T RONG DÒNG ÐỜITHỨ NĂM TUẦN THÁNH Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR. Ngay từ hồi niên thiếu, tôi đã yêu thích việc tham dự Thánh Lễ Rửa Chân chiều Thứ Năm Tuần Thánh và coi đó là Thánh Lễ cảm động và ý nghĩa nhất trong năm. Hồi ấy, khi nhìn những cụ già mặc áo thụng khăn đống đóng vai các tông đồ để cha xứ rửa chân, tôi thường cùng các bạn hỏi nhau: "Ông nào là Giuđa?" Có những năm, sau Thánh Lễ, tôi cùng các bạn trong đoàn thiếu nhi được các ông bà quản cho ăn những nắm xôi nhồi bên trong con chiên giả dùng trong nghi thức đốt chiên trong Thánh Lễ thì thật thú vị! Kỷ niệm và niềm vui tuổi nhỏ là thế! Sau này, khi được học hiểu về ý nghĩa Thánh Lễ Thứ Năm Tuần Thánh, tôi nhận biết việc ngay từ bé tôi đã yêu quý Thánh Lễ này cách đặc biệt là một cảm nghiệm từ trực giác của đức tin. Thật vậy, trong Thánh Lễ này, tôi được Giáo Hội nhắc đến việc Chúa Giêsu "đã yêu thương những kẻ thuộc về Người còn trong thế gian và Người đã yêu họ đến cùng" (Jn 13:1). Và Chúa Giêsu đã thể hiện tình yêu tận cùng ấy qua việc rửa chân cho các môn đệ, ban giới luật yêu thương "Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con" (Jn 15:12), bày tỏ ước nguyện hiệp nhất "Xin cho chúng nên một như Cha và Con là một" (Jn 17:21), lập Bí Tích Thánh Thể "Này là Mình Thày...Này là chén Máu Thày..." (Mc 14:22-24) và Chức Linh Mục "Các con hãy làm việc này để nhớ đến Ta" (Lc 22:19). Từ khi được thụ phong linh mục, Thánh Lễ Thứ Năm Tuần Thánh không những là Thánh Lễ ý nghĩa và cảm động nhất trong năm, mà còn là Thánh Lễ nhắc nhở tôi về mối tình riêng tư của Chúa Giêsu Linh Mục đời đời dành cho tôi, khi Người đã thương gọi và chọn tôi vào hàng ngũ linh mục của Người. Ðây là cơ hội giúp tôi canh tân ơn gọi linh mục của mình, ơn gọi sống mầu nhiệm yêu thương hiệp nhất theo mẫu gương của Thánh Tâm Thánh Thể của Chúa Giêsu Chịu Ðóng Ðinh Thánh Giá. Trong phần Kinh Sách của Phụng Vụ Thứ Năm Tuần Thánh, Hội Thánh dùng Lời Chúa trong thư gửi tín hữu Do thái để giúp tôi chiêm ngắm Chúa Giêsu Linh Mục Ðời Ðời và Thiên Chức Linh Mục với những lời sau: "Bởi có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Ðức Giêsu Con Thiên Chúa, nên chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Ðấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần. "Quả vậy, thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính người cũng đầy yếu đuối; mà vì yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng phải dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy. Không ai tự gán cho mình vinh dự ấy, nhưng phải được Thiên Chúa gọi. Cũng vậy, không phải Ðức Kitô đã tự tôn mình làm Thuợng Tế, nhưng là Ðấng đã nói với Người: ‘Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con, như lời Ðấng ấy đã nói ở một chỗ khác: Muôn thuở, Con là Thuợng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê. "Khi còn sống kiếp phàm nhân, Ðức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khoc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Ðấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người, vì Người đã được Thiên Chúa tôn xưng là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê" (Heb 4:14-5:10). Linh Mục hùng biện Lacordaire, OP, đã diễn tả sự cao quý tuyệt vời của thiên chức linh mục nơi bài thơ "Anh Là Linh mục" như sau: "Sống giữa thế trần Thánh Gioan Vianey, quan thầy các cha xứ, thường nói: "Nếu một linh mục hiểu biết trọn vẹn sự cao quý của thiên chức linh mục, ngài sẽ chết - không phải vì sợ mà vì yêu." Tác giả sách Gương Chúa Giêsu viết: "Chức vụ linh mục cao cả và đáng tôn trọng chừng nào! Vì môi các ngài đọc được lời tôn phong nên Chúa uy quyền, miệng các ngài được chúc tụng, tay các ngài được cầm lấy cho mình chịu và phân phát cho giáo hữu! "Những tay ấy phải sạch chừng nào! Miệng ấy phải thánh chừng nào! Thân thể ấy phải tinh tấn chừng nào! Lòng ngài được rước Chúa khiết tinh luôn, lòng ấy phải trong trắng chừng nào! "Miệng linh mục rước Thánh Thể hàng ngày, không được nói lời nào là không thánh, không đứng đắn và hữu ích! "Mắt linh mục nhìn xem Thánh Thể hàng ngày, mắt ấy phải đơn sơ và trong sạch lắm! "Tay linh mục động đến Chúa tạo thành trời đất hàng ngày: tay đó phải tinh tấn và giơ lên trời luôn. "Thánh Kinh có câu này chỉ riêng về linh mục: ‘Các con hãy thánh thiện vì Cha là Chúa Trời Con, Cha rất thánh’ (Lev. 19:2)." Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu là người ý thức sâu xa sự cao quý của Thiên Chức Linh Mục đồng thời cũng nhận ra sự yếu đuối mỏng giòn nơi con người linh mục nên hàng ngày thường cầu nguyện cho các linh mục với Kinh Cầu Cho Linh Mục như sau: "Lạy Chúa Giêsu, Linh Mục Ðời Ðời, xin gìn giữ các linh mục Chúa trong mái ấm Thánh Tâm Chúa, nơi không gì có thể hại được các ngài. Xin gìn giữ cho khỏi dơ bẩn bàn tay đã được xức dầu của các ngài hàng ngày vẫn động đến Mình Thánh Chúa. Xin gìn giữ cho khỏi nhơ uế đôi môi của các ngài vẫn thường thấm nhuộm Máu Thánh Chúa. Xin gìn giữ cho được trong trắng và siêu thoát tâm hồn của các ngài đã được đóng ấn cao trọng của Chức Linh Mục vinh quang Chúa. "Xin bao phủ các ngài bằng tình yêu linh thánh của Chúa và che chở các ngài khỏi mọi vương vấn thế gian. Xin chúc phúc cho những lao nhọc của các ngài được đong đầy hoa trái. Ước chi những linh hồn đã được các ngài coi sóc trở nên niềm vui và nguồn an ủi cho các ngài nơi trần gian và trở nên những triều thiên xinh đẹp và vĩnh cửu của các ngài trên Thiên Ðàng. Amen. "Lạy Mẹ Maria, Nữ Vương Các Linh Mục, xin cầu cho chúng con. Xin cho chúng con được thêm nhiều linh mục thánh thiện. Amen." Thứ Năm Tuần Thánh còn là cơ hội cho tôi cảm tạ Chúa và Ðức Mẹ đã gửi đến trong đời tôi những vị linh mục thánh đức đã làm rạng rỡ chân dung Chúa Giêsu Linh Mục Ðời Ðời và góp phần xây dựng ơn gọi linh mục nơi tôi: Vị linh mục tôi nhớ đến nhiều nhất, yêu mến, biết ơn và quý trọng hơn cả là Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II. Ngay từ những ngày đầu trong mùa học đầu tiên tại Chủng Viện Thánh Gioan ở Camarillo, California, tôi đã được tham dự buổi nói chuyện của Ðức Gioan-Phaolô II dành cho giới trẻ với chủ đề "Tuổi Trẻ và Hy Vọng" chiều ngày Lễ Mẹ Sầu Bi 15/09/1987. Hôm ấy, Ðức Thánh Cha đã chia sẻ về ơn gọi linh mục của ngài. Với ngài, ơn được là linh mục để dâng lễ là ơn đem lại niềm vui khôn tả cho ngài. Niềm vui này còn lớn lao hơn cả vinh dự được trở nên giáo hoàng! Ðức Thánh Cha còn thể hiện lòng yêu mến và quan tâm đặc biệt cho các linh mục qua việc viết những lá thư dành cho các linh mục vào Thứ Năm Tuần Thánh hàng năm. Khi được tham dự Thánh Lễ do Ðức Thánh Cha chủ tế tại Los Angeles ngày 16/09/1987 với chủ đề hiệp nhất như lời cầu nguyện của Chúa Giêsu "xin cho chúng nên một," tôi đã nhận ra rằng linh mục phải là con người của sự hiệp nhất, người xây dựng và sứ giả của sự hiệp nhất. Nếu như lời Ðức Tổng Giám Mục Roger Mahony hôm ấy nhận định "Ðức Thánh Cha là trung tâm sự hiệp nhất trong Giáo Hội," thì mỗi linh mục phải là sứ giả và trung tâm sự hiệp nhất nơi cộng đoàn dân Chúa do ngài chăm sóc. Cũng chính Ðức Gioan-Phaolô II là người đã dạy tôi biết coi việc đặt Hy Lễ Thánh Thể là trung tâm cuộc sống như bí quyết thành công trong sứ vụ linh mục khi ngài nói với các linh mục: "Việc phục vụ tốt nhất mà bạn là một linh mục có thể cống hiến cho Hội Thánh là đặt Hy Lễ Thánh Thể làm trung tâm đời sống của bạn và trung tâm đời sống của những người bạn phục vụ." Ngài còn nói thêm: "Chính nơi tấm Bánh Thánh nhỏ bé đó mà ta tìm được giải đáp cho mọi vấn nạn trên thế giới!" Và hiển nhiên, với khẩu hiệu "Tất Cả Cho Mẹ" và lời tuyên bố ngay sau khi đắc cử giáo hoàng ngày 16/10/1978 "Hành trang duy nhất tôi mang đến Rôma từ quê hương Balan là lòng tôn sùng Mẹ Maria," Ðức Gioan-Phaolô II đã chỉ cho tôi thấy Mẹ Maria chính là Người sẽ giúp tôi trung tín và hoàn tất ơn gọi và sứ vụ linh mục của mình cách trọn hảo nếu tôi biết phó thác đời tôi cho Mẹ. Cha Gioan-Baotixita Maria P., tuyên úy Ðoàn Thiếu Nhi Thánh Thể nơi tôi sinh hoạt thời niên thiếu và cũng là cha linh hồn đầu tiên của tôi, đã chỉ cho tôi thấy ý nghĩa linh mục phải là người của mọi người, phải trở nên tấm bánh thơm và miếng mồi ngon nuôi dưỡng dân Chúa, qua khẩu hiệu linh mục của ngài: "nên mọi sự cho mọi người." Sự tận tâm hăng say rao giảng Lời Chúa, tha thiết với việc giáo dục giới trẻ, huấn luyện đức tin, giúp đỡ dân nghèo và nỗ lực truyền giáo nơi ngài đã khiến tôi đọc được nơi ngài câu Lời Chúa: "Lòng nhiệt thành nhà Chúa thiêu đốt tôi." Chính ngài cũng là người đã in sâu vào tâm hồn tôi những lời bốc lửa kính mến Chúa Giêsu của Thánh Phaolô như: "Tôi sống nhưng không phải là tôi mà là Chúa Kitô sống trong tôi"; "Với tôi, sống là Chúa Kitô và chết là một mối lợi lớn"; "Tôi coi tất cả như rơm rác trước cái lợi tuyệt vời là được biết Chúa Kitô" hay "Tình yêu Chúa Kitô thúc bách tôi." Cha Giuse H., Cha Phó Giáo Xứ tôi tại Việt Nam, dạy tôi biết cầu nguyện cho những người tôi đã đang hay sẽ được giao cho trách nhiệm hướng dẫn khi ngài chia sẻ với giáo dân: "Trước khi gặp anh chị em tôi đã cầu nguyện cho anh chị em. Vì ngay trước khi đến đây với anh chị em, mỗi ngày tôi vẫn cầu nguyện cho những ai Chúa sẽ gửi đến cho tôi có trách nhiệm phải hướng dẫn coi sóc." Người đã chia sẻ cho tôi biết tình yêu Chúa Giêsu nơi Bí Tích Thánh Thể chính là động cơ giúp ngài từ bỏ mọi sự để dấn thân theo lý tưởng linh mục là Cha Giuse T. (RIP). Chính câu Lời Chúa trong Thánh Lễ Thứ Năm Tuần Thánh: "Người đã yêu thương những kẻ thuộc về Người còn trong thế gian và Người đã yêu thương họ đến cùng" (Jn 13:1) đã đánh động ngài mãnh liệt và khiến ngài bỏ ý định thi vào đại học để ghi danh vào chủng viện. Sau bao năm phấn đấu vượt qua bao thử thách kể cả việc bị tù tội, ngài đã trở thành linh mục. Ngài đã từ trần đột ngột trong một tai nạn lưu thông trong tháng 01/1994, sau hai năm ngắn ngủi tận tụy phục vụ Dân Chúa trong thiên chức linh mục trước sự thương tiếc của bao người. Tôi thường nhớ đến ngài mỗi khi đọc đến câu Lời Chúa trên. Cha Luca B. (RIP), vị linh mục thánh thiện khôn ngoan lão thành đã đến nhà giải tội cho tôi trước khi tôi vượt biên tìm tự do năm 1981. Sau khi giải tội, ngài đã ân cần dặn dò tôi: "Trong thời buổi này, Chúa để ma quỷ nó xào xáo thế gian. Ngay trong Giáo Hội cũng có nhiều người bị lệch lạc. Nhiều linh mục sai lạc đã đành. Mà ngay hàng giám mục và hồng y cũng có những vị bị ma quỷ lường gạt để gieo rắc lầm lạc. Chỉ còn chỗ dựa duy nhất là Ðức Thánh Cha. Vì thế, ta phải hết lòng lắng nghe, yêu mến và vâng phục giáo huấn của ngài." Lời khuyên quý giá trên đã trở thành di ngôn ngài dành cho tôi, giúp tôi giữ vững vẹn niềm tin Công giáo của mình qua việc luôn hết lòng yêu mến vâng phục Vị Ðại Diện Chúa Kitô ở trần gian và chú tâm học hỏi các giáo huấn chính thức của Hội Thánh. Vị linh mục tôi gặp gỡ trước hết sau khi rời Việt Nam đến trại tị nạn năm 1981--Cha Gildo Dominici (RIP)--đã giúp tôi giữ vững niềm tự hào dân tộc trong cuộc sống ly hương và tìm được niềm vui trong lý tưởng yêu thương hiệp nhất của Tin Mừng, qua những lời giảng dạy đầy xác tín và đời sống phục vụ trong vui tươi và khiêm nhu của ngài. Tôi sẽ mãi ghi nhớ, trân quý và nỗ lực thực hiện câu châm ngôn cuối đời của ngài: "Sống giây phút hiện tại với tình yêu lớn nhất." Cha Gioakim T., một linh mục Việt Nam tôi được gặp nơi trại tị nạn, đã giúp tôi hiểu ý nghĩa phục vụ của ơn gọi linh mục khi ngài nói với tôi: "đi tu là phục vụ" và "chúng ta phải có đôi tay giống đôi tay của Chúa Giêsu: đôi tay bẻ bánh, đôi tay phục vụ. Chính nhờ đôi tay đó, người ta sẽ nhận biết chúng ta là môn đệ đích thực của Chúa Kitô như hai môn đệ trên đường Emmaus đã nhận ra Chúa Giêsu Phục Sinh khi Người bẻ bánh." Người đã hướng dẫn tôi nhận biết "ngày Thánh Thể" như là một tổng hợp của mọi phương pháp huấn luyện siêu nhiên và "hương Thánh Kinh" như tổng hợp của mọi phương pháp huấn luyện tự nhiên của Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể là Cha Giuse Vuõ. Ngài đã nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu Thánh Thể phải là trung tâm và mặt trời trong ngày sống của mỗi tín hữu Công giáo, nhất là mỗi đoàn viên của Phong Trào. Sống Lời Chúa và kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể chính là yếu tính làm nên người đoàn viên Thiếu Nhi Thánh Thể đích thực. Huynh trưởng nào sống "ngày Thánh Thể" và giúp các đoàn sinh sống "ngày Thánh Thể" đã chu toàn 90% sứ vụ của mình. Chính ngài cũng khích lệ tôi theo đuổi ơn gọi linh mục khi cho tôi nhận xét "xét theo thiện chí và khả năng, con có ơn gọi." Khi biết tôi có ý định đi tu, Cha Mathia C. nhắc tôi lời Chúa Giêsu: "Ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thập giá mình và theo Ta" (Mt 16:24). Nhờ vậy, tôi nhận thức rõ hơn những đòi hỏi để trở thành môn đệ Chúa Kitô và nỗ lực hơn trong việc từ bỏ chính mình. Cha Antôn B., cha quản nhiệm cộng đoàn nơi tôi ở trước lúc nhập dòng, đã giúp tôi hiểu sự cần thiết của đức hiền lành trong đời sống linh mục. Ngài thường chia sẻ: "Chúa thường nhận lời cầu nguyện của các linh mục: Người chúc lành cho những ai linh mục chúc lành và chúc dữ cho những ai linh mục chúc dữ cho họ. Nếu mình là linh mục mà thiếu đức hiền từ vì nóng nảy mà chúc dữ hay nguyền rủa ai, họ gặp phải sự khốn khó thì chắc hẳn mình phải ân hận lắm." Khi được tin tôi được thụ phong phó tế, ngài đã gửi đến tôi lời chúc thật đẹp sau: "Chúc con được đầy tràn Thần Khí và giảng dạy hùng hồn như Thánh Têphanô, có sự can đảm gan lì như Thánh Lôrensô và lòng yêu Ðức Mẹ như Thánh Ephrem." Người đã hướng dẫn, khích lệ, đón nhận tôi vào đời tu và trợ giúp tôi về mọi mặt suốt thời gian tu học là Cha Gioan-Baotixita Maria N., CSsR. Ngài luôn là tấm gương cho tôi về cách cư xử, nói năng và giảng dạy hiền hòa, nhỏ nhẹ, khiêm tốn, đại độ và tế nhị với mọi người. Ngài có một cái nhìn rất mực tích cực và lạc quan về con người và cuộc sống vì ngài tuyệt đối tin vào lòng nhân lành của Chúa: "Với những ai yêu mến Thiên Chúa, Người đồng công cộng tác khiến mọi sự nên lành" (Rom 8:28). Ngài thường nói với chúng tôi: "Chúng ta phải khắc vào bàn tay câu này của Chúa Giêsu ‘Các con hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng’. Chúng ta phải ăn ở cho quân tử một chút. Ðừng bao giờ than, trời nóng quá, lạnh quá! Phải biết khắc kỷ, vị tha. Phải biết ơn Chúa luôn, phải vui mừng luôn, vì Chúa tốt lành muốn ta vui luôn ngay từ đời này chứ không phải đợi đến đời sau! Phải cầu nguyện và yêu mến Ðức Mẹ cách riêng. Anh nào không có lòng sùng kính Mẹ là không có ơn gọi Dòng Chúa Cứu Thế." "Tạ ơn Chúa!" là câu mà ngài hay nói hơn cả! Cha Andrew Costello, CSsR., cha giáo tập của tôi, đã ân cần căn dặn chúng tôi vào buổi học cuối năm: "Trong năm tập vừa qua các anh đã được học hỏi rất nhiều thứ. Tôi biết các anh không thể nhớ được hết. Tôi nghĩ các anh có thể bỏ qua và quên đi tất cả. Nhưng tôi thành thực chỉ xin các anh ghi nhớ hai điều mà thôi: Chúa Giêsu và cầu nguyện." Lời dặn dò ấy quý giá dường bao: Chúa Giêsu phải là lẽ sống duy nhất của đời tu sĩ linh mục và cầu nguyện là phương thế giúp tôi luôn gắn bó thủy chung với Người! Tôi cũng mãi ghi nhớ và biết ơn Ðức Cha Jerome Hastrich (RIP) là người đã hướng dẫn kỳ tĩnh tâm hàng năm cho anh em chủng sinh chúng tôi tại Chủng Viện Các Thánh Tông Ðồ tháng 03/1992. Chính ngài đã khiến tôi quyết định đọc đầy đủ Kinh Nhật Tụng ngay từ mùa học ấy. Ngài cho biết tất cả các linh mục nào dưới quyền ngài mà đã từ bỏ sứ vụ linh mục đều đã bỏ đọc kinh trước đó! Và ngài đã ân cần dặn dò chúng tôi: "Các anh hãy hứa với Chúa trong kỳ tĩnh tâm này là khi trở thành linh mục, các anh sẽ tận tâm lôi kéo mọi người đến với Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể và Tòa Giải Tội. Chúa Giêsu sẽ biến đổi các linh hồn nhờ các bí tích ấy." Msgr. James Turro, giáo sư Thánh Kinh của tôi ở Chủng Viện Các Thánh Tông Ðồ tại Cromwell, Connecticut, đã cho anh em chủng sinh chúng tôi biết ba đặc nét của một linh mục chân chính và gieo vào lòng chúng tôi tình mến sâu xa dành cho Giáo Hội với những lời sau: "Ba đặc nét phải có nơi một linh mục chân chính là: lòng yêu mến Thiên Chúa, lòng biệt kính Mẹ Maria và lòng vâng phục Hội Thánh... Hãy nhìn Giáo Hội trong quá khứ với niềm tự hào, trong hiện tại với lòng yêu mến và trong tương lai với niềm hy vọng." Ðối với ngài, điều bực bội nhất là gặp thấy sự bất phục giáo huấn Hội Thánh nơi các linh mục, những người đã từng long trọng thề hứa trung thành truyền đạt giáo huấn Hội Thánh cho dân Chúa. Cha Francis Lescoe (RIP), nguyên Giám Ðốc Chủng Viện Các Thánh Tông Ðồ, cảnh giác chúng tôi đề phòng tính kiêu ngạo trí thức (intellectual pride) các làm hại Giáo Hội qua thái độ bất phục giáo huấn Hội Thánh nơi một số giáo sĩ và một số thần học gia. Ngài nói: "Các nhà thần học không hơn các triết gia ở chỗ họ không được ơn bất khả ngộ: Họ cũng có thể sai lầm như mọi người. Chúa Giêsu trao quyền giảng dạy cho các Tông Ðồ chứ không phải cho các nhà thần học." Nhờ đó, trong sứ vụ linhn mục sau này tôi đã biết mạnh dạn phản đối sự lầm lạc trong lời giảng dạy của những linh mục bất phục Hội Thánh bất kể bằng cấp hay sự nổi tiếng của họ. Một linh mục hết lòng yêu quý thiên chức linh mục, say mê nghiên cứu thần học lành mạnh, trân quý giáo huấn của Hội Thánh và luôn có sự kính trọng sâu xa dành cho phẩm giá con người là Msgr. David Liptak, giáo sư thần học tại Chủng Viện Các Thánh Tông Ðồ. Chính ngài luôn tha thiết in sâu vào lòng chúng tôi kim chỉ nam cho đời sống linh mục là phải "có cùng cảm nghĩ với Hội Thánh." Ngài luôn xác quyết rằng: "không một cá nhân nào tốt hơn Hội Thánh" để đả phá mọi hình thức suy tôn cá nhân nơi thái độ của những giáo sĩ bất phục Hội Thánh. Và ngài ân cần dặn dò chủng sinh chúng tôi: "Hãy trở nên khí cụ của lòng thương xót Chúa." Ngài còn đặt vấn đề với chúng tôi: "Giả sử có ngày các anh gặp được một người hợp ý mọi đàng và các anh cảm thấy ao ước kết hôn với người ấy, các anh sẽ phải làm gì? Hãy tự bảo mình: Tôi là con Hội Thánh, là linh mục Chúa Kitô. Tôi đã một lần chọn lựa theo Chúa. Vậy nên, bất chấp cõi lòng đớn đau, tan nát, giày vò, tôi muốn giữ vẹn lời thề với Chúa, như lời Thánh Vịnh: ‘Lời khấn nguyền với Chúa, tôi xin giữ trọn. Trước toàn thể dân Người’ (Tv. 115:14). Chúa sẽ chúc phúc cho các anh và giúp các anh được ơn bền đỗ. Những ray rứt, đớn đau, khắc khoải vì chiến đấu để giữ vẹn lời thề sẽ làm thành của lễ hy sinh đẹp lòng Chúa và đem lại ơn cứu độ cho dân Người." Tôi nhớ mãi Cha Douglas Mosey, CSB, giáo sư thần học của tôi và hiện là Giám Ðốc Chủng Viện Các Thánh Tông Ðồ. Cha đã nhắc nhở anh em chủng sinh lớp tôi trong kỳ tĩnh tâm chung của lớp trước lúc chịu chức linh mục những lời đầy ý nghĩa sau: "Chúng ta được mời gọi trở nên linh mục của Chúa Kitô. Và chúng ta chỉ là linh mục đích thực của Chúa Kitô nếu chúng ta biết trở nên giống Người, vừa là tư tế vừa là tế vật. Nhiều người muốn làm linh mục, nhưng không mấy ai muốn làm tế vật. Nếu chúng ta không biết sát tế chính mình qua đời sống hy sinh, xả kỷ vị tha, chúng ta sẽ sát tế kẻ khác, sẽ làm hại dân Chúa." Trong dịp tham dự khóa tu nghiệp linh mục tại New Jersey năm 1998, tôi được tiếp xúc và lắng nghe Ðức Hồng Y John O’ Conner (RIP), nguyên Tổng Giám Mục New York, giảng dạy. Tôi bắt đầu cảm mến ngài từ đó vì nhận ra nơi ngài lòng yêu mến thiết tha dành cho Chúa Giêsu Thánh Thể, ý hướng vâng phục giáo huấn Hội Thánh và nhất là lòng trân quý thiên chức linh mục. Ngài đã từng nói với các chủng sinh: "Tôi hứa với các anh là nếu các anh trở thành linh mục tốt lành, các anh sẽ hưởng được niềm vui sâu xa nhất mà một con người sống trên trần gian có thể cảm nhận... Tôi yêu làlinh mục khi tôi vui cũng như lúc tôi buồn; tôi yêu là linh mục khi thành công cũng như khi thất bại; tôi yêu là linh mục cả khi tôi cảm thấy cô đơn và mong ước có một mái ấm gia đình cho riêng mình; tắt rằng, tôi luôn yêu là linh mục..." Tôi luôn ngưỡng mộ Ðức Cha Fabian Bruskewitz, Giám Mục Ðịa Phận Lincoln ở Nebraka, như một người hùng khi nhận ra sự đại đảm của ngài trong việc chống lại các tổ chức bất phục giáo huấn Hội Thánh ngay trong lòng Giáo Hội, để bảo vệ đời sống đức tin nơi các tín hữu do ngài coi sóc với tất cả ý thức trách nhiệm của một chủ chăn. Ngài đã từng đặt vấn đề nơi một bài báo nhan đề: "Quyền Giám Mục: Xử Dụng hay Ðánh Mất." Ngài đã tiết lộ với tôi biết bí quyết của sự can đảm nơi ngài: "Mỗi khi quyết định điều gì, tôi đặt mình trước tòa phán xét của Chúa." Tôi thường nghĩ ngài như một Thánh John Fisher của Hoa Kỳ vì thấy ngài dám sống theo xác tín chứ không chạy theo dư luận của đám đông. Ngay khi được nghe đọc những đoạn trong cuốn Ðường Hy Vọng lần đầu tiên hồi còn ở trại tị nạn năm 1981, tôi đã đem lòng ngưỡng mộ và yêu mến tác giả là Ðức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận (RIP). Tôi cảm được tinh thần tin yêu, vui mừng và hy vọng của ngài nơi những lời chia sẻ chân tình đầy khôn ngoan xác tín trong tác phẩm quý giá trên. Sau này, có dịp tiếp xúc với ngài và nhìn vào những kỳ công Chúa thực hiện nơi cuộc đời của ngài, tôi càng cảm tạ Chúa và Mẹ đã ban tặng Ðức Hồng Y cho Giáo Hội và dân tộc Việt Nam như một mẫu gương rạng ngời của một mục tử tốt lành, một "chứng nhân hy vọng" và một sứ giả của tin yêu hiệp nhất. Nghĩ về ngài, tôi cảm thấy được an ủi nhiều khi nhớ đến ngài đã viết là hứa sẽ cầu nguyện cho tôi ngày càng thêm lòng yêu mến Ðức Mẹ và viết thêm nhiều sách để rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô. Qua lời chuyển cầu của ngài và nhờ nỗ lực sống theo những ý lực tâm linh quý giá nơi tác phẩm Ðường Hy Vọng của ngài, tôi hy vọng sẽ trở nên chứng nhân hy vọng như ngài. Tôi cũng hết lòng cảm tạ Chúa và Mẹ đã cho tôi được sống cùng thời với bao linh mục thánh thiện đã đi vào lịch sử như những người con ưu tú và tinh hoa của Hội Thánh, đã góp phần xây dựng và đem lại vinh quang cho Giáo Hội, đồng thời đã trở nên gương mẫu và nguồn khích lệ cho những ai đã, đang hay sẽ dấn thân theo lý tưởng linh mục: Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII, Thánh Padre Piô Năm Dấu Thánh, Thánh Giuse-Maria Escriva, Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI, Ðức Tổng Giám Mục Fulton J. Sheen và Cha John Hardon. Các ngài đã tỏ ra xứng đáng là hậu duệ của các Thánh Tông Ðồ và các thánh mục tử trong truyền thống Giáo Hội như Thánh Gregory Cả, Thánh Charles Barromeo, Thánh Martin de Tours, Thánh Gioan Vianey, Thánh Gioan Bosco, Thánh Piô X, Thánh Maximilian Kolbe, Cha Thánh Anphong và Thánh Gioan Newman. Trong năm 2002 vừa qua, Giáo Hội hoàn vũ nói chung và Giáo Hội tại Hoa Kỳ nói riêng đã bị tổn thương nặng nề vì giới truyền thông phanh phui, khai thác và bêu xấu sự đồi bại của một số linh mục và giám mục phạm tội lạm dụng tính dục trẻ em. Nhưng các tín hữu sẽ sai lầm khi để cho tinh thần đức tin của mình bị lung lạc và nản chán vì quá chú tâm đến con số nhỏ bé những linh mục đồi bại mà lãng quên những gương sáng rạng ngời với những nhân đức anh hùng và hoa trái thánh thiện của bao mục tử tốt lành luôn hiện diện trong đời sống Giáo Hội. Khi nhắc đến các ngài, tôi nhớ lời Thánh Phaolô "Ấy vậy có cả đám mây nhân chứng lớn lao dường ấy quanh ta, thì cả ta nữa, ta hãy liệng đi quả tạ mọi thứ tội lỗi bịn rịn; nắm lấy kiên nhẫn, ta hãy chạy vào trận tuyến chờ ta, đăm nhìn lên Ðấng khơi nguồn và viên thành đức tin, Ðức Giêsu, Ðấng thay vì vui sướng chờ Ngài, thì đã kiên chịu khổ hình thập giá, không quản thẹn thuồng xấu hổ, và đã lên ngự bên hữu ngai của Thiên Chúa. Hãy ngắm Ðấng đã từng chịu để những người tội lỗi chống báng Ngài, để anh em khỏi ra bại hoại tâm thần, mà bỏ buông xuôi!" (Heb. 12:1-3). Trong ngày kỷ niệm Chúa Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể và Chức Linh Mục, tôi cũng không quên nhớ đến và cầu nguyện cho những anh em linh mục đã từng cùng tôi tu học để theo đuổi lý tưởng linh mục nơi chủng viện và trong nhà dòng, đã từng đồng tế Thánh Lễ với tôi, mà nay đã từ bỏ sứ vụ cao cả mà chính họ từng tha thiết năm nào. Tôi tiếc nuối và xót xa cho họ. Tôi sợ cho chính mình! Cách đây ít lâu, tôi gặp được nơi thư viện nhà dòng cuốn sách Tôi Muốn Làm Linh Mục do Cha J.M. Lưu Ðức Mẫn, OP, soạn với bìa đã nhàu nát vì cũ kỹ. Lòng tôi bồi hồi rung động khi nhìn thấy cuốn sách mà tôi đã được đọc qua thời niên thiếu. Tôi phải cảm tạ Chúa và Mẹ biết chừng nào khi các ngài đã cho ước mơ thầm kín của tôi từ tuổi thơ thành tựu cách lạ lùng hơn cả sự tưởng nghĩ của tôi. Thành tâm nhìn lại quãng đời linh mục đã đi qua, tôi phải xấu hổ thẹn thùng vì đã nhiều lần không sống xứng đáng với thiên chức cao cả Chúa đã thương ban. Tác giả sách Gương Chúa Giêsu đã dịu dàng nhắc tôi nhớ đến những lỗi lầm khuyết điểm của mình với những hàng sau: "Con hãy than khóc vì con còn quá ‘xác thịt’ và thế tục, còn dung túng đam mê, bê tha tình dục, không khổ chế giác quan, buông lung theo những hình ảnh huyền hoặc. "Con còn quá khuynh chiều ngoại vật, khinh thường nội tâm, dễ cười, mau xao lãng, cứng lòng, không chịu thống hối. "Con còn dung túng và nuông chiều giác dục, lười khổ chế và sốt sắng. "Con tò mò nghe tin lạ, xem cái đẹp mắt mà lảng xa cái khiêm nhượng và thấp bé. "Con tham lam thâu góp, hà tiện khi làm phúc và bo bo nắm giữ. "Con bạ ăn bạ nói, không biết nín nhịn, đời sống ngang tàng, hành động bừa bãi. "Con ăn uống thô tục, biếng trễ Lời Chúa, chậm làm, mau nghỉ. "Gẫu truyện thì tỉnh táo, mà thức cầu nguyện thì ngủ gà ngủ vịt, mong chóng xong, hay chia trí. "Kinh Nhật Tụng đọc khườn khỉnh, làm lễ chiếu lệ, rước lễ khô khan. "Mau chia trí, chậm hồi tâm, dễ hờn giận, mau bẳn gắt, hay xét đoán và khắt khe khi sửa dạy người khác. "Con tươi tỉnh khi được may mắn, mà ủ rũ lúc gặp gian lao, dốc lòng nhiều mà thực hành ít" (Q. IV, Ch. 7). Và cùng với tác giả sách Gương Chúa Giêsu, tôi muốn dâng lên Chúa lời nguyện sau mỗi ngày để cầu nguyện cho mình và cho các anh em linh mục của tôi như sau: Kinh Riêng Của Linh Mục "Lạy Chúa toàn năng! xin ban ơn trợ giúp chúng con là những người đã thụ lĩnh chức linh mục Chúa, để chúng con được lương tâm trong sạch và ngay thẳng mà phụng sự Chúa cho xứng đáng và sốt sắng. "Mà nếu chúng con không sống được một đời sống thánh thiện cho xứng đáng, thì xin Chúa ban cho chúng con được khóc cho thảm thiết những tội đã phạm và, --với lòng khiêm nhượng, với chí kiên quyết,--chúng con sẽ phụng sự Chúa cho sốt sắng hơn" (Q. # IV, Ch. 11). Rồi có những lần tôi được hỏi: "Cha có hối hận vì đã là linh mục không?" Tôi đã thành thực trả lời: "Không! Ngàn lần không! Linh mục là ước mơ thầm kín từ tuổi thơ của tôi đã được Chúa và Mẹ biến thành hiện thực. Ngày ngày, tôi đã, đang và sẽ mãi mãi dâng lời cảm tạ thiết tha về hồng ân cao trọng này. Không bao giờ tôi hối hận vì đã là linh mục của Chúa Kitô! Phải! Tôi vẫn có những điều để hối hận: hối hận vì những lần bất trung với sứ vụ, hối hận vì những lúc chưa hết lòng và trọn tình với Chúa, hối hận vì những khi chưa tận trung với nghĩa vụ mà thôi. "Nhưng tôi biết Chúa vẫn luôn trung tín với tôi, vẫn luôn hết lòng với tôi, vẫn luôn trọn tình với tôi, vẫn luôn tha thứ cho tôi và vẫn luôn mời gọi tôi tiến bước. Vì vậy, tôi không muốn gì hơn, không ao ước gì hơn là được luôn sống và chết như một linh mục đích thực của Chúa Kitô, của Mẹ Maria và của Mẹ Hội Thánh." Ước gì tôi luôn vui tươi, trung thành và thẳng tiến trong ơn gọi linh mục với tâm tình tin yêu phó thác nơi sự quan phòng đầy yêu thương của Chúa, như được trình bày nơi bài thơ "Vì Thế Mà Con Ði Tới" của linh mục thi sĩ Nguyễn Tầm Thường, bài thơ mà tôi đã đọc được cách đây hơn hai chục năm. Con không hỏi nơi nào con sẽ đến (April 17-20, 2003) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu |
|