chín từng mây, dễ hơn cai trị một dân không có tôn giáo." Nhà văn Chateaubriand: "Tiêu hủy việc thờ tự của Phúc âm, thì mọi làng phải xây nhiều nhà ngục và phải có nhiều lý hình." Bác học T. Termier: "Cứ chung mà nói, mọi khoa học đều dọn trí khôn ta nhận biết Thiên Chúa hiện hữu. Hơn mọi người khác, nhà bác học dù chuyên về khoa nào cũng thế, bao giờ cũng dễ dàng nhận thấy mọi vật đều biến chuyển, bị tạo, hỗn hạp, khuyết điểm, có cùng đích và rất phức tạp. Do đó, hơn những người dốt nát khác, nhà khoa học dễ có ý hướng về một Ðấng bất di dịch, tự hữu, cần thiết, hoàn toàn và là Ðấng duy nhất an bài mọi sự. Chính vì thế mà người ta bảo: khoa học dẫn đến Thiên Chúa. Và cũng chính vì thế mà người ta có thể nói, vũ trụ vật lý là bí tích của Thiên Chúa." Giám mục Hulst sau 20 năm nghiên cứu các vấn đề triêt học. Ngài có viết năm 1885 rằng: Ngài đã đọc và suy nghĩ rât nhiều về các sách báo các nhà vô thần tài giỏi nhất, có tiếng nhất, những nhà thực nghiệm, những nhà phiếm thần đủ cỡ đã viết. Tât cả những cái đó, không làm khuynh đảo lòng tin của Ngài, mà còn làm cho Ngài tin đến mức độ hiển nhiên, về một đấng Thượng đế tuyệt đối, có ngôi vị và tạo dựng vạn vật. Bismarck, một võ quan và cũng là chính khách nổi tiếng của Ðức: "Người có trí khôn mà không nhìn biết, hay chẳng muốn nhìn biết có Thiên Chúa, thì anh không hiểu sao họ không chết quách đi, vì chán nản và bị khinh bỉ." (Thư viết cho vợ) A. Eynieu đã công bố bản thống kê bấāt ngờ: Trong số 432 nhà bác học thuộc thế kỷ 19; 34 vị không biết lập trường tôn giáo, còn 398 phân chia như sau: 15 vị dửng dưng, 16 vị vô thần, 367 vị tin; như vậy là 92% các nhà bác học tin Thượng đế. Bác sĩ Dennert, người Ðức cũng tuyên bố kết quả tìm tòi của ông để biết quan niệm tôn giáo của 300 nhà bác học, tìm hiểu trong những số lỗi lạc nhất thuộc bốn thế kỷ qua. "38 vị tôi không rõ các ông quan niệm thế nào, còn 262 vị, thì trong đó 20 vị dửng dưng, 242 ông tin, tức cũng 92% tin có Thượng đế." Svetlana Staline, con gái nhà độc tài đỏ Staline, sinh ra trong vô thần, huấn luyện trong vô thần, cô đã trở lại Công giáo, và chỉ trích vô thần. Các bác học vô thần đã trở lại Công giáo: Taraschi Nagai, Alexis Carrel, Bergson... Ông Lục Trung Tường, nhà ngoại giao Trung hoa, từ nhỏ đã là môn sinh của sân Trình cửa Khổng, và chỉ biết có đạo ông bà tổ tiên, sau đã gặp đạo Công giáo như gặp được kho báu, đã trở lại và tiến xa trên đường đạo, đã hiến thân làm Linh mục và đã làm đến Tu viện trưởng. Ông nói: "Ơn cứu độ là chỗ tập trung tất cả các nẻo đường, là chỗ độc nhất mà đức hiếu của loài người, được tiếp vào đức hiếu thảo siêu nhiên mà Ðức Kitô đã dạy, và đã cho chúng ta hưởng thụ, để kết hợp tât cả nhân loại với Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời." Ông Ngô Gia Lễ, Tri phủ Kim sơn, Ninh bình, Bắc Việt. Vì tiếp xúc với người Công giáo, ông muốn tìm hiểu đạo lý, đã đọc sách Phúc âm, đã nhận ra được tính cách siêu việt của Ðưc Kitô, con Trời giáng thế. Ông đã trở lại Công giáo. Ông nói: "Tôi đã đọc Phúc âm một cách thành kính. Tôi nhận thấy Ðưc Kitô không phải chỉ là nhân vật khác thường, Ngài chính là con Thượng đế đã đến để cứu đời. Tôi là một trong những kẻ được Ngài tỏ mình ra trong Phúc âm." Ông Trịnh Sùng Ngô, Giáo sư triết Ðại học Honolulu, nguyên Ðại sứ Trung Hoa Dân Quốc tại Vatican. Từ nhỏ đã sinh trưởng trong gia đình thấm nhuần tư tưởng Lão giáo, Khổng giáo, Phật giáo. Sau ông trở lại, ông giúp nhiều bạn hữu biết đạo, và đã đem hết tâm trí vào việc phiên dịch Thánh kinh và Thánh thi ra tiếng Trung hoa. Ông nói: "Thiên Chúa giáo là đạo bởi Trời. Người ta lầm cho đó là đạo của Âu không cũ, không mới. Tôi cảm thấy đạo đó tiềm ẩn trong tôi một cách sâu đậm hơn cả. Tôi biết ơn các đạo Lão giáo, Khổng giáo, Phật giáo là những đạo tôi đã hấp thụ khi sinh trưởng, vì đã làm đà đưa tôi đến với Ðức Kitô. Sau nhiều năm lạc lõng, nay tôi được về với Ðưc Kitô, để ở luôn với Ngài thật là vui sướng vô biên. Tôi đã nhẩy vọt lên trên thời gian rồi. Từ nay sự sống và bản thể của tôi được đặt vào lãnh vực đời đời. Gia nhập Hội Thánh Chúa Kitô, tôi đã không thiệt gì, nhưng đã được hoàn toàn mãn nguyện." Họa sĩ Nhật Foujita, dòng dõi tướng quân Samourai, đã giúp triều đình Mikado từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 12. Thân sinh ông là sĩ quan cấp tướng trong Bộ Tham Mưu Hoàng gia. Sau khi tốt nghiệp trường mỹ thuật Ðông Kinh, Foujita được gửi qua Âu châu, để tiếp xúc với mỹ thuật Tây phương, vào năm 1912. Ðến Paris, Foujita được tiếp xúc với các nhà danh họa như Picasso, Van Gough, Renoir, Gauguin .v.v., được tha hồ quan sát những tác phẩm ở các bảo tàng viện và các Thánh đường. Óc thẩm mỹ tế nhị làm cho ông chóng nổi tiếng. Năm 1919, 1920, 1923 ông đã trưng bày nhiều tác phẩm nghệ thuật giá trị. Năm 1924-30 ông chỉ huy trang trí khu Nhật Bản ở Câu Lạc Bộ Ðồng Minh, được huy chương của hai nước Pháp và Bỉ. Năm 1931 ông qua Mỹ, năm 1933 qua Roma, về Nhật năm 1949. Ông và cả gia đình lãnh Phép Thánh Tẩy tại nhà thờ Reims (Pháp). Ông đã mãn nguyện trở nên con Chúa. Ông nói: "Sự nghiên cứu mỹ thuật Tây phương đã đưa tôi đến những sáng tác của Thiên Chúa giáo, làm cho tôi bước vào một thế giới siêu phàm, ở đấy tôi nhìn thấy Thượng đế. Trong những năm du ngoạn khảo sát mỹ thuật. tôi thấy nhà thờ Thiên Chúa giáo cao vút lên trời, như đem mọi khát vọng con người vào một nơi cao sáng, một thế giới siêu việt làm cho con người được thanh thoát. Những kiến trúc vĩ đại, những kiệt tác về điêu khắc, hội họa của Thiên Chúa giáo làm cho tôi rung động tâm hồn, khiến tôi say mê tìm hiểu đến thỏa mãn. Tôi hoàn toàn tin tưởng ở Thượng đế và nhất quyết trở về với Ngài." Nhà tư tưởng Jean Jacques Rousseau của Pháp có ý mỉa mai những ai cho rằng câu chuyện về cuộc đời Chúa Giêsu là bịa đặt, như sau: "Bịa đặt như thế thì không được; đến nỗi tác giả bịa đặt (nếu có) chắc chắn còn lạ lùng hơn anh hùng trong cuốn sách." Các Tổng Thống Hoa Kỳ cũng có những nhận xét như sau về Thiên Chúa giáo: - George Washington: "Không thể có một chính phủ đúng, khi chính phủ đó phủ nhận Thượng đế và Kinh Thánh." - Abraham Lincoln: "Kinh Thánh là quà tặng quý nhất mà Thượng đế đã ban cho nhân loại." - Dwight Eisenhower: "Văn minh của chúng ta được xây dựng trên nền tảng Kinh Thánh." - Andrew Jackson: "Kinh Thánh phải là nền tảng cho thể chế của chúng ta." Một nhà bác học Mỹ đã đánh giá một con người vô thần như sau: - Trong con người có một số nước đủ giặt một cái khăn bàn. - Máu chứa chất sắt, đủ làm 7 cái đinh đóng móng ngựa. - Có một số chất vôi đủ quét một bức tường nhỏ. - Ðốt ra than, có thể làm được 65 cây viết chì. - Chất phốt-phát đủ làm được hộp diêm. - Và chất muối vài muỗng nhỏ. Bán tất cả những cái đó được 95 xu, chưa nổi một Mỹ kim. Thật quá rẻ. 2. Sống Bác Ái Tin vào Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Thế đòi hỏi người Kitô hữu hãy sống đúng tinh thần Phúc Âm trong đó có lòng bác ái đối với người khác ngay cả khi họ đã qua đời. Vào khoảng năm 1786, khi cuộc cách mạng Pháp bùng nổ. Vua Luy thứ 16 và Hoàng hậu Antoinette bị lật khỏi ngai vàng. Nước Pháp đầy rẫy cảnh đầu rơi máu chảy, bởi các cuộc xử bắn, giết người kinh hãi. Sau khi nhà vua bị lật đổ, bá tước Giaxintô thành Floren cùng 900 bạn đồng đội cũng bị dồn vào tù chờ án xử. Một hôm gần cửa sổ phòng giam, bá tước ngạc nhiên thấy một thiếu nữ trẻ đẹp đứng ngoài nhìn vào phòng giam ông. Thì ra đó là Hermania, người em sinh đôi với ông. Ông vội kêu lên: - Hermania, sao em dám đến chỗ này? Em không biêt bọn cách mạng đang thù vua và những ai theo vua sao? Em phải cẩn thận chứ. - Thưa anh em biết, nhưng hôm nay là sinh nhật của anh em ta, em không thể không đến thăm anh. Hôm nay cả hai chúng ta được 19 tuổi, và đây là lần thứ nhất chúng ta không mừng sinh nhật chung với nhau. Em không thể yên tâm nếu không thấy anh khoẻ mạnh và bình an. - Em thấy anh vẫn khoẻ mà. Chắc em vẫn nhớ, khi má còn sống, má nói anh em ta giống nhau từ tình cảm tới ý nghĩ. Bởi thế hôm nay anh cũng rât buồn sầu như em vậy. Nhưng bây giờ em phải vui lên, kẻo anh cũng buồn lây. - Họ có xử tử tế với anh không? - Anh có tất cả những gì anh cần, trừ không có tự do thôi. Anh xấu hổ bởi được xử như thế này, trong khi các bạn đồng đội bị xử tệ... Này, nghe như có người đang đi tới, thôi em đi đi, mong có ngày chúng ta mừng sinh nhật lớn hơn. Thiếu nữ rời cửa sổ, bước vội qua sân, lẻn ra đường cái sau bức tường. Giaxintô ngồi chờ, cánh cửa mở, viên sĩ quan cách mạng bước vào lễ độ chào tù nhân, cho chàng biết theo lệnh cấp trên, mời chàng đi dự tiệc chiều nay mừng sinh nhật của chàng. Chàng nhận lời. Ăn uống xong, một nhóm quân cách mạng tiến vào bắt chàng. Chàng ngồi bình tĩnh phân trần: - Bởi tôi trung thành với nhà vua, nên tôi bị xử như các bạn đồng đội, tôi không phàn nàn, nhưng xin cho tôi ít phút sửa soạn trước khi chết. Lời xin của chàng bị từ chối. Chàng khảng khái quay lại nói: - Ðược, tôi sẵn sàng đi. Chàng bị dẫn ra bãi xử. Thình lình cô Hermania, em chàng, từ đâu vụt chạy đến ôm lấy chàng khóc lóc thảm thiêt. Người cai hô "Bắn." Nhưng Hermania kêu lên: - Nếu bắn anh tôi thì bắn cả tôi đi! Một sĩ quan đến lôi cô ra. Bốn viên đạn đã kêt thúc đời anh cô. Khóc ngât, cô quỵ xuống bât động. Mười lăm năm sau, Hermania được 34 tuổi. Tâm hồn đắng cay chai cứng bởi cái chết phũ phàng của anh cô. Cô không chấp nhận gì nữa, kể cả đạo giáo. Cô từ chối tất cả thú vui, giải trí ở đời. Cô sống đơn độc và chỉ còn biết hận đời đen bạc. Hôm ấy, đứng cạnh cửa sổ lâu đài nhìn ra đường cái, cô thấy Linh mục xứ đang đi trên đường về phía nhà cô. Cô chạy xuống chào ngài lễ độ: - Thưa cha, hôm nay là ngày 3 tháng 8, ngày kỷ niệm anh con bị bắn chết tàn bạo. Linh mục muốn hướng cô về niềm tin tôn giáo, ngài đọc câu Kinh thánh: - Phúc cho ai khóc lóc, bởi sẽ được an ủi. - Thưa cha, đây không phải là lần thứ nhât cha nói câu đó. Cha nói vậy là cha không hiểu đau khổ của con. Con biết Phúc âm. Cha muốn con cầu nguyện, nhưng nếu con cầu nguyện, con phải tha cho kẻ thù như Chúa dạy, nhưng con không thể tha cho chúng, những đứa đã giết anh con. Con không trả thù chúng được nữa, bởi hầu hêt chúng đã chết và ra tòa Chúa, nhưng con vẫn muốn trả thù. Cha bảo con đến dự lễ, nhưng con dự sao được khi lòng con đầy tức giận. - Bởi phần rỗi linh hồn con, cha xin con bỏ những tư tưởng ấy đi. Nhớ rằng trên Thánh giá, Chúa đã tha cho kẻ giết Ngài. - Nhưng Chúa là Chúa Trời, còn con là kẻ có tội. - Con nhớ rằng Chúa là gương, và các thánh phải noi theo. - Con không phải là thánh. - Ðúng vậy, con là kẻ khổ sở, là phụ nữ rất đau khổ, nhưng con thích nghĩ rằng con can đảm, con trung tín. Phần Chúa là Chúa ta, bởi Ngài là Chúa, Ngài có quyền và muốn ban ơn cho ta giữ lề luật Ngài. Ngài đòi ta tha cho kẻ thù như Ngài đã tha. Ngài sẽ ban ơn cho ta, nếu ta không chống lại ơn Ngài. - Có thể như vậy. Con chưa bao giờ nghĩ như thế. - Cha sợ trường hợp con rât khó, nhưng đừng thất vọng. Cha khuyên con nên cầu nguyện với các linh hồn Luyện ngục. Cha thường được các ngài giup đỡ khi không còn hy vọng theo kiểu người đời thường nói. Nếu anh con còn ở trong số các linh hồn Luyện ngục, cha cầu xin anh con được phép làm mềm lòng con, bởi con rất thương anh con. - Anh con đã chết 15 năm nay làm sao còn ở trong Luyện ngục? - Ðó là câu hỏi rât khó, cha không thể trả lời chăc chắn. Nhưng chúng ta biết chắc Chúa thương xót vô cùng, nhất là thương những ai đau khổ, những ai bị cư xử bất nhân. Bá tước Giaxintô đã chết không kịp chuẩn bị ra trước Tòa Chúa, có thể phải đền bù bởi những tội thời niên thiếu. Hermania đêm nay cũng như đêm các năm trươc, từ khi anh bà chết, bà thức suốt đêm kỷ niệm sinh nhật của bà. Người đầy tớ đem lên chiếc đèn và đóng cửa lại, rồi xuống nhà dưới. Hermania ngồi trên ghế bành, mắt lim dim hồi tưởng những năm xưa, nhất là đêm trăng người ta xử bắn anh bà. Anh bà đứng dựa vào tường, đầu ngả về một bên, có tiếng hô, một phát nổ... Nhưng kìa ai vậy? Ai đang đứng trước mặt bà đây? Bà mở to đôi mắt. Bà nghe rõ tiếng đồng hồ tíc tắc trên tường, nhưng trước mặt bà có ai đứng đó. Lạy Chúa có thật ai đứng đó không? Ðúng rồi! Chính anh, như hồi 19 tuổi, nhưng sao coi mặt anh buồn thê thảm. Ðặt hai tay lên ngực để bình tĩnh hơn, bà hỏi: - Có phải anh Giaxintô đấy không? Anh về đây làm gì? - Chính anh đây, anh về phàn nàn bởi người ta xử tàn ác với anh. - Em biết, anh chết làm lòng em đau đớn vô ngần. Máu anh đòi em phải trả thù. Em phải làm sao bây giờ? - Anh không phàn nàn về cái chết. Ðối với sự sống đời đời thì sự sống trên trần gian chỉ như một hạt cát trên bờ biển. Chết là bước qua bậc thềm để vào lâu đài Vua Cả. Ðiều anh buồn là đứa em anh rât yêu dấu đã quên anh. - Em quên anh?! Thử hỏi có ngày nào em không nhớ tới anh, có đêm nào em không mơ anh bị chết khổ sở. Em đã vì anh mà bỏ hêt cả tuổi hoa, bỏ hết thú vui cuộc đời, lòng em đâu còn vui khi vắng anh. - Nước mắt và sự thất vọng của em chẳng giúp gì cho anh cả. Anh cần em cầu nguyện để đền tội cho anh. Anh ở trong Luyện ngục đền tội chưa đền trong những năm cuối đời. Nhất là anh phải khổ bởi chêt vội không kịp tha cho kẻ xử tử anh. Anh đã không nhớ tới gương của Chúa và của Thánh Têphanô. Anh không nhớ chúng ta phải yêu kẻ thù. Sau thời gian dài em không tha cho họ, em cũng không cầu nguyện cho anh. Mười lăm năm rồi, anh chờ đợi uổng công, không được một lời cầu nào trên cõi sống. Xác anh không được Giáo hội làm phép. Không Linh mục nào dâng lễ cho anh. Anh thấy vô số linh hồn lên Thiên đàng nhờ lời cầu nguyện và rước lễ cầu cho họ, còn anh phải rớt lại sau. Vào lúc cuối cùng, bươc vào ngưỡng cửa đời đời, anh tự nhủ, "Lời cầu của em sẽ theo anh trên nấm mộ" nhưng chỉ đêm nay anh mới được một kinh Vực sâu. Anh được phép về đây nài xin em giúp đỡ, xin em thương giúp anh được bớt phần phạt. Hãy yêu thương kẻ thù. Ôi loài người hay chết trên đời, không hiểu được những cực hình linh hồn. Nghe những lời đó, Hermania vội quỳ xuống: - Xin anh tha lỗi cho em, em thật tàn nhẫn với anh. Bà khóc nức nở, tay ôm mặt. Khi ngẩng đầu lên, anh bà đã biến đi hồi nào. Thức trắng đêm ấy, bà cầu nguyện thiết tha như để bù lại những năm qua bà đã bỏ. Bình minh sáng tỏ. Chuông nhà thờ kêu gọi giáo dân dự lễ 5 giờ sáng. Chổi dậy, bà vội vã tới nhà thờ. Những người dân quê ngạc nhiên thấy một bà sang trọng quỳ giữa họ, lần đầu tiên trong nhiều năm nay. Lời cầu trước hết là cho những kẻ đã giết anh bà. Sau lễ, bà xin gặp cha xứ kể lại đầu đuôi. - Tạ ơn Chúa. Có phải bà đọc kinh Vực sâu cho anh bà không? - Dạ phải, và anh con nói đó là kinh đầu tiên anh con được hưởng. Sau ít ngày, Hermania đã xưng tội, rước lễ. Từ đó bà hiến thân làm việc bác ái. Bà không giàu của, nhưng người nghèo được bà giúp đỡ luôn cảm thấy hài lòng, bởi bà cư xử như bạn bè thân thiết. Không có tiền cho, thì bà giúp công. Chẳng bao lâu, người ta coi bà như "Bà hảo tâm." Ai cám ơn thì bà chỉ nói: "Xin cầu cho anh tôi, đừng cám ơn tôi." Hai mươi lăm năm sau, cũng ngày 3 tháng 8, bà Hermania qua đời tốt lành sau khi lãnh cac Bí tich cuối cùng. Bà bình tĩnh chờ đợi. Cuối cùng bà reo lên: - Tôi thấy anh Giaxintô, anh đến với hương thơm trên trời và đưa tôi về với Chúa. Anh thật hạnh phúc. Tôi với anh sẽ liên kết với nhau. Bà đã êm ái ra đi về chốn bình an. (Charity. p. 323-332) 3. Số phận của Voltaire Người ta coi ông là ông tổ của vô thần. Với ngòi bút thiên tài, ông cố hạ bệ Thiên Chúa. Huấn ngôn của ông là "Hãy đánh đổ cái đứa quái gỡ" (ông ám chỉ Giáo hội Công giáo). Không một lời gian dối nào mà ông tởm gớm, không một vu oan nào mà ông ghê sợ. Ông chiêu tập một số anh em, lấy tên là nhóm Beelzebuth, mục đích để hạ bệ Thiên Chúa. Ông có chịu các phép bí tích cũng để chế nhạo Thiên Chúa. Năm 1753 ông đã lên án Thiên Chúa: "Hai mươi năm nữa Thiên Chúa có thể về hưu, vì không còn ai phục vụ Ngài." Ðúng 20 năm sau, năm 1773, Voltaire đã tắt thở trong cái chết thê thảm. Ông trông thấy những hình ảnh làm ông run sợ, ông la lên: "Một bàn tay đang kéo tôi đến với Thiên Chúa... Ðây quỷ muốn băt tôi... Tôi trông thấy hỏa ngục." Ông tru tréo gầm thét như thú vật hung dữ. Ông lấy móng tay cấu xé thịt mình ra từng miếng. Một bà già hay giúp đỡ người hấp hối, sau khi chứng kiến cái chết của Voltaire, bà thường hay nói: "Khi ấy tôi đang ở gần giường của Voltaire đang hấp hối. Sau sự việc này tôi không còn muốn thấy một người vô đạo chết nữa." Một người khác cũng đã nói: "Nếu quỷ có thể chết được, cũng không chết dữ như Voltaire." 4. Hỏa ngục Ðây là nơi giam giữ đời đời những kẻ không giữ lề luật, chối bỏ, chống lại Thiên Chúa và không ăn năn, thống hối. Năm 1917, Ðức Maria đã hiện ra với ba trẻ tại Fatima, nước Bồ đào Nha, đã cho các em trông thấy Hỏa ngục và các em đã mô tả lại như sau: "Ðức Bà cho chúng con thấy một biển cả lửa hồng dường như ở dưới mặt đất. Chìm ngập trong lửa này là quỷ dữ và các linh hồn dưới hình thể con người, giống như những cục than hồng trong suốt, đen đủi hoặc xám xịt. Họ nổi lên trong đám cháy, bị các ngọn lửa nâng lên cao, những ngọn lửa này phát ra từ thân hình họ cùng với một đám khói lớn. Họ lại rớt xuống mọi phía, giống như những tia lửa trong một đám cháy lớn, vô trọng lượng hoặc mất thăng bằng, và giữa những tiếng la hét và rên rỉ vì đau đớn và tuyệt vọng, làm kinh khiếp chúng con và làm chúng con run lên vì sợ hãi. Các quỷ dữ có thể được phân biệt do các hình thù gây kinh hãi và ghê tởm, giống như những con vật khủng khiếp và chưa bao giờ thấy, tất cả đều đen đủi và trong suốt. Thị kiến này kéo dài một lúc. Làm sao chúng con có thể bày tỏ lòng biết ơn cho xứng với Mẹ yêu dấu trên trời của chúng con, Ðấng đã báo trước cho chúng con trong lần hiện ra thứ nhất khi hứa rằng Ngài đem chúng con về trời. Bằng không, con nghĩ rằng chúng con sẽ chết điếng vì sợ hãi và kinh khiếp." * * * Cuộc đời mỗi người chúng ta, so với cõi đời đời, thì chẳng khác gì một thoáng mây bay. Chẳng mấy chốc chúng ta sẽ phải "ra đi." Và khi ra đi, mỗi người phải mang theo "hành trang" của mình. Hành trang đó là những việc làm, lời nói của chúng ta ở cõi đời này. Hành trang đó sẽ định đoạt số phận của chúng ta ở kiếp sau. Vì thế, xin đừng vì một chút lợi danh của kiếp người mong manh, mà quên đi cõi đời đời đang chờ đợi mỗi một chúng ta. Lạy Thiên Chúa, con cảm tạ Cha, không phải vì tài giỏi, khôn ngoan mà con được là người Công giáo, nhưng chính Cha đã ban cho con. Con cảm tạ Cha, vì con luôn luôn cảm thấy bình an, hạnh phúc, và tràn đầy hy vọng trên bước đường đi về Nhà Cha, dù chông gai, bão tố trên đường con đi. Và trái tim con luôn dạt dào yêu thương những người anh em lạc lối. Xin Cha thương ban cho họ được thức tỉnh, biết quay về nẻo chính, để một ngày kia, khi họ gặp Cha, họ cũng được xum họp với Cha trên quê thật vĩnh phúc. Amen. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu |