KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICAN II
NHỚ VỀ ÐỨC GIÁO HOÀNG
GIO-AN XXIII 

(Kỳ 8)

Lm. Vũ Khởi Phụng, C.Ss.R.

Cha Roncalli miệt mài phục vụ công trình truyền giáo mà Ðức Pi-ô 11 ước ao phát huy trên toàn thế giới. Nhưng thế giới là chốn mà nhiều cao vọng trái ngược đương đầu với nhau, quần thảo không bao giờ dứt. Cha còn đang nhắm về một tương lai rực sáng Ðức Tin vào Chúa, thì những nhân tố trái ngược đã bắt đầu manh nha. Ở nước Ý, có một người còn thua cha hai tuổi, nhưng đã bắt đầu gây ra đảo lộn, và với thời gian, những đảo lộn đó đã sinh trái độc: Benito Mussolini (1883 - 1945) đang nổi lên như một lãnh tụ chọc trời khuấy nước, có thể xóa sạch hình thái chính trị cũ, và mở ra một chính cuộc hoàn toàn mới.

Chính quyền ở Ý, từ ngày thống nhất đất nước năm 1870, chưa bao giờ là một chính quyền vững mạnh. Sau cuộc Ðại Chiến, nó lại càng suy yếu. Bất công xã hội, tham nhũng, phe đảng, chênh lệch giàu nghèo gây bất bình trong nhân dân. Tháng 3.1919, Mussolini tập họp một số cựu binh, lập ra "Ðoàn sơ-mi đen", tức là Ðảng Phát-xít, chủ trương: Thiết lập nền Cộng Hòa, phế bỏ chế độ quân dịch và các tước vị quý tộc, quy định mức lương tối thiểu, ruộng đất về tay nông dân... Không chỉ hô hào và tuyên truyền, Ðảng Phát-xít dùng cả bạo lực để tấn công các đảng phái khác vốn đã mất uy tín. Ngày 28.10.1922, 50.000 đảng viên mặc sơ-mi đen có vũ trang tiến về thủ đô Roma, không gặp một cản trở nào. Nhà vua buộc phải cử Mussolini làm thủ tướng.

Nắm được chính quyền rồi, một mặt Mussolini kích động quần chúng, mặt khác thẳng tay đàn áp những người chống đối, kể cả bằng bạo lực, chém giết, thủ tiêu. Kể từ 1921, một chế độ độc tài đã được thiết lập tại Ý. Mussolini tự xưng mình là người lãnh đạo dân tộc. Tuy là người vô thần, ông rất muốn lấy lòng Giáo Hội Công Giáo, khác với chế độ cũ được thiết lập trên sự tước đoạt quốc thổ của Ðức Giáo Hoàng, và do đó luôn ở vào thế căng thẳng đối với Tòa Thánh (mâu thuẫn giữa Tòa Thánh và nhà nước Ý sẽ được giải quyết vào năm 1929, với Thỏa Ước Laterano công nhận quốc gia Vatican).

Nhiều người Công Giáo còn buồn phiền vì những xung đột và thiệt thòi dưới chế độ cũ, cùng những ngang trái nhiễu nhương trong xã hội, đã không che dấu thiện cảm với chế độ của Mussolini. Cha Roncalli không đồng ý. Cha giải thích: "Vì chức vụ tôi đang nắm giữ ở Tòa Thánh, tôi không thể và không được bày tỏ lập trường công khai bằng bất cứ hình thức nào... Nhưng theo lương tâm, với tư cách là Ki-tô hữu và là Linh Mục, tôi không thể nào bỏ phiếu cho Ðảng Phát-xít... Tôi chỉ biết chắc một điều: Nước Ý không thể nào được cứu vãn nhờ tay Mussolini. Mặc dù ông ấy là người khôn khéo. Mục đích ông ấy theo đuổi có lẽ là tốt lành và chính trực. Nhưng những phương thế mà ông ấy sử dụng thì gian tà và nghịch quy luật Tin Mừng".

Cục diện ở Ý, ở các xứ truyền giáo và mọi nơi khác, biến chuyển như vũ bão. Và giữa vũ bão như thế, người đồ đệ Chúa, với tất cả tăm tối và yếu đuối của mình, phải gieo hạt giống nhỏ li ti, hạt giống nhẹ tênh vô hình của Tin Mừng. Rồi ra gió bão lịch sử qua đi, sẽ nghiệm thấy cái gì nổi, cái gì chìm, cái mất, cái còn.

Cha Roncalli không chỉ phục vụ cho cái khó nghèo của Tin Mừng, bản thân cha cũng là một người nghèo, hiểu theo nghĩa cụ thể nhất. Xuất thân từ gia đình bần nông, có đất có ruộng nhưng cũng có quá nhiều miệng ăn, ngoài Ðức Tin trong sáng, cha chẳng thừa hưởng được gì nhiều. Hồi chịu chức Linh Mục năm 1904, cha phải vay nợ mới may nổi một chiếc áo thâm chùng và mua nổi một đôi giày tử tế, cùng với "vài món lặt vặt thôi nhưng cần thiết". 15 năm, 20 năm qua, Linh Mục trẻ nay đã đứng tuổi và có chức vụ tương đối quan trọng, nhưng khả năng vật chất không cải thiện được nhiều; không đến nỗi nghèo khổ, nhưng chỉ vừa đủ cho một nếp sống đạm bạc. Là vì gánh gia đình quá nặng.

Là người con thứ tư trong một gia đình 13 anh chị em, một người em gái mất sớm, cha phải nuôi hai chị em gái, hai em trai đông con. Hai chị em gái cũng nặng gánh gia đình, một em trai độc thân và mù lòa, cha mẹ già yếu, mùa màng năm được năm mất, ngoài cửa thì lúc nào cũng có nhiều người nghèo xin giúp đỡ, chức vụ quan trọng thì cũng nhiều khoản phải chi tiêu. Tóm lại, không đạm bạc thì không sao đương nổi.

Ðược cái cha Roncalli đúng là một người "an bần lạc đạo". Trong một bức thư gửi cho cụ thân sinh, cha viết: "Con sẽ không bao giờ giàu đâu. Linh Mục mà lợi dụng chức vụ của mình để làm giàu thì có mà xuống hỏa ngục !" (19.11.1924)

Với các chị em gái, cha viết: "Cái nghèo đã ôm choàng lấy tôi từ ngày còn bé và cho đến tận bây giờ nó vẫn không buông tay... Ta chẳng nên phàn nàn làm gì, bởi vì nếu ta biết nhẫn nại chịu đựng khó nghèo, ta sẽ giống Ðức Giê-su Ki-tô hơn và bảo đảm hơn đường lên Thiên Ðàng. Vả lại, dù ta có gặp khó khăn, nhưng sẽ chẳng bao giờ thiếu thốn những điều nhu yếu. Với lại chị em thấy đấy, nhiều tiền lắm của cũng chẳng làm cho người ta và các gia đình hạnh phúc hơn" (26.6.1926).

Trong Nhật Ký Tâm Hồn, cha viết: "Tôi sinh ra đã nghèo, tôi phải chết nghèo, và tôi muốn thế. Tôi xác tín rằng, cũng như đã xảy ra trong quá khứ, khi đến giờ Chúa Quan Phòng sẽ không để tôi thiếu thốn những điều nhu yếu, nhưng sẽ ban cho tôi những gì tôi cần và thậm chí còn nhiều hơn thế nữa. Vô phúc cho tôi nếu tôi gắn bó với của cải thế gian, dù chỉ mảy may".

Hồi 1921, cha Roncalli về thăm quê đã mặc áo tím. Bà con trong làng đến hỏi thăm bà cụ thân sinh: "Cha nhà lên Giám Mục hồi nào mà chúng tôi không biết?" Thật ra cha không phải là Giám Mục. Tòa Thánh vẫn có thói quen tạo uy tín cho một số Giáo Sĩ bằng những màu mè bên ngoài. Tước vị của cha Roncalli là "Ðức Ông" (Monsignore).

Nhưng rồi ngày phải làm Giám Mục cũng đến. Ðức Pi-ô 11 đang tìm người đề cử làm Kinh Lược ở Bulgarie, một đất nước mà tuyệt đại đa số nhân dân theo Chính Thống Giáo. Ðảm nhiệm được chức vụ này phải là một người tế nhị, mềm dẻo, xuề xòa, nhưng khi cần, lại phải có bản lĩnh. Ðức Thánh Cha để ý đến cha Roncalli. Trong thời gian phục vụ ở Bộ Truyền Bá Ðức Tin, cha đã tỏ ra là người có khả năng, biết tổ chức, mà đồng thời vẫn tươi cười, khéo léo, ngoại giao...

Ngày 17.1.1925, Ðức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Gasparri cho gọi cha Roncalli để thông báo quyết định. Người đứng đầu ngành ngoại giao của Vatican giải thích về mục đích yêu cầu. Cha Roncalli mỉm cười: "Cứ như là Thánh Giu-se vậy !" Vị Hồng Y bỡ ngỡ... "Vâng, thưa Ðức Hồng Y, đúng là như thế. Cần phải đại diện Chúa, nhưng đôi khi cũng phải dấu Chúa đi để dọn đường cho người ta đón tiếp Chúa tốt hơn. Lại cũng phải biết thinh lặng, nói năng mực thước, tận tụy phục vụ, bất kể việc vẻ vang hay mờ nhạt. Dù có phải ngậm bồ hòn vẫn phải ngọt ngào... và vâng lời kể cả khi không hiểu".

Về một phương diện nào đó, chức vụ Kinh Lược ở Bulgarie là một trọng trách tiên phong, về một phương diện khác lại giống như bị phát lưu đến một vùng biên ải xa vắng và nghèo xác xơ. Ðối với bản thân cha Roncalli, đó là bắt đầu một con đường mới sẽ có ảnh hưởng lớn sau này.

Nhìn lại lịch sử sẽ giúp ta hiểu vì sao lại như thế. Năm 1054 là một năm bất hạnh đối với Giáo Hội. Ðó là thời điểm Roma và Tòa Thượng Phụ Constantinopolis đoạn giao với nhau. Có thể nghĩ sẽ hàn gắn như đã xảy ra vài lần trước đó. Không ngờ kéo dài 9 thế kỷ, cho tới ngày nay vẫn chưa giải quyết thỏa đáng mọi vấn đề. Mặc dù Công Ðồng Vatican 2 do Ðức Gio-an 23 triệu tập đánh dấu một bước tiến rất lớn trên đường hiệp nhất, Giáo Hội của Chúa Ki-tô vẫn chia thành Công Giáo và Chính Thống Giáo.

Nghĩ như về mặt tín lý, sự khác biệt không trầm trọng đến nỗi phải chia tay nhau, nhưng nhiều nhân tố thế gian đã xen vào, làm cho vấn đề bị nhiễm độc, sinh ra nhiều di chứng. Thời đó, về mặt chính trị và văn hóa, Roma và Tây Âu nói chung, đã suy yếu rất nhiều so với xưa kia, còn Constantinopolis đang là một Trung Tâm chính trị và văn minh, văn hóa to lớn của thế giới Ki-tô giáo. Tâm lý Phương Ðông, Phương Tây có nhiều nét dị biệt, tương khắc. Tâm tính cá nhân của những người lãnh đạo khiến cho những mâu thuẫn đã không được giải tỏa mà ngày càng chồng chất thêm. Thời gian đã khiến cho đôi bên cứ xa cách thêm mãi. Rồi chính trị cũng xen vào, chia ra những vùng ảnh hưởng đối nghịch. Nhiều biến cố thảm hại, đặc biệt là cuộc Thập Tự Chinh thứ 2, càng đổ dầu vào lửa.

Người Việt ta nói: "Thương nhau trái ấu cũng tròn, ghét nhau trái bồ hòn cũng méo". Dần dần Chính Thống Giáo với Công Giáo nhìn nhau thấy cái gì cũng méo cả. Có một số ít nhà tư tưởng, nhà nghiên cứu nhận ra những giá trị cũng hai bên. Trong thực tế, quan hệ đôi bên chủ yếu là bài xích nhau, không tìm được tiếng nói chung. Mỗi bên đều có những kho báu tâm linh mà bên kia vô tình hay cố ý không muốn đếm xỉa. Ðến một ngày khi Ðức Gio-an 23 nói: "Những điểm chúng ta đồng tâm nhất trí với nhau thì nhiều hơn và căn bản hơn những điều mâu thuẫn với nhau", hoặc khi người kế vị Ðức Gio-an 23 là Ðức Phao-lô 6 quỳ xuống hôn chân một vị Giám Mục Chính Thống Giáo để rồi sau đó hai bên cùng đốt Sắc Lệnh Tuyệt Thông lẫn nhau năm 1054, hoặc khi Ðức Gio-an Phao-lô 2 nói: "Giáo Hội phải thở bằng cả hai lá phổi Ðông và Tây..." thì ta mới đo lường được Giáo Hội hai bên đã tiến được một đoạn đường dài đến thế nào trong thế kỷ 20 mặc dù khó khăn còn nhiều...

Vào năm 1925, chưa thể đạt được những kết quả như thế. Nhưng Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 11 vẫn muốn mở lại những đường liên lạc với thế giới Chính Thống Giáo. Giáo Hội Chính Thống lớn nhất bây giờ không phải là Constantinopolis nữa. Từ thế kỷ 15, chế độ ở Constantinopolis đã sụp đổ dưới sức tấn công của các đạo quân Hồi Giáo. Constantinopolis nay là Istanbul của Thổ-nhĩ-kỳ, một đất nước theo Hồi Giáo. Tín hữu Chính Thống chỉ còn một nhóm nhỏ. Tòa Thượng Phụ Constantinopolis về danh nghĩa vẫn là đệ nhất Tòa Chính Thống Giáo, nhưng Giáo Hội Chính Thống lớn nhất, đông nhất bây giờ nằm ở nước Nga, thuộc quyền Tòa Thượng Phụ Moskva.

Nhưng nước Nga bây giờ là Liên Xô. Lénin vừa qua đời, Stalin đang nắm quyền bính. Tòa Thánh không có cách gì đặt chân tới đó được. Nhưng ở các vùng Balkans Ðông Âu thì may ra... Năm 1923, một nhà ngoại giao Bulgarie, Cristo Kalkov, sau này sẽ làm ngoại trưởng kiêm bộ trưởng tôn giáo vụ, đã hội kiến với Ðức Giáo Hoàng và Hồng Y Quốc Vụ Khanh.

Bulgarie là một nước nhỏ đã từng sống dưới quyền đô hộ của Thổ-nhĩ-kỳ 500 năm, mới chỉ dành lại được độc lập năm 1875. Không may, đến Thế Chiến thứ 2, Bulgarie lại liên minh với phe Ðức - Áo, và bại trận tơi tả, mất người, mất đất, tình cảnh xiểng liểng. Có lẽ chính vì thế phải tìm thêm bạn. Sau Thế Chiến, uy tín của Tòa Thánh lên cao lên cao ở Châu Âu.

Năm 1924, một nhân vật cao cấp của Tòa Thánh, ngài Tisserant làm Quản Thủ Thư Viện Vatican, đã đi Bulgarie tìm mua sách quý. Rất nhiều Tu Viện Chính Thống ở Nga và ở Ðông Âu đã bị tan tác vì Thế Chiến và vì Cách Mạng tháng 10 ở Nga. Nhiều sách vở vô giá của các Tu Viện đó trôi nổi lưu lạc. Không có người hiểu biết để bảo quản thì bao nhiêu tài liệu quý sẽ thành tro bụi. Sứ mạng của ngài Tisserant là một sứ mạng bác học: nhưng ngài cũng nhân cơ hội tìm hiểu tình hình của các nhóm Công Giáo thiểu số ở Bulgarie. Khi về Roma, ngài tâu với Ðức Giáo Hoàng xin cử một vị Kinh Lược của Tòa Thánh đến Bulgarie. Ðức Thánh Cha nghĩ đến cha Roncalli.

Khác với Sứ Thần Tòa Thánh, vị Kinh Lược không thuộc ngoại giao đoàn, đối với nước sở tại thì không có vị thế chính thức. Cũng như Khâm Mạng Tòa Thánh, vị Kinh Lược chỉ đến thăm rồi về, không ở lại lâu. Không ngờ chuyến kinh lược ấy làm cho cha Roncalli trụ lại và lặn lội gần 20 năm ở những vùng ngoài Công Giáo, và ngoài Ki-tô giáo, xa cách Trung Tâm Roma. Ai biết được những nẻo đường kỳ lạ của Chúa Quan Phòng?

Từ ngày 13 đến 17.3.1925, cha Roncalli tĩnh tâm để chuẩn bị được thánh phong Giám Mục. Cha suy nghĩ, chiêm niệm, cầu nguyện lâu giờ. Cha ghi lại: "Tôi sắp thành Giám Mục, vậy là thời gian chuẩn bị đã xong rồi. Không phải tôi đã tìm kiếm hay mong ước sứ vụ này, nhưng Chúa đã chọn tôi với những ý chỉ hiển nhiên đến mức nếu cưỡng lại thì tôi coi là có lỗi nặng".

Mục tiêu đời làm Giám Mục của cha có thể tóm gọn trong một câu: "Tôi sẽ là người phục vụ ơn hòa giải". Khẩu hiệu cha chọn là: "Obedientia et Pax - Vâng Lời và Bình An". Cuộc đời cha từ đấy về sau sẽ trung tín với mục tiêu và khẩu hiệu ấy. Mọi thành công và mọi phiền muộn cũng là do mục tiêu và khẩu hiệu ấy cả. Không còn nghi ngờ gì nữa, cha đã theo đuổi trọn đời ý hướng đã có từ đầu đời Giám Mục. Ðể "hòa giải", để "vâng lời và bình an" đừng chỉ là mỹ từ, thì cần rất nhiều sự khiêm tốn; muốn "hòa giải", muốn "vâng lời và bình an" phải trả giá bằng sự quên mình, để luôn luôn nhìn thấy mình nhỏ bé, nhìn thấy có cái gì đó lớn hơn, cao sang hơn mình, khiến mình tự nguyện xóa nhòa mình đi.

Ngày 19.3.1925, Lễ Thánh Giu-se, cha Roncalli chịu chức Giám Mục, trước mặt song thân và anh chị em trong gia đình. Hình như những nhân tố sẽ làm nên dung mạo tinh thần của cha luôn theo cha như bóng với hình. Cha chịu chức trong Nhà Thờ dâng kính Thánh Carlo Borromeo, trái tim của thánh nhân còn lưu giữ trong phòng thánh. Và giữa Thánh Ðường lộng lẫy xây cất bằng đá cẩm thạch nhiều mầu, trần và đỉnh cột thiếp vàng với những tượng đá trắng như bay vụt từ đất lên trời theo phong cách baroque, bàn thờ chính lại gắn hàng chữ rất lớn: "Humilitas": Khiêm Nhường!

Ngày 25.4.1925 chuyến tầu lửa Simplon Orient-Express, sơn hai màu vàng và lam đậm, tuôn khói tiến vào ga Sofia. Ðây là tuyến đường sắt dài nhất Châu Âu, khởi hành từ Luân-đôn nước Anh, đi qua Pháp, Thụy-sĩ, Ý, Serbie, Bulgarie, và dừng lại ở Thổ-nhĩ-kỳ: 3034 km. Chuyến tầu huyền thoại, đã nhiều lần đi vào văn học và điện ảnh, với những hành khách đậm đà bản sắc, những doanh nhân, chính khách, những nhà ngoại giao, văn sĩ, điệp viên, những giai nhân cùng khách giang hồ quốc tế...

Lần này, vị khách từ trên tầu Orient-Express bước xuống ga Sofia, bề ngoài không có gì để gợi hứng cho một nhà văn, hay một đạo diễn điện ảnh. Chỉ là một vị Giáo Sĩ mập tròn, hơi lùn, áo chùng thâm đơn giản. Nhưng đối với Giáo Hội Công Giáo, đây là một bước đi quan trọng: lần đầu tiên từ 700 năm nay, Ðức Giáo Hoàng mới lại có đại diện ở mảnh đất hầu như toàn tòng Chính Thống Giáo này. Ðức Cha Roncalli chỉ có một cộng tác viên duy nhất, ngài đã chọn làm thư ký: cha Constantin Bosschaerts, vị Tu Sĩ Dòng Biển-đức người Bỉ này ôm ấp một hoài bão là làm sao lập được một Ðan Viện Công Giáo ở Bulgarie, chuyên tâm lập quan hệ với bên Chính Thống. Ý hướng đại kết đã lộ diện từ lúc này.

Nhưng lúc này thậm chí một ngôi nhà riêng cho vị Kinh Lược cũng chẳng có. Ðức Cha Roncalli tạm thời ở nhờ ngôi nhà nhỏ bé của Linh Mục Kurtev. Tuy không có tư cách ngoại giao, nhưng nhiệm vụ thì công khai, cho nên việc đầu tiên của Ðức Cha là gửi điện văn kính chào và trình diện tới quốc vương Boris 3 và vị bộ trưởng ngoại giao. Việc thứ hai là bắt đầu học tiếng Bulgarie, và học cả chữ viết theo mẫu tự Kyrillo.

Ðức Cha Roncalli nhận nhiệm vụ ở Bulgarie vào một thời đất nước này đang khủng hoảng nghiêm trọng. Vua Boris 3, năm ấy 30 tuổi, cũng muốn phục hưng đất nước sau thảm họa Thế Chiến thứ nhất. Nhưng trong những chế độ phong kiến suy tàn, tầng lớp lãnh đạo và nhân dân không có tiếng nói chung. Những quyền lợi chồng chéo tạo ra những ngăn cách khó lòng dẹp bỏ. Nhân dân khốn khổ vì nghèo đói và bất công. Tầng lớp lãnh đạo dựa vào các thị dân rủng rỉnh giàu sang làm gia tăng mâu thuẫn xã hội. Chế độ đối phó bằng những diễn văn sáo rỗng, duyệt binh rầm rộ để phô trương lực lượng thị uy, nhưng kinh tế thì bết bát lụn bại. Các vấn đề không tìm được lối thoát thỏa đáng thì dễ nảy sinh bạo lực. Những người bất mãn dùng đến hạ sách khủng bố. Giới lãnh đạo trả đũa bằng đàn áp gắt gao. Số người bị bắt giam, thậm chí bị tử hình, tăng lên.

Hai tuần trước khi Ðức Cha Roncalli đến Bulgarie, tình hình rất bi thảm. Vua Boris đi săn trên miền rừng núi, bị ám sát hụt ngày 13 tháng 4. Chín nghi can bị bắt ngay và treo cổ. Ðáp lại, phe âm mưu giết vua lại hạ sát tướng Constantin Gheorghiev ngày 14 tháng 4. Ngày 16 tháng 4 làm lễ quốc táng cho ông tướng ỏ Nhà Thờ cổ Svata Nedala. Phe âm mưu cho rằng nhà vua về dự Lễ, liền đặt chất nổ dưới chân vòm lớn. Giữa cuộc Lễ, cả mái vòm lớn nổ tung và sập xuống, hơn một trăm người chết và khoảng một nghìn người bị thương.

Hoạt động đầu tiên của Ðức Cha Roncalli là xin được đi thăm viếng những người bị thương. Ðịa bàn đầu tiên của ngài là các bệnh viện ở Sofia. Lấy lòng nhân đạo làm đầu. Bởi về mặt tôn giáo thì còn khó khăn. Tờ báo Tzaken Vestruk, cơ qua phát ngôn chính thức của Giáo Hội Chính Thống, không dấu vẻ hằn học đối với sự có mặt của vị Kinh Lược Công Giáo trên đất nước Bulgarie. Ðức Cha Roncalli lẳng lặng chịu đựng mối ác cảm. Ngài hy vọng thái độ an vui hòa nhã và tinh thần cởi mở sẽ gỡ bỏ dần các chống đối.

Trước mắt hãy tập trung vào nhiệm vụ chính, là thăm viếng và săn sóc cho thiểu số Công Giáo. Cả nước Bulgarie, Công Giáo chỉ có khoảng 60 nghìn người, trong số đó 50 nghìn theo nghi lễ La-tinh. Người Công Giáo theo nghi lễ Ðông Phương hồi giữa thế kỷ 19 có 60 nghìn, nhưng bị đế chế Nga đàn áp, có khi Giám Mục bị bắt giam trong Tu Viện Chính Thống, thêm với chiến tranh loạn lạc, nay chỉ còn khoảng 10 nghìn, sống trên vùng núi hẻo lánh miền Nam.

Ðức Cha Roncalli quyết định đi thăm viếng đoàn chiên của Chúa càng sớm càng tốt. Liên tiếp có ba chuyến đi dài ngày. Lần thứ nhất, từ 20 đến 28.5, đi về miền Ðông, đến bờ Biển Ðen. Lần thứ hai từ 8 đến 26.6 về hướng Ðông Nam, đến biên giới Thổ-nhĩ-kỳ. Lần thứ ba, từ 9.7 đến 9.8, lại về miền Ðông Nam, rồi lên Ðông Bắc, đi luôn sang Roumanie, đến Bucarest. Ði đến những thành phố như Plovdiv thì không khó lắm, và Ðức Cha Roncalli đã ở lại đó mấy ngày. Nhưng Ðức Cha muốn thăm hết các Xứ Ðạo, kể cả những nơi heo hút núi rừng. Ðến những chỗ đó, làm gì có xe, có đường. Không sao, vậy thì thuê một con ngựa, hay một con lừa.

Dọc theo các thung lũng, người ta truyền miệng cho nhau: "Có đại diện Ðức Giáo Hoàng đến thăm ta". Giáo Dân tụ họp chờ đợi. Thế rồi hai con lừa lóc cóc vào làng. Khách đường xa vắt vẻo trên cỗ yên gỗ phủ da dê, mồ hôi nhễ nhại, áo dòng đen lấm bụi đường, có khi ướt nhẹp vì lừa phải lội qua suối, nhưng vị khách rất hớn hở. Ðó là Ðức Cha Kinh Lược và cha Kurtev tháp tùng. Ông từ kéo chuông. Các cô gái tặng những bó hoa tươi. Người già hôn tay. Ðức Cha làm Lễ, ban Phép Thêm Sức, giảng... Lễ xong, ngồi ăn bánh mì với phô-mai cùng với dân làng. Thỉnh thoảng có chêm một ly rượu mận, thường thì chỉ uống nước lã hoặc uống trà. Buổi tối, Ðức Cha ngủ lại trong nhà xứ, mà nhà xứ thì cũng tuềnh toàng, chả hơn gì mấy so với những nông trại bệ rạc chung quanh. Có chỗ nhà xứ cũng chẳng có, lại ra quán trọ, hai người chia nhau một phòng, chia giường với rệp, trằn trọc cả đêm.

Những chuyến kinh lược không rềnh ràng nghi lễ, được bù đắp bởi tình thân của dân nghèo. Hết ba chuyến thăm viếng, giáo dân Bulgarie đã gọi Ðức Cha Roncalli là Diado, một từ thân mật giống như "ông nội" hoặc "bố già". Qua một mùa hè, Diado đã thăm hết mọi địa sở Công Giáo. Thăm xong mọi địa sở, phải tính tới việc bổ túc ban lãnh đạo. Vị Giám Mục lãnh đạo cộng đồng Công Giáo theo nghi lễ Ðông Phương qua đời đã cả năm. Ðức Cha Roncalli đề nghị một danh sách ứng cử viên, kèm theo nhận xét riêng là nên chọn vị trẻ tuổi nhất và có khả năng nhất: không ai khác ngoài cha Kurtev, vị Linh Mục đã đón tiếp Ðức Cha trú ngụ trong nhà mình, cũng là người đã tháp tùng Diado khắp các nơi thâm sơn cùng cốc Bulgarie. Ngày 5.12.1926, cha Kurtev được tấn phong long trọng ở Roma, Ðức Cha Roncalli có mặt.

Rồi nào lập trường học, xây Nhà Thờ, giải quyết các vụ hôn nhân khác tôn giáo và nhất là hướng dẫn hàng Giáo Sĩ. Bởi vì hàng Giáo Sĩ vướng vít với lắm vấn đề nội bộ, với những thói quen trong bốn bức tường Nhà Thờ, lắm khi cũng sa đà vào những chuyện lẩn thẩn, những cạnh tranh phân bì vô lý, cần phải khắc phục bằng nỗ lực về nguồn tâm linh, gây dựng tinh thần đoàn kết liên đới, và coi trọngï vấn đề chiêu mộ và đào tạo. Ðức Cha Roncalli cố gắng mở được hai Chủng Viện. Các Dòng Tu Nam Nữ đang phát triển ở Bulgarie cũng được Ðức Cha dành cho khá nhiều thì giờ.

Paul Dreyfus viết: "Một mối quan tâm hàng đầu của Ðức Cha là tạo quan hệ với anh em Chính Thống Giáo. Xin yết kiến Thượng Hội Ðồng Chính Thống mất bốn tháng mới được nhận lời, mà không phải Ðức Thượng Phụ Stéphan tiếp, mà chỉ là vị phó chủ tịch Hội Ðồng. Xem ra bên Chính Thống cố tình không tỏ ra mặn mà. Ðức Cha Roncalli vẫn nhẫn nại đi từng bước một. Ngài phát hiện vẻ huy hoàng của Phụng Vụ Chính Thống. Ngài cũng thấy rõ ngoài vấn đề quyền bính tối thượng của Ðức Giáo Hoàng ra, thì có rất ít vấn đề thật sự ngăn cách người Công Giáo với người Chính Thống: đôi bên cùng hết lòng sùng kính Thánh Thể, cùng rất mực mến yêu Ðức Mẹ; và một điểm nổi trội của linh đạo Chính Thống: rất nhạy cảm với mầu nhiệm Chúa Thánh Thần.

Sống bên Giáo Hội Chính Thống, Ðức Cha quan sát các Linh Mục Ðông Phương, có vợ, có con, nặng gánh gia đình, vất vả với những vấn đề vật chất. Sự thể này như củng cố thêm tính xác đáng của luật độc thân nơi hàng Giáo Sĩ Phương Tây. Nhưng mặt khác, Ðức Cha thành thực thán phục sinh chứng Ðức Tin nơi những Giáo Sĩ nghèo khổ lận đận ấy. Với lại còn những Ðan Viện lớn nơi rừng núi, ở đấy, ngọn lửa Ðức Tin cháy bừng bừng.

Ðức Cha quan sát, lắng nghe, nghiên cứu. Ngài thường nói: ‘Rất ít người có cơ may nghiên cứu Phương Ðông ở Phương Ðông’. Ngài đã học được sự tôn trọng xác tín của người khác. Nghi thức và truyền thống địa phương có khác nhau, nhưng đó mới chỉ là bề mặt. Ở trong chiều sâu tâm linh, Ðức Tin vẫn là một nền tảng vững vàng duy nhất. Ngài đang mở rộng cõi lòng..."

Việc này nối tiếp việc kia. Chức vụ Kinh Lược tưởng là tạm thời cứ thế kéo dài ra. Ðức Cha Roncalli cũng chẳng ở nhờ nhà Ðức Cha Kurtev nữa. Năm 1929, ngài được Toà Thánh giúp đỡ, đã mua được một căn nhà rộng lớn với hai tầng lầu, và năm 1931 được cử làm Khâm Mạng Toà Thánh.

Bề ngoài Ðức Cha Roncalli lúc nào cũng tươi cười, trong lòng thì vẫn thanh thản. Có điều chẳng có thành tích gì rực rỡ. Không biết ngài có mộng tưởng gì cao sâu chăng, nếu có hẳn là phải thất vọng. Ðức Cha viết cho một người bạn:

"Tôi có mang một phẩm tước mà tôi không xứng đáng được mang và tôi có một quyền Thánh Chức mà bất cứ Linh Mục nào cũng thi hành, nhưng tôi thì không bao giờ, họa hoằn mới có dịp thuyết pháp; không bao giờ giải tội. Tôi bây giờ ở trong một ngôi nhà đẹp mà suốt ngày chỉ bận bịu với chiếc máy chữ, hoặc là thảo luận những chuyện chán ngấy, giữa nhiều khó khăn và gai nhọn; giữa những người thuộc về Chúa Giê-su Ki-tô về lẽ ra thì thuộc Giáo Hội Công Giáo, nhưng họ không có một tân thức nào về Chúa Ki-tô về lại càng không có một tâm thức nào về Giáo Hội; lúc nào tôi cũng giao tiếp với những người gọi là ông to bà lớn của thế gian này, nhưng khi đụng đến cõi siêu nhiên lại cảm thấy tê tái vì tinh thần họ sao mà hẹp hòi... Tôi cẩn thận chuẩn bị cho những biến cố tưởng là sẽ phát sinh ra bao nhiêu điều lành, nhưng rốt cuộc chỉ chứng kiến sự mong manh của mọi điều lòng người hy vọng".

Một người nuôi chí nguyện Tông Ðồ lại cứ phải tiến lui ứng phó với chính trị thế gian, làm sao khỏi cảm thấy so le ? Người làm tôn giáo với người làm việc đời, thường đánh giá khác nhau về vấn đề thế nào là hẹp hòi, thế nào là quảng kiến. Ở giữa thế gian mà không thuộc về thế gian, là một tư thế khó chịu.

Vua Boris vốn gốc Công Giáo đã bỏ theo đạo Chính Thống khi làm vua Bulgarie. Sau đó nhà vua cưới một bà công chúa người Ýù làm hoàng hậu. Vừa làm lễ cưới Công Giáo xong, nhà vua đưa hoàng hậu về nước quy thuận Giáo Hội Chính Thống. Ðến khi sinh được một công chúa, nhà vua làm ngược lại điều đã hứa với Giáo Hội Công Giáo, lại làm Phép Rửa cho con trong Giáo Hội Chính Thống.

Ðức Cha Roncalli không can dự vào vụ việc này. Mọi sự thương thảo đều diễn ra bên Ý. Tuy nhiên, đến khi câu chuyện vỡ lở thì ở Vatican cũng bắt đầu có những tiếng bấc tiếng chì đối với vị đại diện Toà Thánh ở Sofia - Ðức Pi-ô 11 dư biết Ðức Cha Roncalli chẳng có chút tín nhiệm nào trong vụ ôi át này. Có điều Ðức Cha không che dấu sự bực dọc. Toà Thánh rất cứng rắn trong vấn đề hôn nhân khác tôn giáo. Ðức Cha Roncalli chỉ còn cách hết sức khéo léo để tránh một vụ đoạn giao giữa Bulgarie với Vatican.

Nhưng nếu những "khó khăn" và "gai nhọn" là những việc như vậy, có lẽ là chuyện thường tình. Nhưng Ðức Cha Roncalli còn ghi mấy hàng sau đây trong sổ tay năm 1926: "Dự đoán cũng dễ thôi, sứ vụ của tôi nhiều nỗi gian khổ. Nhưng điều lạ thường là những gian khổ không do người Bulgarie, là những người dốc sức phục vụ, mà do các cơ quan trung ương quản trị Giáo Hội. Tôi không ngờ lại phải thất vọng và bị hất hủi từ phía đó, khiến cho tôi đau khổ nhiều".

Ðức Cha không nói cụ thể đó là những vụ việc gì. Chỉ biết rằng khi đó ngài đang lệ thuộc ba cơ quan trung ương: trước tiên là bộ các Giáo Hội Ðông Phương; tiếp đó là phủ Quốc Vụ Khanh, vì tuy trong nhiều năm, ngài không có chức vụ chính thức về ngoại giao, nhưng trong thực tế, vẫn phải đảm nhiệm một sốù công tác ngoại giao; sau nữa ngài phải thi hành các chỉ thị của bộ Truyền Bá Ðức Tin.

Các cơ quan trung ương của Toà Thánh nhiều khi cứng nhắc, áp dụng các nguyên tắc một cách máy móc. Còn Ðức Cha Roncalli thì sống rất hồn nhiên, rất gần với những cảnh ngộ cụ thể của con người. Rất có thể đó là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu thông cảm của cấp trên.

Những lời sau đây trong "Nhật Ký Tâm Hồn" phải chăng phản ảnh những căng thẳng đó: "Mọi kiểu thiếu tin tưởng, mọi cách đối xử thiếu lễ độ đối với bất kỳ ai, mọi thô bạo, mọi phán đoán thiếu suy nghĩ đều làm cho tôi buồn phiền và đau đớn trong tâm hồn. Tôi im lặng, nhưng lòng tôi rớm máu".

Hình như có sự tương khắc giữa nội tâm Ðức Cha với thế giới bên ngoài. Bên ngoài cả phần đạo lẫn phần đời, là một thế giới cứng cỏi, dệt bằng những tính toán vô hồn, những nước cờ ăn thua nhau, những thống kê và tương quan lực lượng. Dù muốn dù không, để chu toàn nhiệm vụ của mình, Ðức Cha Roncalli phải tỉnh táo len lỏi giữa những phòng tuyến đó của thế gian. Nhưng trong thâm tâm còn một con người khác, đang khát khao tìm kiếm một cõi nhân gian khác. Ở đây, dòng suối mát Tin Mừng là một mạch nước ngầm, tưới nhuần một cõi riêng tư đơn sơ, trong sáng và khiêm tốn.

Năm 1927, song thân Ngài mừng Kim Khánh Hôn Nhân, bức thư Ðức Cha Roncalli gửi về nhà phản ánh tinh thần đó: "Con xin hết lòng cảm tạ Chúa: vì không những Chúa đã giữ gìn cha mẹ được khoẻ mạnh trong suốt 50 năm qua, nhưng còn vì cả gia đình ta vẫn giữ được tinh thần đơn sơ mộc mạc, nghèo mà coi cái nghèo là một vinh dự, chứ không phải là một gánh nặng, và luôn biết kính sợ Chúa; trước mặt thế gian thường không làm bộ làm tịch, đó vừa là nguyên nhân để được thanh thản bình an suốt cuộc đời này, vừa là đảm bảo cho niềm vui vĩnh cửu đời sau. Con lấy làm mừng vì các con của cha mẹ đều quyết tâm không thay đổi cung cách sống, và đến lượt chúng con lại chủ trương dưỡng dục con cháu như cha mẹ đã dưỡng dục chúng con".

Nhờ tấm lòng thanh thản bình an ấy, Ðức Cha Roncalli dù gặp "khó khăn""gai nhọn", vẫn không oán than, không cay cú. Cha viết cho người chị ruột Ancilla: "Ngày lại ngày, em vẫn tiếp tục gieo những hạt giống nhỏ. Khi đến thời đến buổi, hoặc em hoặc người khác sẽ hái được trái chín". Những ngày tháng qua đi, có vẻ như cây mọc chậm, biết đến bao giờ trái chín. Nếu có trái, chắc chắn người khác hái, chứ không phải Ðức Cha Roncalli.

Năm 1931, tĩnh tâm trên bờ biển Bujukada, Ðức Cha ghi lại: "Tôi đã ở vào tuổi năm mươi. Vậy là đứng bóng rồi, về già rồi: biết đâu giờ chết đã gần. Một nửa thế kỷ trên đời, được ơn gọi làm Linh Mục, tôi có làm được gì nhiều đâu... nhưng tôi nhìn về tương lai trong binh an, thanh tĩnh, và tin tưởng".

Năm 1932, một lời tâm sự: "Giám Mục hay Linh Mục, mà rốt cuộc chỉ làm công việc ngoại giao và làm công việc bàn giấy, ôi cuộc đời mới tội nghiệp là sao !"

Năm 1934, viết thư cho một người bạn đang rất buồn phiền vì nhiệm sở Giám Mục giao cho: "Anh tưởng tôi cũng thích ở đây lắm sao, sống mãi ở Bulgarie thế này sao? Nhưng tôi vui lòng ở lại, bởi vì đó là ý Chúa đối với tôi; ngoài ý Chúa, ở đâu cũng là khốn khổ; còn với ý Chúa, tôi được hưởng một niềm bình an bao người thèm khát mà không có được, tôi sẽ không đánh đổi bình an ấy lấy bất cứ sự thăng quan tiến chức nào, dù cho vẻ vang nhất trên đời đi nữa. Ðây là dấu chỉ rằng Chúa rất thích dẫn đưa ta để ta làm một cái gí đó khác hẳn với cái ta tưởng ta làm được".

Và trong nhật ký: "Khi tôi tự hỏi mình tôi phải làm gì để đẹp lòng Chúa hơn nữa và để nên thánh, tôi không nghe thấy câu trả lời nào khác câu này: hãy tiếp tục sống trong sự vâng lời, như bây giờ, hãy làm công việc bình thường, ngày lại ngày, đừng bồn chồn, đừng lập dị, nhưng hãy luôn uớc ao được sốt sắng hơn, hoàn thiện hơn". Ðức Cha viết cho người em ruột Giovanni: "Càng sống anh càng xác tín rằng lý tưởng là ta chỉ có những gì cần thiết cho ngày hôm nay, và chỉ lo lắng cho những điều nhu yếu mà thôi"

Ngày 30.3.1935, trong một thư khác gởi về gia đình, Ðức Cha giải thích: "Tôi có được tinh thần an nhiên như thế trong tay Chúa quan phòng một phần là do đã sinh ra ở nông thôn, trong một gia đình nghèo tiền của, nhưng giàu Ðức Tin và giàu lòng kính sợ Chúa, quen sống đơn giản với thiên nhiên từng ngày, từ năm này qua năm khác".

Ta có thể tìm thấy rất nhiều những lời lẽ tương tự trong bút tích của Ðức Cha Roncalli, và sau này, của Ðức Giáo Hoàng Gio-an 23. Tư tưởng của ngài có thể cô đọng trong một câu: "Chúa muốn được mang danh là Chúa của người nghèo". Và thế là Ðức Cha sống một cuộc đời tương đối trầm lặng, và nhẫn nhục suốt 9 năm ở Bulgarie.

Tháng 11 năm 1934, Ðức Cha Roncalli về Roma và được Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 11 tiếp kiến. Ngày 17, ngài được tin Tòa Thánh giao cho ngài nhiệm vụ làm Khâm sứ Tòa Thánh ở Thổ-nhĩ-kỳ và Hy-lạp. Tháng 12, Ðức Cha trở lại Bulgarie để viếng thăm từ giã các nơi đã từng phục vụ.

Trong thời gian ngài ở Bulgarie, với thành quả bị đánh giá là không mấy xuất sắc, ấn tượng sâu đậm nhất ngài để lại cho đất nước này không phải là những vụ việc lỉnh kỉnh về ngoại giao hay quản trị nội bộ Giáo Hội, nhưng là một thái độ gần gũi với những con người bình thường. Người ta còn nhớ vụ động đất năm 1928, chấn tâm ở gần Plodiv, thành phố lớn thứ nhì ở Bulgarie. Nhiều nạn nhân, và thiệt hại rất nặng nề, cảnh tượng thật điêu linh. Ðức Cha Roncalli đã vội vã đến nơi bị tàn phá nhất, làng Cirpan, để chứng kiến tận mắt thảm cảnh. Rồi ngài hối hả báo động với Vatican, yêu cầu viện trợ khẩn cấp.

Ba ngày sau, Tòa Thánh mở cho ngài nguồn kinh phí. Ðức Cha Roncalli trở lại những nơi họa tai. Người ta còn sợ những dư chấn, đêm đêm mọi người ngủ ngoài trời. Ðức Cha Roncalli cũng màn trời chiếu đất như mọi người. Suốt từ tháng 4 đến tháng 7, ngài có mặt ở khắp nơi, mở những "quán ăn của Ðức Giáo Hoàng", cung cấp lương thực miễn phí cho nạn dân. Tháng 7 hết tiền, ngài về tận Roma vận động để cứu giúp những người nghèo khổ nhất. Cũng kiếm được đủ để cứu trợ trong tháng 8... Từ cơn tai biến này về sau, người Bulgarie coi Ðức Cha Roncalli như bạn thân, và như một người tín cẩn.

Noel 1934, Ðức Cha Roncalli thuyết giảng lần cuối cùng ở Bulgarie trong Nhà Nguyện của Dòng Capucino. Sau khi đã kêu gọi các anh em ly cách, Ðức Cha kết luận: "Sau này, bất luận tôi phải đi đâu trên thế gian này, nếu ban đêm có người Bulgarie nào lâm cảnh vất vưởng đi qua trước nhà tôi, người ấy sẽ thấy trên cửa sổ tôi một ngọn đèn thắp sáng. Xin hãy gõ, hãy gõ cửa! Tôi sẽ không hỏi người anh em Bulgarie ấy có phải người Công Giáo hay không, xin cứ vào! Một vòng tay huynh đệ sẽ tiếp nhận, một tình bạn nồng hậu sẽ đón mừng người anh em".

Ngày 3.1.1935, vua Boris tặng Ðức Cha Roncalli huân chương cao quý nhất của vương quốc Bulgarie, và hai món quà kỷ niệm: một chân dung nhà vua trong khung ảnh bạc, nói lên quan hệ cá nhân thân tình và một cây Thánh Giá, xuất phát từ danh sơn Athos của Chính Thống Giáo, như bảo chứng của một chân lý và một lòng mến chung vẫn tồn tại bất chấp những nghịch cảnh lịch sử.

Ngày 4.1, tuyết rơi dày đặc. Ðức Cha Roncalli lên xe lửa đi Istanbul, Thổ-nhĩ-kỳ, nhận nhiệm sở mới...

(còn tiếp)

Trích từ Ephata Việt Nam 98 & 99