BỆNH ÐỒNG TÍNH

QUANG VIỆT

Ở Việt Nam, đồng tính chỉ là chuyện cười, trêu chọc mấy người thanh niên có dáng dấp đàn bà, được gọi là "lại cái". Với nếp sống văn hóa Nho giáo, người Việt Nam vẫn chủ trương: "Trai có vợ, gái có chồng là lý tưởng của nhà nho". Bởi vậy con trai lớn mà không có vợ chỉ vì bất đắc dĩ, chứ không phải đương sự không muốn. Trong khi đó, ở xã hội Tây phương, đồng tính cũng như ly dị, phá thai, là một vấn đề thời sự trong cuộc sống.

I. ÐỒNG TÍNH TẠI HOA KỲ

Theo thống kê nghiên cứu do nhiều cuộc khảo sát khác nhau thì tại Hoa Kỳ người ta không biết đích xác tỷ lệ đồng tính (cả nam, cả nữ) là bao nhiêu. Có người cho rằng con số này chiếm từ 4% đến 10% dân số. (Bell, Weinberg & Hammersmith, 1981). Những người này thuộc nhóm chủ trương bênh vực việc hợp thức hóa cách sống đồng tính: Ðồng tính là vì sinh ra đã có cơ thể thích hợp, hướng về người cùng phái.

Năm 1948 kết quả do Alphred Kinsey đưa ra trong cuốn Sexual Behavior in the Human Male cho rằng dân số người đồng tính là 10% trong xã hội Hoa Kỳ. Ông đưa ra con số chắc nịch này là để chứng minh rằng đồng tính là chuyện bình thường và xã hội phải chấp nhận.

Luận cứ và kết quả của Kinsey đã bị nhóm bác sĩ Judith Reisman và Edward Eichel phản bác (xin đọc Kinsey, Sex and Fraud của 2 tác giả do nhà xuất bản Lochinvar & Huntrington House, Lafayette, Lousiana, 1990) . Sau này cuộc nghiên cứu tâm lý khác cũng đồng quan điểm với lời cáo buộc nhóm Kinsey của Reisman và Eichel. Nhóm Kinsey dựa vào những đối tượng nghiên cứu đặc biệt: những tội phạm hình sự. Trong số những tội phạm này gồm 5300 người thì 1400 người đã bị kết án về tội tấn công tình dục, họ không thể đại diện cho những người có đời sống tình dục bình thường được.

Nhóm Kinsey cũng đả phá những nghiên cứu cho rằng ảnh hưởng của môi trường đưa tới sự đồng tính trong phái nam. Họ nói rằng cuộc phỏng vấn hơn 1300 người, kể cả đàn ông, đàn bà do Alan Bell, Martin Weinberg và Sue Keifer Hammersmith thuộc Viện Kinsey thực hiện năm 1981, thì không có cơ sở gì cho vấn đề môi sinh phát ra tính đồng tính.

Ngày nay những nhóm chủ trương đồng tính bẩm sinh đưa ra kết quả khoa học mà họ cho rằng đã tìm thấy bào thai của trẻ nam có chứa nhiều kích thích tố nữ, lớn lên trẻ nam này sẽ trở nên đồng tính. Tuy nhiên họ không thể giải thích được tại sao, hoặc kích thích tố nào tạo nên sự đồng tính nơi nữ giới.

Họ cũng không thể giải thích được có những người nam đang có đời sống dục tính bình thường (nam - nữ), có con cái, rồi tự nhiên trở thành đồng tính. Họ cũng không giải thích được nhiều người có bạn đồng tính, nhờ sự giúp đỡ của các nhà giáo dục tâm lý đã trở lại đời sống bình thường và có con như nhiều tờ báo đã làm phóng sự về hiện tượng này.

Thực sự nhóm Kinsey và những người cùng quan điểm muốn khuyến khích một nếp sống không còn đặt vấn đề luân lý trong lương tâm con người và trong xã hội. Ðiều nguy hiểm là khuynh hướng này đang phát triển rất mạnh mẽ.

Năm 1969 tại Greenwich Village, New York có bạo động, nhóm đồng tính kêu gọi toàn thể những người cùng hoàn cảnh xuống đường, xuất đầu lộ diện, không dấu diếm nữa.

Ðến năm 1987 cả trăm ngàn người tham dự cuộc biểu tình tại Washington đòi quyền sống cho người đồng tính. Ngày nay nhiều nơi đã công nhận người đồng tính được hưởng quyền lợi như người có cưới xin: hưởng bảo hiểm (2 người ban đồng tính sống chung, bảo hiểm của người đi làm bao luôn cho người bạn sống chung như vợ chồng vậy).

Vào Năm Thánh 2000 của người Công giáo. Giới đồng tính thế giới tổ chức diễn hành tại Roma vào cuối tháng 7 và được sự hỗ trợ của cựu phó tổng thống Mỹ, ông Al Gore ủng hộ.

Ngày nay nhóm Clellan Ford và nhóm Frank A. Beach làm 76 cuộc nghiên cứu đưa ra kết quả: 2/3 dân chúng coi chuyện đồng tính là bình thường và chấp nhận được.

Nhưng đó không phải là lập trường của Giáo hội Công giáo là Mẹ và Thầy của chúng tôi.

II. LẬP TRƯỜNG KHOA HỌC CỦA HIỆP HỘI BÁC SĨ CÔNG GIÁO

Ðây là một tổ chức của các bác sĩ công giáo Bắc Mỹ, gồm Hoa kỳ và Canada. Mục đích của hội là: "Làm cho tinh thần của Chúa Kitô lớn mạnh trong đời sống cá nhân và nghề nghiệp và đem tinh thần của Chúa đến với mọi người qua những tiếp xúc trong ngành khoa học và nghệ thuật. Chúng tôi ao ước cộng tác với đấng đại diện Chúa Kitô, các Giám mục và toàn thể cộng đồng dân Chúa bằng sự lãnh đạo và đặc biệt là lãnh vực hiểu biết chuyên môn, tay nghề và kinh nghiệm mà chúng tôi có được như một y sĩ công giáo." Tổ chức có đại hội thường niên và nay là năm thứ 72.

Ngày 18-4-2003, Hội đưa ra bản nhận xét và quan điểm về vấn đề đồng tính.

Quan điểm của Hội dựa vào những nghiên cứu khác nhau để chứng tỏ rằng những chỉ dạy vững chắc, có căn cơ của Hội Thánh đều thích hợp với những kết quả của các cuộc nghiên cứu, có thể giúp ích cho vấn đề giáo dục của các giáo sĩ, bác sĩ tâm thần, các thầy cô, cha mẹ và cả quảng đại quần chúng.

Bản báo cáo của đại hội năm nay đã phá huyền thoại cho rằng đồng tính là do bẩm sinh và không thể thay đổi được, và đưa ra niềm hy vọng đồng tính có thể ngăn ngừa và chữa trị được.

1. Người đồng tính không bị bệnh vì được sinh ra là thế

Một số nhà nghiên cứu có chủ đích đi tìm cho ra người đồng tính là do cơ thể sinh lý tạo dựng như vậy. Các nhà báo đề cao tư tưởng con người có "nhiễm thể đồng tính", và họ nói rằng nhiễm thể đó đã được khám phá. Mặc dù có nhiều cuộc thí nghiệm muốn đi đến kết quả đó nhưng không một thí nghiệm nào khi cho thử lại đã chứng minh một cách khoa học là có "Gene Ðồng tính". Một số tác giả đã cẩn thận kiểm soát lại những cuộc khảo sát này nhưng kết quả là không có gì chứng minh có "gene" đồng tính. Các báo cáo kia cũng chẳng bao giờ chính thức tuyên bố như báo cáo gian dối của Kinsey.

Nếu đồng tính là do bẩm sinh thì những người sinh đôi phải bị trọn cả hai. Khi có một người bị bệnh. Thực tế, nhiều báo cáo cho thấy các cặp song sinh không nhất thiết cũng bị bệnh đồng tính cho cả hai.

Người ta đã tìm ra nhiều yếu tố môi sinh tạo nên tật đồng tính. Dầu vậy, vẫn thấy nhiều mưu định thuyết phục quần chúng: Ðồng tính do bẩm sinh. Ðó là những ý đồ chính trị. Người ta muốn lấy chiêu bài bẩm sinh để đòi hỏi thay đổi luật lệ đời cũng như đạo đối với nếp sống đồng tính, vì cho rằng đồng tính không thể thay đổi được.

2. Ðồng tính được coi như một bệnh

Mỗi người ở trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng người đồng tính thường có một số biểu hiện chung :

- Xa lìa người cha ngay từ lúc thiếu thời vì thấy cha mình ghét bỏ hoặc xa cách mình, dữ tợn hoặc nghiện rượu.

- Mẹ quá bao che (đối với con trai)

- Mẹ quá cần con và đòi hỏi (con trai)

- Mẹ không cảm xúc với con (gái).

- Cha mẹ không biết hướng dẫn con để có thể xác định thế nào là đồng tính.

- Thiếu những trò chơi táo bạo và nhộn nhịp (trai)

- Không biết căn tính của mình với những người đồng tính cùng lứa.

- Không thích chơi thể thao với nhóm nhiều người.

- Không có khả năng điều hợp giữa tay và mắt đi đến kết quả là bạn cùng lứa trêu chọc (trai)

- Bị bạo hành tình dục hay bị hiếp.

- Không thích xã hội hay mắc cở quá đáng.

- Mất mát đối với cha mẹ do chết hoặc ly dị.

- Rời xa cha mẹ trong thời kỳ phát triển mạnh.

Nhiều người bị bệnh đồng tính vì những lý do tâm lý :

- Xuống tinh thần trầm trọng (major depression)

- Có ấn tượng tự tử.

- Cái gì cũng lo lắng (do tinh thần)

- Bị hành hạ

- Tình tình bất thường trong thời kỳ mới lớn.

- Gần như không nhận ra mình

- Khủng hoảng tâm lý vì cắt đứt liên hệ với môi sinh và mất nhận thức về mình.

- Chỉ nhận biết có mình, cho mình là nhất.

Có một vài trường hợp ù nếp sống đồng tính xảy ra khi đã trưởng thành do những khắc khoải tâm tư như phá thai, hay nỗi cô đơn cùng cực.

3. Ðồng tính có thể ngăn ngừa được

Những nhu cầu tình cảm và phát triển của mỗi đứa trẻ nếu được gia đình và đồng lứa nâng đỡ: Cha mẹ yêu thương, biết khen thưởng khuyến khích, được bạn bè chấp nhận vào các trò chơi thì hầu như không xảy ra chuyện đồng tính cho một đứa trẻ.

Tuy nhiên không dễ gì mà luôn luôn có được bầu khí thuận lợi cho đứa trẻ lớn lên. Nếu khi thấy con mình có những dấu lạ về tâm lý, xin cẩn thận. Nếu đưa con đi một bác sĩ nhi đồng, thường được lời khuyên: không sao, cháu sẽ khá hơn.

Nhưng nếu gặp bác sĩ tâm lý mà chủ trương bệnh đồng tính là bẩm sinh thì không thể giúp gì được. Bởi vậy cần xem xét lập trường đạo giáo của những người chuyên môn về tâm thần.

4. Dễ bị chứ không phải là bẩm sinh

Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy những em bị lạm dụng tình dục, những em bị chứng "Không phân biệt giới tính của mình" (Gender Identity Disorder - GID) và những em thiếu đàn ông tính thường dễ trở thành đồng tính trong thời gian niên thiếu và cả sau khi trưởng thành. Nhưng nghiên cứu cũng cho thấy nhiều người thoát khỏi, chứ không phải ai cũng trở thành đồng tính.

Nếu trông cậy vào Ơn Trên và những giúp đỡ tích cực của người chung quanh, một cá nhân có thể thoát khỏi tật đồng tính.

5. Chữa trị

Có hai lập trường khác nhau của các bác sĩ tâm lý về vấn đề đồng tính :

- Bệnh đồng tính là bẩm sinh, không thể chữa được. Những bác sĩ chủ trương tìm ra mầm (gene) trong phôi sinh của đứa trẻ hướng về đồng tính thì đồng tính không chữa được. Họ còn cho rằng, chữa trị cho người đồng tính là đàn áp họ. Họ cho rằng chính Kinsey cũng chưa thấy ai chữa trị được.

Ngược lại, những bác sĩ coi đồng tính là 1 bệnh như Giáo Hội Công giáo chủ trương thì đồng tính chữa được.

Bác Sĩ Hatterer (Công giáo) cho biết ông đã chữa rất nhiều người đồng tính và ông sẵn sàng cho xem các hồ sơ ông đã làm việc trong suốt 10 năm chữa trị.

Nhiều người chữa trị khỏi đã viết kinh nghiệm trị liệu của mình để người khác cũng tìm hiểu. Trường hợp rất điển hình là Neff David. Ông này bị bệnh đồng tính và tham gia vào các cuộc đấu tranh đòi quyền sống cho nhóm của mình. Ông đả kích Giáo Hội vì cho rằng Giáo Hội không thông cảm với người đồng tính.

Sau này khi tiếp xúc với những người Công giáo trong ban mục vụ đặc trách người đồng tính, ông được nâng đỡ, thương yêu và được chữa trị.

Từ 1989 ông viết báo về những kinh nghiệm trong cuộc đời ông và cám ơn giáo hội về sự nâng đỡ đối với những người bị bệnh.

6. Mục tiêu của việc chữa trị

Những người nói rằng người đồng tính không thể thay đổi được thì họ cũng đòi hỏi sự thay đổi phải được coi là sự giải thoát mọi ham muốn của người đồng tính. Các cuộc nghiên cứu đã chứng minh rằng, nhiều trường hợp bệnh nhân đồng tính đã hoàn toàn thay đổi.

Cũng cần lưu ý rằng: những ai chủ trương chữa trị người đồng tính là thiếu luân lý (vì là áp bức), thì cũng là những người chối bỏ sự tự chế bản thân khỏi những hành động dục tính ngoài hôn nhân. Những nhà tâm lý trị liệu chấp nhận đồng tính là chuyện bình thường thì cũng coi sự bất trung trong đời sống vợ chồng cũng là chuyện bình thường, họ cũng coi chuyên lạm dụng tình dục với con nít là chuyện bình thường.

 

7. Người Công giáo với bệnh đồng tính

Mục tiêu của sự chữa chạy là đạt được sự tự do cho mình hầu có thể sống đời vợ chồng bình thường hay tự do giữ sự khiết tịnh trong đời sống. Tuy nhiên , những người chữa trị đồng tính (therapist) không theo quan điểm Kitô giáo thường đi quá trớn. Theo họ, người bệnh được coi là "khỏi" là khi người đồng tính này thực thi hành động dục tính với người khác phái, mặc dù họ chưa có vợ chồng để thực hành, hoặc người bệnh phải biết tưởng tượng đến người khác phái.

III. KẾT LUẬN

Những điểm nghiên cứu của các nhà tâm lý học Công giáo được nêu lên vì đó là những điều thực tế. Những điểm luân lý và thần học được bộ giáo lý Ðức tin bầy tỏ trong thơ gởi các Giám mục thế giới ngày 1-10-1986 nên được các bậc cha mẹ tìm đọc.

Ở đây xin được nêu vấn đề để các bậc cha mẹ cùng lưu ý. Các nhóm đồng tính, như trên đã nói: họ tự nhận dân số đồng tính là 10% để chứng minh đồng tính là chuyện bình thường. Theo nhóm Courage, một nhóm Công giáo chuyên giúp người đồng tính trở lại đời sống bình thường thì dân số đồng tính chỉ là 1% tức 2 triệu rưỡi người. Nhưng con số 2.5 triệu này trở thành những người rất tranh đấu nên dễ gây tiếng ồn ào.

Theo tinh thần văn hóa Ðông phương, đồng tính là bất thường. Theo nghiên cứu của các bác sĩ Công giáo, đó là do môi trường và có thể chữa được.

Có những điều cần thiết đòi hỏi các bậc cha mẹ nên biết :

1. Cần lưu ý đến nếp sống của con cái ngay từ thiếu thời để có thể phát hiện những sai lệch trong tâm lý của các em. Khi thấy những khác lạ, cần để ý một bé trai mà thích trang điểm theo nữ giới, thích mầu tím, màu hồng, giọng nói ẻo lả là những điều bất thường.

2. Nếu muốn giúp con cái tìm hiểu về tâm lý, không nên đến với những bác sĩ không cùng quan điểm luân lý với Giáo hội Công Giáo. Cha mẹ cũng không nên cho con em theo học lớp hướng dẫn sinh lý tại nhà trường (công lập)

3. Nếu con mình bị bệnh đồng tính : chấp nhận sự thật và giúp con em chữa trị. Ðó là một bệnh, cần chữa trị và chữa trị được.

Giáo Hội dạy: Hành động đồng tính bị kết án, nhưng Giáo Hội vẫn thương yêu giúp đỡ người đồng tính. Họ vẫn là con Chúa. Họ có thể thay đổi và trở nên thánh thiện.

Trào lưu tục hóa đang thắng thế trong xã hội tây phương. Là người Công giáo, chúng ta đang lội dòng nước ngược. Nhưng với sự can đảm và bền tâm, chúng ta sẽ giúp người khác nhận ra lập trường luân lý của Hội Thánh về đồng tính luyến ái là đúng đắn và như thế là góp phần gìn giữ xã hội khỏi cơn sa đoạ tâm linh.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com