TÌM HIỂU CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI

LS. NGUYỄN CÔNG BÌNH

Bài viết sau đây có mục đích tìm hiểu về sự phục sinh của Ðức Kitô như được trình bày trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, với khả năng giới hạn, có lẽ trong bài còn nhiều điểm thiếu sót nên xin được đón nhận mọi góp ý để Ðức Tin chúng ta rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn.

Khi đọc Tân Ước, chúng ta thấy có đoạn nói rằng Chúa Giêsu toàn năng đã sống lại, hay đã tự mình sống lại; song có đoạn thì lại nói Chúa được làm cho sống lại. Vậy sự thật như thế nào?

Khi tìm hiểu theo văn phạm, ta thấy vấn đề rất giản dị. Bốn Phúc Âm Tân Ước đều được viết bằng tiếng Hy lạp (Greek). Theo văn phạm Hy hạp, nhiều động từ đặc biệt có thể chia theo 3 thể:

- Tích cực (active voice):

Ví dụ: Chúa Giêsu đã sống lại.

- Thụ động (passive voice):

Ví dụ: Chúa được Chúa Cha làm cho sống lại.

- Và trung thể (middle voice, tạm dịch là trung thể hay tự thể, là thể ở giữa tích cực và thụ động). Thể này chỉ chia theo 2 thời (tense) là vị lai (future) và quá khứ (aorist):

Ví dụ: Chúa Giêsu toàn năng đã tự mình sống lại.

Xin thêm một ví dụ: Chúa ban cho thánh Phêrô (và những người kế vị là các Ðức Thánh Cha) chìa khóa Nước Trời trong đó có quyền tối cao cầm buộc về luân lý: Ở dưới đất nếu con tháo gỡ điều gì (tích cực : luses) thì trên Trời cũng được tháo gỡ như vậy (thụ động : estai lelumenon) (Mattheu 16:19). Ngay trong đoạn sau Thánh Matthêu lại viết Chúa ban quyền cho các tông đồ (và các linh mục) quyền tha tội chúng ta: Ở dưới đất các con tháo gỡ điều gì (tích cực/ số nhiều: luses) thì trên Trời cũng được tháo gỡ như vậy (thụ động : estai lelumena) (Matthêu 18:18). Hiển nhiên theo câu vừa dẫn, Tân Ước không thể dung trung thể (lusometha) vì chúng ta không thể tự tháo gỡ, tự tha tội mình; song Chúa bảo chúng ta tự tránh phạm tội nhất là đừng phạm tội nữa (Gioan 8:11). Thánh Phao lô dạy những người sống bậc vợ chồng như sau: Chồng phải yêu vợ như tự yêu chính mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Có ai không yêu chính mình đâu trái lại tự nuôi nấng và chăm sóc thân thể mình. (Êphêsô 5:28, 29 và câu 32).

Mỗi động từ tiếng Latinh, Anh, Pháp, Việt nam v.v... chỉ có thể được chia theo 2 thể là tích cực (active voice) và thụ động (passive voice). Xin so sánh Chúa yêu thương chúng ta / God loves us với Chúng ta được Chúa yêu thương / We are loved by God. Tiếng Việt của tổ tiên chúng ta vậy mà hay hơn chữ Pháp và chữ Anh vì phải kể như có 2 thể thụ động vì có sự khác biệt giữa chữ "bị" và chữ "được" (Ta đều mong được lên thiên đàng chớ không bị xuống hỏa ngục). Chúng ta cũng có thể đổi thể thụ nhận sang thể năng động cho câu văn dễ nghe hơn như: Chúng ta được Chúa yêu thương sang Chúng ta lãnh nhận tình thương của Chúa, sống, và tăng trưởng trong tình yêu ấy.

Văn phạm của ta hay Latinh không có trung thể. Ðể dịch trung thể sang tiếng Việt hay Anh, chúng ta có thể thêm vào chữ tự / chính mình / self trước động tự; song làm như thế không hẳn đã là đúng trong nhiều trường hợp, vì ý nghĩa uyển chuyển của trung thể, nhất là khi dịch sang chữ Latinh cho nên nhiều dịch giả Latinh giản dị dùng thể thụ động, chớ không nhất thiết thêm chữ ipse, ipsa, ipsum, sui hay per se (VN là tự) vào... Ví dụ luomai có thể dịch là tự tôi buông thả (I loose myself) hay tôi được tự do (I am loosed). Ai học tiếng Latinh cũng thấy khổ sở lắm, tiếng Hy lạp dùng để viết triết học nên văn phạm về khác biệt giữa các thì (tenses) để chia một động tự không thể giản dị trong vài hàng. Ngay chữ Việt như "được, dễ." dùng trước một động tự cũng khó mà dịch sang ngôn ngữ khác cho đúng. Chúa thấy các em bé vô tội dễ thương nên thương yêu chúng và nói rằng ai không trở nên như các em thì chẳng vào được nước Trời và trên Trời chúng lớn nhất. Còn chúng ta đã phạm tội nên Chúa thấy đáng thương. Chúng ta được thương hại mà Ngài phải chịu chết. Song nếu ai không tin và nghe theo Con Một thì đã bị lên án rồi (dịch ra thể thụ động còn nguyên nghĩa có thể hiểu rõ đã tự mình lên án mình) (Xin xem Gioan 3:16-18)

Khi viết Tân Ước, các thánh đã dùng động tự sống lại (egeiro hay anistemi) theo cả 3 thể: thể tích cực hay trung thể (middle voice) khi lập lại Lời chính Chúa Giêsu tuyên bố, và thể thụ động khi kể lại sự kiện Chúa sống lại.

Chúa Giêsu đã sống lại thật (động từ chia ở thể tích cực)

- Gioan 11:25: Trước khi cho Lazarô sống lại, Chúa tuyên phán: "Chính Ta là sự sống lại và là sự sống"

- Gioan 2:20 kể lại Chúa Giêsu tự ví mình như Ðền Thánh Jerusalem và thách thức người Do Thái cứ phá hủy đền thờ tức là thân thể Ngài thì trong 3 ngày Chúa sẽ egeiro lại. (Vì thói quen chúng ta thường dịch egeiroxây lại trong câu này, nghĩa đúng là cho đứng trở lại, tự sống lại. Ngay các thánh tông đồ lúc ấy cũng không hiểu "xây lại, tự sống lại" là gì).

- Marcô 16:9. Sau khi Ngài đã sống lại vào ngày đầu tuần lễ, Ngài đã hiện ra trước hết cho Maria Mađalêna.

- Còn nhiều ví dụ... Vì thế, mỗi lần đọc kinh Tin Kính trong thánh lễ mà Hội Thánh soạn thảo trong công đồng Nicene, hay kinh Tin Kính của các thánh tông đồ (mẫu ngắn) mà ta hay dùng trước khi lần hạt, chúng ta cùng xác tín sự kiện các thánh tông đồ đã minh chứng rằng: Chúa Giêsu đã chết và nhưng ngày thứ ba đã sống lại. Et resurrexit tertia die secundum Scripturas.

Nhân đây cũng giải thích về ý nghĩa Chúa Giêsu "ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại." Có một số người hiểu là Chúa chết vào giờ thứ 9 chiều Thứ Sáu (chớ không là 9 giờ song khoảng 3 giờ chiều, tính theo giờ VN) và sau ba ngày Chúa sống lại nên cứ thắc mắc là từ chiều ngày Thứ Sáu đến nửa đêm ngày Thứ Bảy vọng Lễ Phục Sinh thì mới chỉ 33 giờ chứ chưa đủ 3 x24 là 72 giờ. Rất giản dị: Chữ tertia dies là ngày thứ ba (song chớ lộn với ngày Thứ Ba /Tuesday hay Mardi của lịch VN mà người Tàu lại gọi là lễ bái nhị là Thứ Hai.) Ở Việt Nam đến nửa đêm 0:00 giờ mới bắt sang ngày hôm sau còn theo người Do Thái thì chạng vạng tối 6:00 PM là bắt đầu một ngày mới. Chúa chết khoảng 3 giờ chiều Ngày Thứ Sáu Chịu Nạn, đó là ngày thứ nhất prima dies / first day. Khi đến 6 giờ chiều Thứ Sáu thì khởi đầu ngày mới, ta gọi là Thứ Bảy, Do Thái gọi là ngày Sabbath nghỉ ngơi, Ngài nằm trong mộ trong suốt ngày thứ nhì này, secunda dies / 2nd day. Cựu Ước của Maisen nói rằng Sabbath là Ngày Chúa cũng nghỉ ngơi sau khi tạo dựng trời đất trong 6 ngày. Tại sao Thiên Chúa lại phải nghỉ ngơi? Hoá ra đó là lời Maisen tiên tri về cái chết của Chúa Giêsu; đến ngày thứ ba (Tertia dies) khởi đầu từ 6 giờ chiều thứ Bảy thì ta đã có thể mừng lễ Phục Sinh vào bất cứ giờ nào. Thánh Matthêu nói là Chúa chết vào 9 giờ.

Trong dụ ngôn ông già chủ vườn nho mướn nguời, chính Chúa Giêsu dùng đồng hồ Do Thái nên nghe lạ tai (Matthêu đoạn 20). Muốn dễ hiểu Lời Chúa, thuận theo giờ VN, cứ 6 giờ tối thì anh chị vặn kim đúng 12:00 như thế 6:00 tối hay 6:00 sáng trùng một điểm

Do Thái: 12 1 2 3 4 5 6 AM
Việt Nam: 6 7 8 9 10 11 12 AM
Do Thái: 7 8 9 10 11 0 PM
Việt Nam: 1 2 3 4 5 6 PM

Chúa nói tảng sáng cho đến 1:00 AM, (ta là 7:00 giờ sáng) là thời gian toán đầu tiên đến làm việc. Vào 2 giờ sau thì có toán khác được vào làm. Giờ thứ 6 giữa trưa rồi đến giờ thứ 9 (tức 3:00PM) ông chủ lại cho nhóm khác vào làm. Thậm chí đến giờ 11 cũng lại có nhóm cuối cùng được cho làm; đến đúng 12 giờ, tức là 6:00 PM là hết ngày ấy, ông chủ phát lương. người nào người nấy được ông chủ hậu đãi cho tiền lương của ngày làm việc ấy là $1.00 denarium bằng bạc, vốn là tiền công nhật khá cao thời ấy. Ngay mạng của Chúa Giuđa đem bán cũng chỉ được $30.00 denarii mà thôi.

Chúa Giêsu đã tự sống lại (động tự chia theo trung thể)

- Chúa Giêsu tiên báo cuộc thương khó của Ngài: Ngài sẽ bị giết song đến ngày thứ ba, Chúa sẽ sống lại; tuy nhiên vào lúc đó tông đồ không hiểu gì cả. (Luca 18:33)

Ngày Chúa biến hình trên núi, Chúa căn dặn các tông đồ đừng nói cho ai hay chuyện này trước khi Con Người từ cõi chết sống lại (thể tích cực). Các tông đồ vâng lời dặn dò ấy song vẫn cứ tự hỏi nhau: "Từ trong cõi chết sống lại nghĩa là gì?" (Mátcô 9:9)

Có nhiều ví dụ tương tự khác các bản dịch thường đổi trung thể sang thể năng động cho câu văn và ý nghĩa trong sáng và thật là hữu lý. Chúa Giêsu là Thiên Chúa toàn năng, Ngài toàn quyền tự sống lại. Có bản dịch với thể thụ nhận. Theo thiển ý, dịch như thế cũng chẳng sai lạc Ðức tin vì chính các thánh sử chia động tự sống lại ở thể thụ nhận.

Chúa Giêsu đã được Cha cho sống lại (động từ chia ở thể thụ động)

- Gioan 2:22: đến khi Chúa được cho sống lại từ cõi chết, các môn đệ đã nhớ lại và đã tin.

- Gioan 20:9: Thánh Gioan lại dùng động tự Chúa sống lại ở thể tích cực và chính Ngài và Phêrô đã chứng kiến sư kiện này và đã tin.

- Luca, đoạn 24, kể lại lời của Thiên thần nói với đám phụ nữ: Sao các bà lại tìm Người Sống giữa kẻ chết? Ngài không còn ở đây nữa nhưng đã được cho sống lại (câu Luca 24:5 này dùng thể thụ động). Hãy nhớ Lời Ngài đã phán với các bà khi còn ở Galilê, là Con Người sẽ bị nộp vào tay người tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, nhưng đến ngày thứ ba thì Ngài sống lại (câu Luca 24:7 này dùng thể tích cực). Cũng trong đoạn 24 này, hai môn đệ đi Emmau được Chúa hiện ra đã lật đật trở về với nhóm 11 tông đồ và được cho biết rằng Chúa Giêsu đã được sống lại (Luca 24:33) Ngay khi đó Chúa đã hiện ra.

- Matthêu thuật lại lời các Thiên Thần rằng: Chúa Giêsu đã được cho sống lại như chính Ngài đã nói trước (Matthêu 28:6).

- Trong 1 Cor. 15, thánh Phaolô viết đi viết lại nhiều lần: Chúa Kitô được cho sống lại (1 Cor 15: 13, 14, 15, 16) vì nếu không thì Ðức tin chúng ta vô ích. Xin hãy đọc cả đoạn 15 này để hiểu thêm mầu nhiệm phục sinh đã được ban cho chúng ta.

Khi kết thúc bài Kinh Tin Kính, chúng ta hát rằng: Tôi tin xác loài người sẽ sống lại; đó là dịch thoát thể thụ động sang thể tích cực câu Et exspecto (và tôi mong chờ) ressurectionem motuorum (sự sống lại của những kẻ chết ). Chắc hẳn không ai hiểu sai rằng chúng ta tự sống lại mà là nhờ Chúa thương.

 

Chúa Giêsu là Thiên Chúa toàn năng, Ngài toàn quyền tự sống lại

Là Thiên Chúa, hợp nhất với Chúa Cha uy quyền và Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu đã hằng có từ thuở đời đời. Nhờ Chúa Giêsu mà muôn vật và chính từng người chúng ta được tạo thành (Gioan 1:3). Chúa tự xuống thế, tự hiến thân đền tội nhân loại, tự chết và tự sống lại để chúng ta được cứu. Nếu Chúa Giêsu đã không sống lại thì rao giảng Tin Mừng là điều vô bổ và Ðức tin của chúng ta cũng vô ích. (Xin đọc 1 Corintô đoạn 15). Kinh Ðức tin của Thánh Phaolô soạn được chúng ta tuyên xưng trong mọi thánh lễ (Cha Thành Tâm phổ nhạc):

Con tuyên xưng Chúa đã chết đi,
Con tuyên xưng Ngài đã sống lại,
Trong vinh quang, mai Ngài lại đến
Ðón chúng con lên trời về với Chúa Cha.

Các câu trích dẫn nói trên, viết theo thể năng động hay tự thể, do chính Chúa Giêsu đã nói dĩ nhiên hợp lý.

Chúa Giêsu cũng giữ cái nghiệp làm người, Ngài nhờ Cha cho thân xác Ngài sống lại

Song Chúa Giêsu khi xuống thế làm người thì cũng lại muốn được gọi là Con Người, con cháu của loài người. Vì thế Chúa đã rất khiêm nhượng vâng phục Cha để dạy chúng ta bài học khiêm nhường nhất là sống theo Ý Ðịnh cũng như chương trình và kế hoạch của Chúa Cha kể cả đã vâng lời cho đến chết, chết khổ nhục trên Thánh Giá.

Thiên Chúa chỉ cần phán một lời thì cả nhân loại được tha tội song Ngài muốn điều này được thực hiện nơi sự vâng phục của Người Con là Ðức Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể. Chúa Giêsu để mình tùy thuộc quyền năng của Chúa Thánh thần để được sinh ra nơi cung lòng Ðức Trinh Nữ.

Là Thiên Chúa, tự quyền năng Ngài, Chúa đã có thể xuống thế như người đã trưởng thành, với quyền năng không cần ăn uống; song vì làm Người nên Giêsu đồng ý để được sinh ra, làm trẻ bé thơ tùy thuộc vào sự săn sóc của Thánh Giuse và Mẹ Maria, lệ thuộc vào bản tính loài người, cần ăn uống để sống, cần làm việc để nuôi mẹ, nuôi Thánh Giuse già yếu và nuôi thân. Ngoài ra, Chúa Giêsu cũng trải qua những vui buồn đau khổ của kiếp người.

Là Thiên Chúa, Chúa Giêsu không phải bị sỉ nhục, bị đóng đinh và bị chết song vì làm người nên vâng lệnh Cha để uống chén đắng tội lỗi chúng ta đã dành cho Ngài.

Là Thiên Chúa, tự quyền năng Ngài, Chúa Giêsu có thể tự sống lại song vì làm người nên Giêsu đồng ý để được Cha cho sống lại. Ðó là một mầu nhiệm chúng ta khó lòng hiểu thấu đáo. Cũng chính do vâng phục Cha trọn vẹn, Chúa Giêsu được Cha tôn vinh lên trên mọi quyền lực thần thiêng, mọi tước vị và danh dự trời đất có thể có. Phaolô đã xác nhận như vậy.

Tóm lại khi các thánh sử nói Chúa sống lại ở thể tích cực hay tự sống lại theo trung thể, hay được Chúa Cha cho sống lại theo thể thụ động đều có những ý nghĩa chân lý ngàn đời.

Chúa đã dạy Ngài sẽ sống lại, trước ngày chịu nạn và sống lại

Chúa là ông thầy giáo tài tình vì Chúa dạy chúng ta theo nhiều phương pháp rất là loài người: Trước hết để chúng ta nghe và để dễ hiểu thì Chúa dùng dụ ngôn. Chúa rất ít dùng danh tự mà thường dùng động tự. Chúa lại còn làm mọi điều trước, để chúng ta noi theo mà làm, như ân cần chú ý người mẹ đi đưa xác con, săn sóc người bệnh người cùi, giúp đỡ phục vụ, rửa chân cho môn đệ... và căn dặn ta làm như thế.

Ðể dạy về sự sống lại, Chúa nói về việc này rất nhiều lần song các tông đồ hơi... chậm hiểu. Vì thế Chúa đã phải biến hình. Câu chuyện Chúa biến hình được Ðức Thánh Cha đặt thành một trong các mầu nhiệm Sự Sáng để dạy chúng ta rằng: hiện nay trên trời đã có Chúa Giêsu và Ðức Mẹ được sống lại thật, uy nghi sáng láng và sẽ đến lượt chúng ta được huy hoàng như thế (miễn là hãy luôn trung tín với Ngài) vì thân xác loài người vốn là Hình Ảnh của Cha, thuộc về Cha thì sau khi đã chết thì được lấy lại huy hoàng của Cha.

Chúa Giêsu đã "sống lại" hay "chỗi dậy"?

Chúa sống lại là một sự kiện lịch sử, không kể các thánh tông đồ mà ngay những người chống đối hay tìm giết Chúa cũng không thể phủ nhận, (trong đó xin kể cả thánh Phaolô trước ngày ngài được ơn trở lại). Song có người còn thắc mắc vì tại sao lại có vài bản dịch Tân Ước đã chỉ dịch chữa anistemiegeiro là "chỗi dậy" mà không dịch là "sống lại"?

Các thánh sử dùng chữ Hy lạp viết Phúc âm vì các tín hữu thời khởi đầu đa số không là người Do Thái. Các ngài dùng 2 động tự anistemiegeiro của Hy lạp có nghĩa là đứng lên, đứng dậy, chỗi dậy, hay thức dậy (danh tự là anastasis). Ví dụ: chỉ vừa nghe câu "Hãy theo Thầy," Matthêu đã chỗi dậy để theo Người (Mat 9:19). Bà mẹ vợ của Phêrô sau khi được Chúa chữa lành bệnh cúm đã chỗi dậy để nấu nướng phục vụ người (Lc 4:39) .v.v.

Chúa dùng tiếng mẹ đẻ là Aram để nói Chúa Sống Lại thế nào, thì các thánh sử không ghi lại. Các thánh sử vốn gốc Do Thái ắt đã mượn đỡ chữ "chỗi dậy - egeiro hay anistemi" song với ý nghĩa được ấn định là sống lại. Song xin nhớ ý nghĩa sống lại theo tiếng Hy lạp hay Latinh, chỉ được thêm vào từ ngày Chúa sống lại. Thời ấy, vì chưa ai thấy được sự sống lại nên không thể nào lại có động tự sống lại trong tự điển Hy lạp hay Latinh. Ý nghĩa sống lại do chính Chúa Giêsu dùng và Chúa đã thực hiện và còn hứa cho chúng ta ơn sống lại. Sau này khi Giáo Hội dùng tiếng Latinh thì ngay chữ surgere và chữ re-surgere (danh tự ressurectio / ressurection) cũng chỉ có nghĩa đen là đứng dậy, lại đứng dậy theo song chúng ta phải hiểu ý nghĩa mới là sống lại.

Vì thế khi đọc Tin Mừng nếu chỉ nhất định hiểu theo như tự điển nói, thì Chúa chỉ giản dị đứng dậy, chỗi dậy, thức dậy. Còn người có đức tin thì mới hiểu là Chúa sống lại.

Các Thánh Tử Ðạo hoan hỉ khoái lạc mừng Chúa sống lại

Các cụ tổ tiên của chúng ta qua nhiều thời các thánh tử đạo cũng được nghe giảng giải chữ Latinh SurgereRe-surgere; song các cụ nhất định dùng chữa sống lại. Mẹ tôi đã chết, mong các cụ già còn nhớ được toàn bộ các kinh và văn cổ nhờ viết lại để kỷ niệm, tôi chỉ nhớ lõm bõm ba chữ sống lại thật. Nay kinh đã được cải sửa song ta vẫn đọc như sau:

Lạy Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria,
Hãy hỉ hoan khoái lạc Alleluia.
Vì Ðấng Mẹ đã cưu mang trong lòng.
Alleluia.
Người đã sống lại thật như lời đã phán hứa
Alleluia.
Xin cầu cùng Chúa cho chúng tôi. Alleluia.

Tôi lấy làm mãn nguyện khi tổ tiên chúng ta không giản dị dịch chữ gaudere, gaudete là hãy vui lên (rejoice) song lại dùng đến 4 chữ xin Ðức Mẹ hãy hỉ hoan khoái lạc... Alleluia Halelu Yahweh Hãy ngợi khen Chúa là tiếng Giáo Hội reo vui khi nghe Chúa sống lại. Linh mục xướng 3 lần với cung giọng cố gắng lên cao mỗi lần. Ðọc liền Halelu Yahweh thành Halleluia. Niềm vui tăng lên nữa. Hỉ hoan là vui trong lòng, khi tràn đày sự hỉ hoan thì xác thân rung động khoái cảm hoan lạc. Hóa ra tổ tiên ta rất rành tâm lý học và thể lý học để hiểu rằng lòng đau khổ thì mặt mũi nhăn nhó và ruột có thể bị đứt từng đoạn. Ba ngày ba đêm Chúa trẻ thơ 12 tuổi bị lạc trong đền thánh, Ðức Mẹ và Thánh Giuse không ăn không ngủ vì lo lắng là dài ra và xấu xí lắm. Ba ngày Chúa nằm trong mồ, tâm trạng và thể lý Ðức Mẹ cũng như thế. Song Tin Vui Chúa Sống lại có thể đọc được cả trên ánh mắt, nụ cười và chân tay của Ðức Mẹ. Biết đâu Ðức Mẹ cũng líu lưỡi nói chẳng đủ câu nên Hallelu Yahweh thành Halleluia.

Ta chia vui với Ðức Mẹ song thực ra chính chúng ta cần hỉ hoan khoái lạc hơn cả Ðức Mẹ khi được hứa Ơn Sống Lại vì Ðức Mẹ chẳng phạm tội gì, nên xứng đáng hưởng ơn Sống Lại; còn riêng chúng ta đáng lẽ phải chết đời đời vì tội lỗi, linh hồn chúng ta chẳng còn đáng giá gì, thì lại được Chúa Giêsu đem cả thân mình ra chuộc tội cứu rỗi. Chúng ta mỉm cười nghe dụ ngôn trong Tân Ước, bà cụ già lẩm cẩm đánh mất mấy đồng bạc cắc, đã thắp đèn sáng choang cả đêm, tốn cả trăm bạc, thức suốt đêm đi tìm những đồng bạc cắc ấy, và tìm được rồi thì gọi cả xóm đến mở tiệc liên hoan. Chúa Giêsu còn làm hơn thế nữa, bỏ cả Trời cao xuống thế rồi đành bị giết chỉ vì để tìm những linh hồn tội lỗi chẳng đáng giá vài đồng bạc cắc.

Tổ Tiên Ta Viết Chữ Sống Lại Thế Nào?

Tổ tiên ta nói tiếng Việt. Các Thánh Tử Ðạo của ta lúc ấy còn búi tóc củ hành, mặc áo the thâm dài, nên có lẽ Thánh Phaolô lấy làm... buồn cười vì thời ngài còn làm "Cha Xứ Già Phaolô" thì không thích đàn ông để tóc dài vào nhà thờ xem lễ đâu (xem 1 Cor 11) song Thánh Phaolô mừng và khen các thánh tử đạo hiểu rõ và nói rõ ba chữ Chúa Sống Lại.

Trước ngày các linh mục truyền giáo đề nghị ta dùng mẫu tự Latinh để viết tiếng Việt như tôi đang viết đây, thì các cụ tổ tiên muốn để lại điều gì bằng tiếng Việt cho con cháu thì phải mượn cái xác, cái âm của chữ Hán viết ra chữ Nôm (tức chữ Việt Nam). Tổ tiên ta đã nói hai chữ sống lại cả mấy ngàn năm và viết chữ sống lại như sau. Xin tra thêm tự điển cổ kể cả Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị của cụ Paulus Huỳnh Tịnh Của, in vào thế kỷ 19.

Sống tức là đang sống, đang hít thở, đang sống nhăn, thì các ông, các cụ viết chữ lộng để chỉ âm ông, ống + chữ sinh của Hán ngữ để chỉ nghĩa. Có cụ theo nghĩa Hán thì viết chữ hoạt + sinh. Sinh là sống còn hoạt tức là múa máy. Nếu viết rời hai chữ thành (chữ Hán) sinh hoạt (activities) là hoạt động của người đang sống.

Lại thì các cụ dùng chữ lai sẵn có của Hán tự vốn dị nghĩa mà trùng âm song đọc là lại; hay viết chữ hựu của Hán, mà đọc thành lại với nghĩa rõ ràng là thêm một lần nữa.

Sống lại chung là đã chết rồi song lại được sống thêm một lần nữa. Theo cha Alexandre de Rhodes nhận xét thì chữ sống có cổ âm là tlống nên các cụ viết chữ lộng, còn chữ lại có cổ âm là mlại. Hóa ra tổ tiên ta hiểu rõ câu Chúa phán Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống khi cho Lazaro chỗi dậy từ giấc ngủ.

Chỗi dậy theo tiếng Việt chỉ có nghĩa là đang nằm hay đang ngồi mà đứng bật dậy. Viết chỗi thì các cụ dùng chữ túc / cái chân để chỉ nghĩa và chữ chí để chỉ cách phát âm, viết chữ dậy thì viết chữ duệ mà đọc thành dậy (mặc dù chữ duệ tiếng hán chỉ có nghĩa là kéo đi ). Chẳng có nghĩa sống lại nào qua chữ chỗi dậy cả.

Tổ Tiên Việt Nam Tin Rằng Sau Khi Chết Thì Ðược Sống Trở Lại Trong Cõi Trời

Các thánh Tử đạo dùng hai chữ sống lại vì tiếng Việt Nam đã có chữ sống lại từ thời xa xưa. Tổ tiên chúng ta có niềm tin vào ông Trời vì tin rằng con người từ trời cao mà ra nên dạy con cái phải thờ Trời, cầu khấn với Trời và tin rằng sau khi chết thì mọi người được tha thứ tội lỗi và được rước về sống trở lại, sống lại, sống lần nữa trên cõi trời, chớ không bị đầu thai qua kiếp nào khác cả. (Phật giáo chỉ đến Việt Nam khoảng thế kỷ thứ 7 hay thứ 10).

Tổ tiên chúng ta đã theo Ðạo thờ Trời và thờ cha mẹ tổ tiên vì đã có sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, dù quan niệm về Trời chưa được rõ ràng. Sự sống lại dĩ nhiên chưa được hiểu rõ là sống lại cả hồn cả xác (vì người thì có hồn xác, có hồn xác mới gọi là người), song là sống trở lại (tlộng +sinh+tlai), sống lần nữa (hoạt+sinh+hựu) mãi mãi với Ông Trời là Ðấng Hằng Có. Người Trung Hoa viết chữ sống là phục hoạt. Ðoạn này dĩ nhiên không có trong Tân Ước hay Cựu Ước song tôi dựa vào lịch sử nước Việt.

Con người từ Trời mà ra, qua tổ tiên vì thế tổ tiên bảo ta gọi Ngài là "Ông, Ông Trời" cho thân mật. Ngài là Ông Nội, Ông Tổ của từng ngưòi chớ ta không quen gọi là Vị Ngọc Hoàng Hoàng Ðế Cao Nhất (Thượng Ðế) như người Tàu, hay quá sợ hãi mà gọi là Ðấng Uy Quyền Toàn Năng (Elohim). Người Do Thái không ai dám nhận mình là con cháu của Trời, mà chỉ đáng là nô lệ. Này tôi là nô lệ gái của Chúa, xin Ý Chúa cứ được làm như lời thiên thần truyền. (Theo Luca 1:38, Ðức Mẹ nhận thân phận làm nô lệ gái - doule - tức là cả cuộc đời, cả trí khôn, cả thân xác thuộc về ông chủ). Tự nhận là Con Thiên Chúa là tội đại nghịch bất đạo, không đáng được sống (Matthêu 26:65) và đó là "tội danh" tòa án Do thái tuyên án tử hình Chúa Giêsu. Người Tầu chỉ coi vua mới là con của Trời (thiên tử), và có quyền thờ Trời; người Việt thì coi Trời là gốc, là Ông, là Tổ của chính mình, và nhà nào cũng có một bàn thờ giản dị ngoài trời để thờ Trời. Trên cả mấy trăm trống đồng cổ tính tuổi cả hơn 4000 năm, chẳng hạn trống Ngọc Lũ, có vẽ người Việt nắm tay nhảy múa thờ Ông Trời, chớ không thờ Mặt Trời và không sợ Trời đến nỗi cúi rạp đầu xuống đất như người Hồi Giáo. Mong sẽ có dịp trình bày Niềm Tin vào Trời của tổ tiên chúng ta và Trống Ðồng Lạc Việt đầy đủ hơn.

Chúa Giêsu cho phép ta gọi Ông Trời thành "Cha Trời" nên tình thân thiết lại gần gũi hơn.

Từ thời Vua Hồng Lạc (Lạc Long Quân) ta gọi Ông Blời. Nay ta gọi là Ông Lời/Trời/Giời. Nếu muốn tìm lại các âm cổ, xin đọc cuốn tự điển của Cha Ðắc Lộ (Alexandre de Rhodes) in vào thế kỷ 17. Chữ Trời được viết bằng cách ghép hai chữ ba + lợi theo cách phát âm B+Lời. Ðức Lê Lợi, anh hùng áo vải Lam sơn thì viết một câu đối có niêm có vận hoàn toàn bằng tiếng Việt là

Vật gốc từ Trời, người gốc từ Tổ.

Có nghĩa là muôn vật muôn người từ gốc Trời mà ra. Vua Lê Lợi lại viết chữ Trời cách khác, ghép hai chữ Thiên /Trời + Thượng/Cao, thiên viết ở trên chữ Thượng, vì ý muốn nói rằng Trời Cao là tổ muôn loài.

Nhà vua cũng nói:

Lấy ân nghĩa lớn mà thắng hung tàn,
Lấy lòng nhân từ mà thay cường bạo...

Thật là nhờ ơn Trời Ðất và tổ tiên khôn thiêng che chở bảo vệ Nước Ta vậy. Lúc ấy ánh sáng phúc âm chưa sang đến nước ta. Thật là lạlùng. Ðể hiểu rõ niềm tin của vua Lê Lợi xin đọc bài Tuyên Cáo Ðánh Tan quân Tàu (Bình Ngô Ðại Cáo) và cuốn Lam Sơn Thực Lục.

Tổ tiên ta tin rằng Ông Trời hằng sống, và Ngài đón nhận các người đã chết ở cõi thế này vào cuộc sống mới, sống trở lại, sống mãi mãi với Ngài. Và vì cha mẹ được tin là còn sống, dù sống ở thể anh linh với Trời nên ta thờ kính các ngài là công dân của cõi Trời, vì ta thờ người còn sống, không thờ người chết. Và ta cũng tin các Ngài có năng quyền cầu bầu với Trời để phù hộ con cháu.

Người nào được về Trời để sống mãi với Ông Trời? Người Việt từ đời xưa cũng tin rằng Ông Trời nhân từ nên người có tội lặt vặt như trộm cắp thì cũng được Trời tha thứ để cho về cõi trời, nhiều ông thành hoàng vốn là trộm cắp song cũng được phong thần để phù hộ cho làng vì họ ở trên cõi trời. Dĩ nhiên người tàn ác thì bị Trời đày thành quỉ song vẫn dưới quyền thống trị của Trời. Khi vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa thì bị quỉ kiện với Trời song quỉ bị thua. Anh hùng Trần Bình Trọng bị Mông cổ xâm lăng bắt và dụ dỗ nếu đầu hàng thì cho làm tướng, song khẳng khái chết vì Nước Non và hét lên rằng:

Ta thà làm quỉ nước Nam,
Còn hơn làm tướng làm quan đất Bắc.

Tổ tiên ta luôn dạy con cái cầu Trời. Khi có giặc nhà Ân xâm lăng thì vua Hùng thứ Ba lập đàn để cầu Trời và cầu tổ tiên. Trời cảm động cho dân ta gặp được Thánh Dóng là tướng của Trời (Phù Ðổng Thiên Vương). Ðánh xong giặc Ân, thánh Dóng cưỡi ngựa bay lên trời. Việc này đã xảy ra cả 4000 năm rồi. Vua nhà Lý cũng nằm mộng thấy hai vua Trưng ở trên cõi Trời cầu bầu Trời cho mưa nắng thuận hoà cho dân tộc.

Và gần như hằng ngày ta chấp nhận quyền uy của Trời như Trời (làm) nắng, trời mưa, trời tối, trời gió. Em bé nào cũng được dậy câu hát ta tùy thuộc vào Trời, cần nhờ Trời mà sống

Lạy Trời mưa xuống,
lấy nước tôi uống,
lấy ruộng tôi cầy,
lấy đầy bát cơm,
lấy rơm đun bếp.

Một câu trong Kinh Lạy Cha? Và chúng ta đã có ấn tượng sâu xa về Ông Trời trong tiềm thức đến nỗi bị đau đớn, bị xúc động thì buột miệng kêu lên: -i Giời ơi. Ðó là một cách cầu nguyện khi cấp thiết vậy. Một hình thức của câu Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ?

Tổ tiên cũng dậy ta Trời nhân ái thì cũng phải nhân ái:

Bầu ơi thương lấy bí cùng,  Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Hình ảnh người người nắm tay, hoặc vẽ thành Ðàn Chim sát cánh liền cành, giao chỉ (giao là đan lại, chỉ là ngón tay) cùng đi một hướng trái sang phải trên mọi trống đồng cả mấy ngàn năm (ví dụ trống Hữu Chung, trống Văn Nội / Sốm) là hình ảnh tình nhân ái, yêu thương đoàn kết nắm tay, đi theo Ý Hướng của Trời vậy. Trời tha mọi tội cho người đã chết, tổ tiên ta cũng dậy như thế, nên mới cho người Tầu lập đền cúng vong hồn Mã Viện, lại có gò Ðống Ða ở Thái Hà Ấp để siêu độ vong linh người xâm lăng. Mong sẽ có dịp trở lại về điểm này.

Chỉ vì hiểu lầm và lý do ngờ vực chính trị mà vài vua quan giết đạo. Ðạo đã ở trong lòng người và niềm hy vọng được sống trở lại, sống lại, sống lần nữa trong cõi trời (chớ không là chỗi dậy) là đức tin của Lạc Việt.

Hình như người Trung Hoa dùng chữ phục hoạt mới là chết đi sống lại. Chữ Phục Sinh là tiếng Hán Việt và cũng đã được ta tạo ra và dùng vào thế kỷ thứ 19. Phục là lấy lại, chiếm lại, sinh là đời sống, mạng sống. Ta đã dùng quen chữ này song bản thân tôi thích dùng chữ Việt của tổ tiên, tuy hơi nôm na, cũng như theo truyền thống tổ tiên và các thánh tử đạo để nhấn mạnh chữ Sống Lại. Chúng ta mừng Chúa sống lại và mong chờ ngày sống lại.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com