KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICAN II (Kỳ 8) Lm. Vũ Khởi Phụng, C.Ss.R. Chính quyền ở Ý, từ ngày thống nhất đất nước
năm 1870, chưa bao giờ là một chính quyền vững mạnh.
Sau cuộc Ðại Chiến, nó lại càng suy yếu. Bất công
xã hội, tham nhũng, phe đảng, chênh lệch giàu nghèo
gây bất bình trong nhân dân. Tháng 3.1919, Mussolini tập
họp một số cựu binh, lập ra "Ðoàn sơ-mi đen",
tức là Ðảng Phát-xít, chủ trương: Thiết lập nền
Cộng Hòa, phế bỏ chế độ quân dịch và các tước
vị quý tộc, quy định mức lương tối thiểu, ruộng đất
về tay nông dân... Không chỉ hô hào và tuyên truyền,
Ðảng Phát-xít dùng cả bạo lực để tấn công các
đảng phái khác vốn đã mất uy tín. Ngày 28.10.1922,
50.000 đảng viên mặc sơ-mi đen có vũ trang tiến về
thủ đô Roma, không gặp một cản trở nào. Nhà vua
buộc phải cử Mussolini làm thủ tướng. Nắm được chính quyền rồi, một mặt Mussolini kích
động quần chúng, mặt khác thẳng tay đàn áp những
người chống đối, kể cả bằng bạo lực, chém giết,
thủ tiêu. Kể từ 1921, một chế độ độc tài đã
được thiết lập tại Ý. Mussolini tự xưng mình là
người lãnh đạo dân tộc. Tuy là người vô thần,
ông rất muốn lấy lòng Giáo Hội Công Giáo, khác
với chế độ cũ được thiết lập trên sự tước
đoạt quốc thổ của Ðức Giáo Hoàng, và do đó luôn
ở vào thế căng thẳng đối với Tòa Thánh (mâu
thuẫn giữa Tòa Thánh và nhà nước Ý sẽ được
giải quyết vào năm 1929, với Thỏa Ước Laterano công
nhận quốc gia Vatican). Nhiều người Công Giáo còn buồn phiền vì những
xung đột và thiệt thòi dưới chế độ cũ, cùng
những ngang trái nhiễu nhương trong xã hội, đã không
che dấu thiện cảm với chế độ của Mussolini. Cha Roncalli
không đồng ý. Cha giải thích: "Vì chức vụ tôi
đang nắm giữ ở Tòa Thánh, tôi không thể và không
được bày tỏ lập trường công khai bằng bất cứ
hình thức nào... Nhưng theo lương tâm, với tư cách là
Ki-tô hữu và là Linh Mục, tôi không thể nào bỏ
phiếu cho Ðảng Phát-xít... Tôi chỉ biết chắc một
điều: Nước Ý không thể nào được cứu vãn nhờ
tay Mussolini. Mặc dù ông ấy là người khôn khéo. Mục
đích ông ấy theo đuổi có lẽ là tốt lành và chính
trực. Nhưng những phương thế mà ông ấy sử dụng
thì gian tà và nghịch quy luật Tin Mừng". Cục diện ở Ý, ở các xứ truyền giáo và mọi
nơi khác, biến chuyển như vũ bão. Và giữa vũ bão
như thế, người đồ đệ Chúa, với tất cả tăm tối
và yếu đuối của mình, phải gieo hạt giống nhỏ li ti,
hạt giống nhẹ tênh vô hình của Tin Mừng. Rồi ra gió
bão lịch sử qua đi, sẽ nghiệm thấy cái gì nổi, cái
gì chìm, cái mất, cái còn. Cha Roncalli không chỉ phục vụ cho cái khó nghèo của
Tin Mừng, bản thân cha cũng là một người nghèo,
hiểu theo nghĩa cụ thể nhất. Xuất thân từ gia đình
bần nông, có đất có ruộng nhưng cũng có quá nhiều
miệng ăn, ngoài Ðức Tin trong sáng, cha chẳng thừa
hưởng được gì nhiều. Hồi chịu chức Linh Mục năm
1904, cha phải vay nợ mới may nổi một chiếc áo thâm
chùng và mua nổi một đôi giày tử tế, cùng với "vài
món lặt vặt thôi nhưng cần thiết". 15 năm, 20
năm qua, Linh Mục trẻ nay đã đứng tuổi và có chức
vụ tương đối quan trọng, nhưng khả năng vật chất
không cải thiện được nhiều; không đến nỗi nghèo
khổ, nhưng chỉ vừa đủ cho một nếp sống đạm bạc.
Là vì gánh gia đình quá nặng. Là người con thứ tư trong một gia đình 13 anh chị em,
một người em gái mất sớm, cha phải nuôi hai chị em
gái, hai em trai đông con. Hai chị em gái cũng nặng gánh
gia đình, một em trai độc thân và mù lòa, cha mẹ già
yếu, mùa màng năm được năm mất, ngoài cửa thì
lúc nào cũng có nhiều người nghèo xin giúp đỡ,
chức vụ quan trọng thì cũng nhiều khoản phải chi tiêu.
Tóm lại, không đạm bạc thì không sao đương nổi. Ðược cái cha Roncalli đúng là một người "an
bần lạc đạo". Trong một bức thư gửi cho cụ thân
sinh, cha viết: "Con sẽ không bao giờ giàu đâu.
Linh Mục mà lợi dụng chức vụ của mình để làm
giàu thì có mà xuống hỏa ngục !" (19.11.1924) Với các chị em gái, cha viết: "Cái nghèo đã
ôm choàng lấy tôi từ ngày còn bé và cho đến tận
bây giờ nó vẫn không buông tay... Ta chẳng nên phàn
nàn làm gì, bởi vì nếu ta biết nhẫn nại chịu đựng
khó nghèo, ta sẽ giống Ðức Giê-su Ki-tô hơn và bảo
đảm hơn đường lên Thiên Ðàng. Vả lại, dù ta có
gặp khó khăn, nhưng sẽ chẳng bao giờ thiếu thốn
những điều nhu yếu. Với lại chị em thấy đấy, nhiều
tiền lắm của cũng chẳng làm cho người ta và các gia
đình hạnh phúc hơn" (26.6.1926). Trong Nhật Ký Tâm Hồn, cha viết: "Tôi sinh ra
đã nghèo, tôi phải chết nghèo, và tôi muốn thế.
Tôi xác tín rằng, cũng như đã xảy ra trong quá khứ,
khi đến giờ Chúa Quan Phòng sẽ không để tôi thiếu
thốn những điều nhu yếu, nhưng sẽ ban cho tôi những
gì tôi cần và thậm chí còn nhiều hơn thế nữa. Vô
phúc cho tôi nếu tôi gắn bó với của cải thế gian,
dù chỉ mảy may". Hồi 1921, cha Roncalli về thăm quê đã mặc áo tím.
Bà con trong làng đến hỏi thăm bà cụ thân sinh: "Cha
nhà lên Giám Mục hồi nào mà chúng tôi không biết?"
Thật ra cha không phải là Giám Mục. Tòa Thánh vẫn
có thói quen tạo uy tín cho một số Giáo Sĩ bằng những
màu mè bên ngoài. Tước vị của cha Roncalli là "Ðức
Ông" (Monsignore). Nhưng rồi ngày phải làm Giám Mục cũng đến. Ðức
Pi-ô 11 đang tìm người đề cử làm Kinh Lược ở
Bulgarie, một đất nước mà tuyệt đại đa số nhân
dân theo Chính Thống Giáo. Ðảm nhiệm được chức vụ
này phải là một người tế nhị, mềm dẻo, xuề xòa,
nhưng khi cần, lại phải có bản lĩnh. Ðức Thánh Cha
để ý đến cha Roncalli. Trong thời gian phục vụ ở Bộ
Truyền Bá Ðức Tin, cha đã tỏ ra là người có khả
năng, biết tổ chức, mà đồng thời vẫn tươi cười,
khéo léo, ngoại giao... Ngày 17.1.1925, Ðức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Gasparri cho
gọi cha Roncalli để thông báo quyết định. Người
đứng đầu ngành ngoại giao của Vatican giải thích về
mục đích yêu cầu. Cha Roncalli mỉm cười: "Cứ
như là Thánh Giu-se vậy !" Vị Hồng Y bỡ ngỡ... "Vâng,
thưa Ðức Hồng Y, đúng là như thế. Cần phải đại
diện Chúa, nhưng đôi khi cũng phải dấu Chúa đi để
dọn đường cho người ta đón tiếp Chúa tốt hơn. Lại
cũng phải biết thinh lặng, nói năng mực thước, tận
tụy phục vụ, bất kể việc vẻ vang hay mờ nhạt. Dù
có phải ngậm bồ hòn vẫn phải ngọt ngào... và vâng
lời kể cả khi không hiểu". Về một phương diện nào đó, chức vụ Kinh Lược
ở Bulgarie là một trọng trách tiên phong, về một
phương diện khác lại giống như bị phát lưu đến một
vùng biên ải xa vắng và nghèo xác xơ. Ðối với bản
thân cha Roncalli, đó là bắt đầu một con đường mới
sẽ có ảnh hưởng lớn sau này. Nhìn lại lịch sử sẽ giúp ta hiểu vì sao lại như
thế. Năm 1054 là một năm bất hạnh đối với Giáo
Hội. Ðó là thời điểm Roma và Tòa Thượng Phụ
Constantinopolis đoạn giao với nhau. Có thể nghĩ sẽ hàn
gắn như đã xảy ra vài lần trước đó. Không ngờ
kéo dài 9 thế kỷ, cho tới ngày nay vẫn chưa giải
quyết thỏa đáng mọi vấn đề. Mặc dù Công Ðồng
Vatican 2 do Ðức Gio-an 23 triệu tập đánh dấu một
bước tiến rất lớn trên đường hiệp nhất, Giáo
Hội của Chúa Ki-tô vẫn chia thành Công Giáo và Chính
Thống Giáo. Nghĩ như về mặt tín lý, sự khác biệt không trầm
trọng đến nỗi phải chia tay nhau, nhưng nhiều nhân tố
thế gian đã xen vào, làm cho vấn đề bị nhiễm độc,
sinh ra nhiều di chứng. Thời đó, về mặt chính trị và
văn hóa, Roma và Tây Âu nói chung, đã suy yếu rất
nhiều so với xưa kia, còn Constantinopolis đang là một
Trung Tâm chính trị và văn minh, văn hóa to lớn của
thế giới Ki-tô giáo. Tâm lý Phương Ðông, Phương
Tây có nhiều nét dị biệt, tương khắc. Tâm tính cá
nhân của những người lãnh đạo khiến cho những mâu
thuẫn đã không được giải tỏa mà ngày càng chồng
chất thêm. Thời gian đã khiến cho đôi bên cứ xa
cách thêm mãi. Rồi chính trị cũng xen vào, chia ra
những vùng ảnh hưởng đối nghịch. Nhiều biến cố
thảm hại, đặc biệt là cuộc Thập Tự Chinh thứ 2,
càng đổ dầu vào lửa. Người Việt ta nói: "Thương nhau trái ấu cũng
tròn, ghét nhau trái bồ hòn cũng méo". Dần
dần Chính Thống Giáo với Công Giáo nhìn nhau thấy cái
gì cũng méo cả. Có một số ít nhà tư tưởng, nhà
nghiên cứu nhận ra những giá trị cũng hai bên. Trong
thực tế, quan hệ đôi bên chủ yếu là bài xích nhau,
không tìm được tiếng nói chung. Mỗi bên đều có
những kho báu tâm linh mà bên kia vô tình hay cố ý
không muốn đếm xỉa. Ðến một ngày khi Ðức Gio-an 23
nói: "Những điểm chúng ta đồng tâm nhất trí
với nhau thì nhiều hơn và căn bản hơn những điều
mâu thuẫn với nhau", hoặc khi người kế vị
Ðức Gio-an 23 là Ðức Phao-lô 6 quỳ xuống hôn chân
một vị Giám Mục Chính Thống Giáo để rồi sau đó hai
bên cùng đốt Sắc Lệnh Tuyệt Thông lẫn nhau năm 1054,
hoặc khi Ðức Gio-an Phao-lô 2 nói: "Giáo Hội
phải thở bằng cả hai lá phổi Ðông và Tây..." thì
ta mới đo lường được Giáo Hội hai bên đã tiến
được một đoạn đường dài đến thế nào trong thế
kỷ 20 mặc dù khó khăn còn nhiều... Vào năm 1925, chưa thể đạt được những kết quả
như thế. Nhưng Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 11 vẫn muốn mở
lại những đường liên lạc với thế giới Chính
Thống Giáo. Giáo Hội Chính Thống lớn nhất bây giờ
không phải là Constantinopolis nữa. Từ thế kỷ 15, chế
độ ở Constantinopolis đã sụp đổ dưới sức tấn
công của các đạo quân Hồi Giáo. Constantinopolis nay là
Istanbul của Thổ-nhĩ-kỳ, một đất nước theo Hồi Giáo.
Tín hữu Chính Thống chỉ còn một nhóm nhỏ. Tòa
Thượng Phụ Constantinopolis về danh nghĩa vẫn là đệ
nhất Tòa Chính Thống Giáo, nhưng Giáo Hội Chính Thống
lớn nhất, đông nhất bây giờ nằm ở nước Nga,
thuộc quyền Tòa Thượng Phụ Moskva. Nhưng nước Nga bây giờ là Liên Xô. Lénin vừa qua
đời, Stalin đang nắm quyền bính. Tòa Thánh không có
cách gì đặt chân tới đó được. Nhưng ở các
vùng Balkans Ðông Âu thì may ra... Năm 1923, một nhà
ngoại giao Bulgarie, Cristo Kalkov, sau này sẽ làm ngoại
trưởng kiêm bộ trưởng tôn giáo vụ, đã hội kiến
với Ðức Giáo Hoàng và Hồng Y Quốc Vụ Khanh. Bulgarie là một nước nhỏ đã từng sống dưới
quyền đô hộ của Thổ-nhĩ-kỳ 500 năm, mới chỉ dành
lại được độc lập năm 1875. Không may, đến Thế
Chiến thứ 2, Bulgarie lại liên minh với phe Ðức - Áo,
và bại trận tơi tả, mất người, mất đất, tình cảnh
xiểng liểng. Có lẽ chính vì thế phải tìm thêm bạn.
Sau Thế Chiến, uy tín của Tòa Thánh lên cao lên cao ở
Châu Âu. Năm 1924, một nhân vật cao cấp của Tòa Thánh, ngài
Tisserant làm Quản Thủ Thư Viện Vatican, đã đi Bulgarie
tìm mua sách quý. Rất nhiều Tu Viện Chính Thống ở Nga
và ở Ðông Âu đã bị tan tác vì Thế Chiến và vì
Cách Mạng tháng 10 ở Nga. Nhiều sách vở vô giá của
các Tu Viện đó trôi nổi lưu lạc. Không có người
hiểu biết để bảo quản thì bao nhiêu tài liệu quý
sẽ thành tro bụi. Sứ mạng của ngài Tisserant là một
sứ mạng bác học: nhưng ngài cũng nhân cơ hội tìm
hiểu tình hình của các nhóm Công Giáo thiểu số ở
Bulgarie. Khi về Roma, ngài tâu với Ðức Giáo Hoàng xin
cử một vị Kinh Lược của Tòa Thánh đến Bulgarie.
Ðức Thánh Cha nghĩ đến cha Roncalli. Khác với Sứ Thần Tòa Thánh, vị Kinh Lược không
thuộc ngoại giao đoàn, đối với nước sở tại thì
không có vị thế chính thức. Cũng như Khâm Mạng Tòa
Thánh, vị Kinh Lược chỉ đến thăm rồi về, không ở
lại lâu. Không ngờ chuyến kinh lược ấy làm cho cha
Roncalli trụ lại và lặn lội gần 20 năm ở những
vùng ngoài Công Giáo, và ngoài Ki-tô giáo, xa cách
Trung Tâm Roma. Ai biết được những nẻo đường kỳ
lạ của Chúa Quan Phòng? Từ ngày 13 đến 17.3.1925, cha Roncalli tĩnh tâm để
chuẩn bị được thánh phong Giám Mục. Cha suy nghĩ, chiêm
niệm, cầu nguyện lâu giờ. Cha ghi lại: "Tôi sắp
thành Giám Mục, vậy là thời gian chuẩn bị đã xong
rồi. Không phải tôi đã tìm kiếm hay mong ước sứ
vụ này, nhưng Chúa đã chọn tôi với những ý chỉ
hiển nhiên đến mức nếu cưỡng lại thì tôi coi là
có lỗi nặng". Mục tiêu đời làm Giám Mục của cha có thể tóm
gọn trong một câu: "Tôi sẽ là người phục vụ
ơn hòa giải". Khẩu hiệu cha chọn là: "Obedientia
et Pax - Vâng Lời và Bình An". Cuộc đời cha
từ đấy về sau sẽ trung tín với mục tiêu và khẩu
hiệu ấy. Mọi thành công và mọi phiền muộn cũng là
do mục tiêu và khẩu hiệu ấy cả. Không còn nghi ngờ
gì nữa, cha đã theo đuổi trọn đời ý hướng đã
có từ đầu đời Giám Mục. Ðể "hòa giải",
để "vâng lời và bình an" đừng chỉ là
mỹ từ, thì cần rất nhiều sự khiêm tốn; muốn "hòa
giải", muốn "vâng lời và bình an"
phải trả giá bằng sự quên mình, để luôn luôn nhìn
thấy mình nhỏ bé, nhìn thấy có cái gì đó lớn hơn,
cao sang hơn mình, khiến mình tự nguyện xóa nhòa mình đi. Ngày 19.3.1925, Lễ Thánh Giu-se, cha Roncalli chịu chức
Giám Mục, trước mặt song thân và anh chị em trong gia
đình. Hình như những nhân tố sẽ làm nên dung mạo tinh
thần của cha luôn theo cha như bóng với hình. Cha chịu
chức trong Nhà Thờ dâng kính Thánh Carlo Borromeo, trái
tim của thánh nhân còn lưu giữ trong phòng thánh. Và
giữa Thánh Ðường lộng lẫy xây cất bằng đá cẩm
thạch nhiều mầu, trần và đỉnh cột thiếp vàng với
những tượng đá trắng như bay vụt từ đất lên
trời theo phong cách baroque, bàn thờ chính lại gắn
hàng chữ rất lớn: "Humilitas": Khiêm Nhường! Ngày 25.4.1925 chuyến tầu lửa Simplon Orient-Express, sơn
hai màu vàng và lam đậm, tuôn khói tiến vào ga Sofia.
Ðây là tuyến đường sắt dài nhất Châu Âu, khởi
hành từ Luân-đôn nước Anh, đi qua Pháp, Thụy-sĩ, Ý,
Serbie, Bulgarie, và dừng lại ở Thổ-nhĩ-kỳ: 3034 km.
Chuyến tầu huyền thoại, đã nhiều lần đi vào văn
học và điện ảnh, với những hành khách đậm đà
bản sắc, những doanh nhân, chính khách, những nhà
ngoại giao, văn sĩ, điệp viên, những giai nhân cùng
khách giang hồ quốc tế... Lần này, vị khách từ trên tầu Orient-Express bước
xuống ga Sofia, bề ngoài không có gì để gợi hứng cho
một nhà văn, hay một đạo diễn điện ảnh. Chỉ là
một vị Giáo Sĩ mập tròn, hơi lùn, áo chùng thâm đơn
giản. Nhưng đối với Giáo Hội Công Giáo, đây là
một bước đi quan trọng: lần đầu tiên từ 700 năm
nay, Ðức Giáo Hoàng mới lại có đại diện ở mảnh
đất hầu như toàn tòng Chính Thống Giáo này. Ðức Cha
Roncalli chỉ có một cộng tác viên duy nhất, ngài đã
chọn làm thư ký: cha Constantin Bosschaerts, vị Tu Sĩ Dòng
Biển-đức người Bỉ này ôm ấp một hoài bão là
làm sao lập được một Ðan Viện Công Giáo ở Bulgarie,
chuyên tâm lập quan hệ với bên Chính Thống. Ý
hướng đại kết đã lộ diện từ lúc này. Nhưng lúc này thậm chí một ngôi nhà riêng cho vị
Kinh Lược cũng chẳng có. Ðức Cha Roncalli tạm thời
ở nhờ ngôi nhà nhỏ bé của Linh Mục Kurtev. Tuy không
có tư cách ngoại giao, nhưng nhiệm vụ thì công khai, cho
nên việc đầu tiên của Ðức Cha là gửi điện văn
kính chào và trình diện tới quốc vương Boris 3 và vị
bộ trưởng ngoại giao. Việc thứ hai là bắt đầu học
tiếng Bulgarie, và học cả chữ viết theo mẫu tự Kyrillo. Ðức Cha Roncalli nhận nhiệm vụ ở Bulgarie vào một
thời đất nước này đang khủng hoảng nghiêm trọng.
Vua Boris 3, năm ấy 30 tuổi, cũng muốn phục hưng đất
nước sau thảm họa Thế Chiến thứ nhất. Nhưng trong
những chế độ phong kiến suy tàn, tầng lớp lãnh đạo
và nhân dân không có tiếng nói chung. Những quyền
lợi chồng chéo tạo ra những ngăn cách khó lòng dẹp
bỏ. Nhân dân khốn khổ vì nghèo đói và bất công.
Tầng lớp lãnh đạo dựa vào các thị dân rủng rỉnh
giàu sang làm gia tăng mâu thuẫn xã hội. Chế độ
đối phó bằng những diễn văn sáo rỗng, duyệt binh
rầm rộ để phô trương lực lượng thị uy, nhưng kinh
tế thì bết bát lụn bại. Các vấn đề không tìm
được lối thoát thỏa đáng thì dễ nảy sinh bạo lực.
Những người bất mãn dùng đến hạ sách khủng bố.
Giới lãnh đạo trả đũa bằng đàn áp gắt gao. Số
người bị bắt giam, thậm chí bị tử hình, tăng lên. Hai tuần trước khi Ðức Cha Roncalli đến Bulgarie, tình
hình rất bi thảm. Vua Boris đi săn trên miền rừng núi,
bị ám sát hụt ngày 13 tháng 4. Chín nghi can bị bắt ngay
và treo cổ. Ðáp lại, phe âm mưu giết vua lại hạ sát
tướng Constantin Gheorghiev ngày 14 tháng 4. Ngày 16 tháng 4
làm lễ quốc táng cho ông tướng ỏ Nhà Thờ cổ Svata
Nedala. Phe âm mưu cho rằng nhà vua về dự Lễ, liền
đặt chất nổ dưới chân vòm lớn. Giữa cuộc Lễ,
cả mái vòm lớn nổ tung và sập xuống, hơn một trăm
người chết và khoảng một nghìn người bị thương. Hoạt động đầu tiên của Ðức Cha Roncalli là xin
được đi thăm viếng những người bị thương. Ðịa
bàn đầu tiên của ngài là các bệnh viện ở Sofia.
Lấy lòng nhân đạo làm đầu. Bởi về mặt tôn giáo
thì còn khó khăn. Tờ báo Tzaken Vestruk, cơ qua phát
ngôn chính thức của Giáo Hội Chính Thống, không dấu
vẻ hằn học đối với sự có mặt của vị Kinh Lược
Công Giáo trên đất nước Bulgarie. Ðức Cha Roncalli
lẳng lặng chịu đựng mối ác cảm. Ngài hy vọng thái
độ an vui hòa nhã và tinh thần cởi mở sẽ gỡ bỏ
dần các chống đối. Trước mắt hãy tập trung vào nhiệm vụ chính, là
thăm viếng và săn sóc cho thiểu số Công Giáo. Cả
nước Bulgarie, Công Giáo chỉ có khoảng 60 nghìn người,
trong số đó 50 nghìn theo nghi lễ La-tinh. Người Công
Giáo theo nghi lễ Ðông Phương hồi giữa thế kỷ 19 có
60 nghìn, nhưng bị đế chế Nga đàn áp, có khi Giám Mục
bị bắt giam trong Tu Viện Chính Thống, thêm với chiến
tranh loạn lạc, nay chỉ còn khoảng 10 nghìn, sống trên
vùng núi hẻo lánh miền Nam. Ðức Cha Roncalli quyết định đi thăm viếng đoàn
chiên của Chúa càng sớm càng tốt. Liên tiếp có ba
chuyến đi dài ngày. Lần thứ nhất, từ 20 đến 28.5,
đi về miền Ðông, đến bờ Biển Ðen. Lần thứ hai
từ 8 đến 26.6 về hướng Ðông Nam, đến biên giới
Thổ-nhĩ-kỳ. Lần thứ ba, từ 9.7 đến 9.8, lại về
miền Ðông Nam, rồi lên Ðông Bắc, đi luôn sang Roumanie,
đến Bucarest. Ði đến những thành phố như Plovdiv thì
không khó lắm, và Ðức Cha Roncalli đã ở lại đó
mấy ngày. Nhưng Ðức Cha muốn thăm hết các Xứ Ðạo,
kể cả những nơi heo hút núi rừng. Ðến những chỗ
đó, làm gì có xe, có đường. Không sao, vậy thì
thuê một con ngựa, hay một con lừa. Dọc theo các thung lũng, người ta truyền miệng cho nhau:
"Có đại diện Ðức Giáo Hoàng đến thăm ta".
Giáo Dân tụ họp chờ đợi. Thế rồi hai con lừa lóc
cóc vào làng. Khách đường xa vắt vẻo trên cỗ yên
gỗ phủ da dê, mồ hôi nhễ nhại, áo dòng đen lấm
bụi đường, có khi ướt nhẹp vì lừa phải lội qua
suối, nhưng vị khách rất hớn hở. Ðó là Ðức Cha
Kinh Lược và cha Kurtev tháp tùng. Ông từ kéo chuông.
Các cô gái tặng những bó hoa tươi. Người già hôn
tay. Ðức Cha làm Lễ, ban Phép Thêm Sức, giảng... Lễ
xong, ngồi ăn bánh mì với phô-mai cùng với dân làng.
Thỉnh thoảng có chêm một ly rượu mận, thường thì
chỉ uống nước lã hoặc uống trà. Buổi tối, Ðức Cha
ngủ lại trong nhà xứ, mà nhà xứ thì cũng tuềnh
toàng, chả hơn gì mấy so với những nông trại bệ
rạc chung quanh. Có chỗ nhà xứ cũng chẳng có, lại ra
quán trọ, hai người chia nhau một phòng, chia giường
với rệp, trằn trọc cả đêm. Những chuyến kinh lược không rềnh ràng nghi lễ,
được bù đắp bởi tình thân của dân nghèo. Hết ba
chuyến thăm viếng, giáo dân Bulgarie đã gọi Ðức Cha
Roncalli là Diado, một từ thân mật giống như "ông
nội" hoặc "bố già". Qua một mùa hè, Diado
đã thăm hết mọi địa sở Công Giáo. Thăm xong mọi
địa sở, phải tính tới việc bổ túc ban lãnh đạo.
Vị Giám Mục lãnh đạo cộng đồng Công Giáo theo nghi
lễ Ðông Phương qua đời đã cả năm. Ðức Cha Roncalli
đề nghị một danh sách ứng cử viên, kèm theo nhận
xét riêng là nên chọn vị trẻ tuổi nhất và có khả
năng nhất: không ai khác ngoài cha Kurtev, vị Linh Mục
đã đón tiếp Ðức Cha trú ngụ trong nhà mình, cũng
là người đã tháp tùng Diado khắp các nơi thâm sơn
cùng cốc Bulgarie. Ngày 5.12.1926, cha Kurtev được tấn
phong long trọng ở Roma, Ðức Cha Roncalli có mặt. Rồi nào lập trường học, xây Nhà Thờ, giải
quyết các vụ hôn nhân khác tôn giáo và nhất là
hướng dẫn hàng Giáo Sĩ. Bởi vì hàng Giáo Sĩ
vướng vít với lắm vấn đề nội bộ, với những
thói quen trong bốn bức tường Nhà Thờ, lắm khi cũng
sa đà vào những chuyện lẩn thẩn, những cạnh tranh
phân bì vô lý, cần phải khắc phục bằng nỗ lực về
nguồn tâm linh, gây dựng tinh thần đoàn kết liên
đới, và coi trọngï vấn đề chiêu mộ và đào tạo.
Ðức Cha Roncalli cố gắng mở được hai Chủng Viện.
Các Dòng Tu Nam Nữ đang phát triển ở Bulgarie cũng
được Ðức Cha dành cho khá nhiều thì giờ. Paul Dreyfus viết: "Một mối quan tâm hàng đầu
của Ðức Cha là tạo quan hệ với anh em Chính Thống
Giáo. Xin yết kiến Thượng Hội Ðồng Chính Thống mất
bốn tháng mới được nhận lời, mà không phải
Ðức Thượng Phụ Stéphan tiếp, mà chỉ là vị phó
chủ tịch Hội Ðồng. Xem ra bên Chính Thống cố tình
không tỏ ra mặn mà. Ðức Cha Roncalli vẫn nhẫn nại đi
từng bước một. Ngài phát hiện vẻ huy hoàng của
Phụng Vụ Chính Thống. Ngài cũng thấy rõ ngoài vấn
đề quyền bính tối thượng của Ðức Giáo Hoàng ra,
thì có rất ít vấn đề thật sự ngăn cách người
Công Giáo với người Chính Thống: đôi bên cùng hết
lòng sùng kính Thánh Thể, cùng rất mực mến yêu
Ðức Mẹ; và một điểm nổi trội của linh đạo Chính
Thống: rất nhạy cảm với mầu nhiệm Chúa Thánh Thần. Sống bên Giáo Hội Chính Thống, Ðức Cha quan sát
các Linh Mục Ðông Phương, có vợ, có con, nặng gánh
gia đình, vất vả với những vấn đề vật chất. Sự
thể này như củng cố thêm tính xác đáng của luật
độc thân nơi hàng Giáo Sĩ Phương Tây. Nhưng mặt khác,
Ðức Cha thành thực thán phục sinh chứng Ðức Tin nơi
những Giáo Sĩ nghèo khổ lận đận ấy. Với lại còn
những Ðan Viện lớn nơi rừng núi, ở đấy, ngọn
lửa Ðức Tin cháy bừng bừng. Ðức Cha quan sát, lắng nghe, nghiên cứu. Ngài
thường nói: ‘Rất ít người có cơ may nghiên cứu
Phương Ðông ở Phương Ðông’. Ngài đã học được
sự tôn trọng xác tín của người khác. Nghi thức và
truyền thống địa phương có khác nhau, nhưng đó mới
chỉ là bề mặt. Ở trong chiều sâu tâm linh, Ðức Tin
vẫn là một nền tảng vững vàng duy nhất. Ngài đang
mở rộng cõi lòng..." Việc này nối tiếp việc kia. Chức vụ Kinh Lược
tưởng là tạm thời cứ thế kéo dài ra. Ðức Cha
Roncalli cũng chẳng ở nhờ nhà Ðức Cha Kurtev nữa.
Năm 1929, ngài được Toà Thánh giúp đỡ, đã mua
được một căn nhà rộng lớn với hai tầng lầu, và
năm 1931 được cử làm Khâm Mạng Toà Thánh. Bề ngoài Ðức Cha Roncalli lúc nào cũng tươi cười,
trong lòng thì vẫn thanh thản. Có điều chẳng có thành
tích gì rực rỡ. Không biết ngài có mộng tưởng gì
cao sâu chăng, nếu có hẳn là phải thất vọng. Ðức
Cha viết cho một người bạn: "Tôi có mang một phẩm tước mà tôi không
xứng đáng được mang và tôi có một quyền Thánh
Chức mà bất cứ Linh Mục nào cũng thi hành, nhưng
tôi thì không bao giờ, họa hoằn mới có dịp thuyết
pháp; không bao giờ giải tội. Tôi bây giờ ở trong
một ngôi nhà đẹp mà suốt ngày chỉ bận bịu với
chiếc máy chữ, hoặc là thảo luận những chuyện chán
ngấy, giữa nhiều khó khăn và gai nhọn; giữa những
người thuộc về Chúa Giê-su Ki-tô về lẽ ra thì thuộc
Giáo Hội Công Giáo, nhưng họ không có một tân thức
nào về Chúa Ki-tô về lại càng không có một tâm
thức nào về Giáo Hội; lúc nào tôi cũng giao tiếp
với những người gọi là ông to bà lớn của thế
gian này, nhưng khi đụng đến cõi siêu nhiên lại cảm
thấy tê tái vì tinh thần họ sao mà hẹp hòi... Tôi
cẩn thận chuẩn bị cho những biến cố tưởng là sẽ
phát sinh ra bao nhiêu điều lành, nhưng rốt cuộc chỉ
chứng kiến sự mong manh của mọi điều lòng người hy
vọng". Một người nuôi chí nguyện Tông Ðồ lại cứ phải
tiến lui ứng phó với chính trị thế gian, làm sao khỏi
cảm thấy so le ? Người làm tôn giáo với người làm
việc đời, thường đánh giá khác nhau về vấn đề
thế nào là hẹp hòi, thế nào là quảng kiến. Ở
giữa thế gian mà không thuộc về thế gian, là một tư
thế khó chịu. Vua Boris vốn gốc Công Giáo đã bỏ theo đạo Chính
Thống khi làm vua Bulgarie. Sau đó nhà vua cưới một bà
công chúa người Ýù làm hoàng hậu. Vừa làm lễ
cưới Công Giáo xong, nhà vua đưa hoàng hậu về nước
quy thuận Giáo Hội Chính Thống. Ðến khi sinh được một
công chúa, nhà vua làm ngược lại điều đã hứa
với Giáo Hội Công Giáo, lại làm Phép Rửa cho con
trong Giáo Hội Chính Thống. Ðức Cha Roncalli không can dự vào vụ việc này. Mọi
sự thương thảo đều diễn ra bên Ý. Tuy nhiên, đến
khi câu chuyện vỡ lở thì ở Vatican cũng bắt đầu
có những tiếng bấc tiếng chì đối với vị đại diện
Toà Thánh ở Sofia - Ðức Pi-ô 11 dư biết Ðức Cha
Roncalli chẳng có chút tín nhiệm nào trong vụ ôi át
này. Có điều Ðức Cha không che dấu sự bực dọc.
Toà Thánh rất cứng rắn trong vấn đề hôn nhân khác
tôn giáo. Ðức Cha Roncalli chỉ còn cách hết sức khéo
léo để tránh một vụ đoạn giao giữa Bulgarie với
Vatican. Nhưng nếu những "khó khăn" và "gai nhọn"
là những việc như vậy, có lẽ là chuyện thường
tình. Nhưng Ðức Cha Roncalli còn ghi mấy hàng sau đây
trong sổ tay năm 1926: "Dự đoán cũng dễ thôi,
sứ vụ của tôi nhiều nỗi gian khổ. Nhưng điều lạ
thường là những gian khổ không do người Bulgarie, là
những người dốc sức phục vụ, mà do các cơ quan
trung ương quản trị Giáo Hội. Tôi không ngờ lại phải
thất vọng và bị hất hủi từ phía đó, khiến cho tôi
đau khổ nhiều". Ðức Cha không nói cụ thể đó là những vụ việc
gì. Chỉ biết rằng khi đó ngài đang lệ thuộc ba cơ quan
trung ương: trước tiên là bộ các Giáo Hội Ðông
Phương; tiếp đó là phủ Quốc Vụ Khanh, vì tuy trong
nhiều năm, ngài không có chức vụ chính thức về
ngoại giao, nhưng trong thực tế, vẫn phải đảm nhiệm
một sốù công tác ngoại giao; sau nữa ngài phải thi
hành các chỉ thị của bộ Truyền Bá Ðức Tin. Các cơ quan trung ương của Toà Thánh nhiều khi cứng
nhắc, áp dụng các nguyên tắc một cách máy móc. Còn
Ðức Cha Roncalli thì sống rất hồn nhiên, rất gần với
những cảnh ngộ cụ thể của con người. Rất có thể
đó là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu thông cảm
của cấp trên. Những lời sau đây trong "Nhật Ký Tâm Hồn"
phải chăng phản ảnh những căng thẳng đó: "Mọi
kiểu thiếu tin tưởng, mọi cách đối xử thiếu lễ
độ đối với bất kỳ ai, mọi thô bạo, mọi phán
đoán thiếu suy nghĩ đều làm cho tôi buồn phiền và
đau đớn trong tâm hồn. Tôi im lặng, nhưng lòng tôi
rớm máu". Hình như có sự tương khắc giữa nội tâm Ðức Cha
với thế giới bên ngoài. Bên ngoài cả phần đạo
lẫn phần đời, là một thế giới cứng cỏi, dệt
bằng những tính toán vô hồn, những nước cờ ăn
thua nhau, những thống kê và tương quan lực lượng.
Dù muốn dù không, để chu toàn nhiệm vụ của mình,
Ðức Cha Roncalli phải tỉnh táo len lỏi giữa những
phòng tuyến đó của thế gian. Nhưng trong thâm tâm còn
một con người khác, đang khát khao tìm kiếm một cõi
nhân gian khác. Ở đây, dòng suối mát Tin Mừng là
một mạch nước ngầm, tưới nhuần một cõi riêng tư
đơn sơ, trong sáng và khiêm tốn. Năm 1927, song thân Ngài mừng Kim Khánh Hôn Nhân,
bức thư Ðức Cha Roncalli gửi về nhà phản ánh tinh
thần đó: "Con xin hết lòng cảm tạ Chúa: vì
không những Chúa đã giữ gìn cha mẹ được khoẻ
mạnh trong suốt 50 năm qua, nhưng còn vì cả gia đình ta
vẫn giữ được tinh thần đơn sơ mộc mạc, nghèo mà
coi cái nghèo là một vinh dự, chứ không phải là
một gánh nặng, và luôn biết kính sợ Chúa; trước
mặt thế gian thường không làm bộ làm tịch, đó vừa
là nguyên nhân để được thanh thản bình an suốt cuộc
đời này, vừa là đảm bảo cho niềm vui vĩnh cửu
đời sau. Con lấy làm mừng vì các con của cha mẹ đều
quyết tâm không thay đổi cung cách sống, và đến
lượt chúng con lại chủ trương dưỡng dục con cháu
như cha mẹ đã dưỡng dục chúng con". Nhờ tấm lòng thanh thản bình an ấy, Ðức Cha Roncalli
dù gặp "khó khăn" và "gai nhọn",
vẫn không oán than, không cay cú. Cha viết cho người
chị ruột Ancilla: "Ngày lại ngày, em vẫn tiếp tục
gieo những hạt giống nhỏ. Khi đến thời đến buổi,
hoặc em hoặc người khác sẽ hái được trái chín".
Những ngày tháng qua đi, có vẻ như cây mọc chậm,
biết đến bao giờ trái chín. Nếu có trái, chắc chắn
người khác hái, chứ không phải Ðức Cha Roncalli. Năm 1931, tĩnh tâm trên bờ biển Bujukada, Ðức Cha ghi
lại: "Tôi đã ở vào tuổi năm mươi. Vậy là
đứng bóng rồi, về già rồi: biết đâu giờ chết
đã gần. Một nửa thế kỷ trên đời, được ơn gọi
làm Linh Mục, tôi có làm được gì nhiều đâu...
nhưng tôi nhìn về tương lai trong binh an, thanh tĩnh, và tin
tưởng". Năm 1932, một lời tâm sự: "Giám Mục hay Linh
Mục, mà rốt cuộc chỉ làm công việc ngoại giao và
làm công việc bàn giấy, ôi cuộc đời mới tội
nghiệp là sao !" Năm 1934, viết thư cho một người bạn đang rất buồn
phiền vì nhiệm sở Giám Mục giao cho: "Anh tưởng
tôi cũng thích ở đây lắm sao, sống mãi ở Bulgarie
thế này sao? Nhưng tôi vui lòng ở lại, bởi vì đó
là ý Chúa đối với tôi; ngoài ý Chúa, ở đâu
cũng là khốn khổ; còn với ý Chúa, tôi được
hưởng một niềm bình an bao người thèm khát mà không
có được, tôi sẽ không đánh đổi bình an ấy lấy
bất cứ sự thăng quan tiến chức nào, dù cho vẻ vang
nhất trên đời đi nữa. Ðây là dấu chỉ rằng Chúa
rất thích dẫn đưa ta để ta làm một cái gí đó khác
hẳn với cái ta tưởng ta làm được". Và trong nhật ký: "Khi tôi tự hỏi mình tôi
phải làm gì để đẹp lòng Chúa hơn nữa và để nên
thánh, tôi không nghe thấy câu trả lời nào khác câu
này: hãy tiếp tục sống trong sự vâng lời, như bây
giờ, hãy làm công việc bình thường, ngày lại ngày,
đừng bồn chồn, đừng lập dị, nhưng hãy luôn uớc ao
được sốt sắng hơn, hoàn thiện hơn". Ðức Cha
viết cho người em ruột Giovanni: "Càng sống anh
càng xác tín rằng lý tưởng là ta chỉ có những gì
cần thiết cho ngày hôm nay, và chỉ lo lắng cho những
điều nhu yếu mà thôi" Ngày 30.3.1935, trong một thư khác gởi về gia đình,
Ðức Cha giải thích: "Tôi có được tinh thần an
nhiên như thế trong tay Chúa quan phòng một phần là do
đã sinh ra ở nông thôn, trong một gia đình nghèo tiền
của, nhưng giàu Ðức Tin và giàu lòng kính sợ Chúa,
quen sống đơn giản với thiên nhiên từng ngày, từ
năm này qua năm khác". Ta có thể tìm thấy rất nhiều những lời lẽ tương
tự trong bút tích của Ðức Cha Roncalli, và sau
này, của Ðức Giáo Hoàng Gio-an 23. Tư tưởng của
ngài có thể cô đọng trong một câu: "Chúa muốn
được mang danh là Chúa của người nghèo". Và
thế là Ðức Cha sống một cuộc đời tương đối trầm
lặng, và nhẫn nhục suốt 9 năm ở Bulgarie. Tháng 11 năm 1934, Ðức Cha Roncalli về Roma và được
Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 11 tiếp kiến. Ngày 17, ngài
được tin Tòa Thánh giao cho ngài nhiệm vụ làm Khâm
sứ Tòa Thánh ở Thổ-nhĩ-kỳ và Hy-lạp. Tháng 12,
Ðức Cha trở lại Bulgarie để viếng thăm từ giã các
nơi đã từng phục vụ. Trong thời gian ngài ở Bulgarie, với thành quả bị
đánh giá là không mấy xuất sắc, ấn tượng sâu
đậm nhất ngài để lại cho đất nước này không
phải là những vụ việc lỉnh kỉnh về ngoại giao hay
quản trị nội bộ Giáo Hội, nhưng là một thái độ
gần gũi với những con người bình thường. Người ta
còn nhớ vụ động đất năm 1928, chấn tâm ở gần
Plodiv, thành phố lớn thứ nhì ở Bulgarie. Nhiều nạn
nhân, và thiệt hại rất nặng nề, cảnh tượng thật
điêu linh. Ðức Cha Roncalli đã vội vã đến nơi bị
tàn phá nhất, làng Cirpan, để chứng kiến tận mắt
thảm cảnh. Rồi ngài hối hả báo động với Vatican,
yêu cầu viện trợ khẩn cấp. Ba ngày sau, Tòa Thánh mở cho ngài nguồn kinh phí.
Ðức Cha Roncalli trở lại những nơi họa tai. Người ta
còn sợ những dư chấn, đêm đêm mọi người ngủ
ngoài trời. Ðức Cha Roncalli cũng màn trời chiếu
đất như mọi người. Suốt từ tháng 4 đến tháng 7,
ngài có mặt ở khắp nơi, mở những "quán ăn
của Ðức Giáo Hoàng", cung cấp lương thực miễn
phí cho nạn dân. Tháng 7 hết tiền, ngài về tận Roma
vận động để cứu giúp những người nghèo khổ
nhất. Cũng kiếm được đủ để cứu trợ trong tháng
8... Từ cơn tai biến này về sau, người Bulgarie coi
Ðức Cha Roncalli như bạn thân, và như một người tín
cẩn. Noel 1934, Ðức Cha Roncalli thuyết giảng lần cuối cùng
ở Bulgarie trong Nhà Nguyện của Dòng Capucino. Sau khi đã
kêu gọi các anh em ly cách, Ðức Cha kết luận: "Sau
này, bất luận tôi phải đi đâu trên thế gian này,
nếu ban đêm có người Bulgarie nào lâm cảnh vất
vưởng đi qua trước nhà tôi, người ấy sẽ thấy
trên cửa sổ tôi một ngọn đèn thắp sáng. Xin hãy
gõ, hãy gõ cửa! Tôi sẽ không hỏi người anh em
Bulgarie ấy có phải người Công Giáo hay không, xin cứ
vào! Một vòng tay huynh đệ sẽ tiếp nhận, một tình
bạn nồng hậu sẽ đón mừng người anh em". Ngày 3.1.1935, vua Boris tặng Ðức Cha Roncalli huân
chương cao quý nhất của vương quốc Bulgarie, và hai món
quà kỷ niệm: một chân dung nhà vua trong khung ảnh bạc,
nói lên quan hệ cá nhân thân tình và một cây Thánh
Giá, xuất phát từ danh sơn Athos của Chính Thống Giáo,
như bảo chứng của một chân lý và một lòng mến
chung vẫn tồn tại bất chấp những nghịch cảnh lịch sử. Ngày 4.1, tuyết rơi dày đặc. Ðức Cha Roncalli lên xe
lửa đi Istanbul, Thổ-nhĩ-kỳ, nhận nhiệm sở mới... (còn tiếp) Trích từ Ephata Việt Nam 98 & 99 Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |