NGƯỜI GIỮ ÐỀN
ÐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP VŨ KHỞI PHỤNG, C.Ss.R. Trời cuối thu Hà Nội dịu mát. Hai bên đường từ
sân bay Nội Bài về thành phố, thôn quê trải rộng
những nương ngô xanh biếc xen kẽ những cánh đồng
chín vàng. Cứ theo lộ trình tự nhiên, nơi đầu tiên
để cha dừng chân lại là nghĩa địa. Thôi thế cũng
hay. Hôm nay là Lễ Các Thánh, là ngày đầu tiên trong
tháng kính nhớ các linh hồn. Hội Thánh là một mầu
nhiệm hiệp thông. Trịnh Công Sơn hát thật hay rằng: "Người
chết nối linh thiêng vào đời". Dừng chân ở
nghĩa trang là một tình cờ do lộ trình, mà cũng là
một giờ hiệp thông đầy ý nghĩa. Từ đường cao tốc Nội Bài rẽ qua tay mặt, đi vào
vùng đất Mê Linh lịch sử khoảng hơn chục cây số,
đã thấy những ngọn đồi Thanh Tước nhấp nhô, ôm
lấy một vùng mộ chí thoai thoải dưới chân mấy vạt
rừng thông. Không gian ở đây tĩnh mịch. Phía sau hồ sen bán
nguyệt có khu vực dành riêng cho cán bộ cao cấp của
Nhà Nước. Phần đất của quần chúng nhân dân
được phân phối theo tôn giáo, một mảnh đồi đầy
những cây Thánh Giá, và cũng có một cây Thánh Giá
lớn được dựng lên thành tượng đài. Gần đó, cha Tobin dừng lại trước một dãy mười
mộ trắng thẳng hàng. Trên mỗi mộ có trồng một khóm
hồng và một khóm cúc trắng. Những tấm bia nhỏ xíu
chỉ vừa đủ ghi tên người và ngày mất. Ðọc những
chữ "Linh Mục Phúc" hay "Linh Mục
Ðức", có mấy ai biết rằng đó không phải là
hai người Việt Nam, mà là hai vị Thừa Sai từ Canada qua
đây, đã sớm nằm xuống khi tuổi đời còn trẻ, và
đã gửi xương cốt lại đây. Bên cạnh đó, Linh Mục Dong và Linh Mục Hiệp thì
đúng là người Việt Nam, thuộc những thế hệ đầu
tiên người Việt trong Dòng Chúa Cứu Thế. Hồi 1944,
giữa thời thế chiến, cha Dong đi xe hơi từ Nam Ðịnh
lên đã bị máy bay oanh tạc chết gần Hà Nội. Còn cha
Hiệp săn sóc bệnh nhân trong một đại dịch bệnh chấy
rận, rồi bị lây bệnh mà chết. Các Thừa Sai vẫn quen
âm thầm tận hiến như thế. Cha Bề Trên Tổng Quyền
thuộc những thế hệ hậu sinh không dừng chân ở
đây thì ở đâu? Chợt đưa mắt nhìn lên đồi thấy anh Khôi cùng gia
đình cũng đang lẩn quẩn tảo mộ giữa những vạt cỏ
may. Khôi thuộc một gia đình có Ðạo lâu đời ở Hà
Nội. Anh là một giáo viên chuyên đi tìm những trẻ
lang thang, những trẻ đường phố về mở lớp, dạy
chữ rồi dạy nghề. Nghĩa trang yên lặng, những dãy mộ của các Thừa
Sai và của Giáo Dân cũng im lìm, những người viếng
thăm chẳng ồn ào, và sự hiệp thông cũng không ồn
ào chút nào. Là hiệp thông với một điều thiêng
liêng mà những người nằm đây đã gặp được khi
xưa, và những người viếng nghĩa địa vẫn đang tiếp
nối, những người như anh Khôi khi miệt mài lo toan trong
cái thế giới xô bồ ngoài bờ đê sông Hồng, hay
ở những bãi nổi Phúc Tân, Phúc Xá dưới gầm cầu
Long Biên. Con đường từ Thanh Tước trở ra đường cao tốc,
xuyên qua những cánh đồng hoa bát ngát. Vùng này cung
cấp hoa tươi cho thủ đô, và có những loại đưa vào
bán tận trong Nam. Nghe nói cha Tobin là một du khách rất
mẫn cảm, anh em cũng muốn xe đưa cha qua những thắng
tích khả dĩ gợi lên cho cha một điều gì về cái hồn
của mảnh đất này. Xuống khỏi cầu Thăng Long có thể vòng qua con
đường dọc đê sông Hồng, sẽ thấy bên đường
những Xứ Ðạo lâu đời đã đâm rễ bám chặt vào
lòng đất này: Thượng Thụy, Kẻ Bạc, Tử Ðình... Hay
đi qua vùng phong cảnh Hồ Tây như danh sĩ Nguyễn Huy
Lượng xưa kia đã nói: "Áng phồn hoa vì cảnh muốn phô người, Không phải chỉ vì cảnh, đã nói "vật đổi sao
dời" là nói lịch sử bi tráng của con người.
Cũng chính Nguyễn Huy Lượng đã ngậm ngùi: "Cố cung" ngày nay ở trong khu quân sự,
chưa vào được. "Cổ tự" thì quanh đây
nhiều lắm, không rõ "mấy phong da ngựa" vùi
ở chỗ nào. Nhưng từ đường Cổ Ngư (tên mới bây
giờ là Thanh Niên), có thể chỉ cho cha Tobin xem chỗ máy
bay của phi công John McCain, ngày nay là thượng nghị sĩ
nổi tiếng của nước Mỹ, đã rơi xuống hồ Trúc Bạch.
Thăng Long chiến địa đấy! Như ngày nay vẫn hát: "Một
thời đạn bom, một thời hòa bình". Mảnh đất
này là của những con người lần lượt đi qua khói
lửa và hồi sinh thể xác linh hồn. Rồi rẽ qua quảng trường Ba Ðình, lịch sử hiện
đại đấy! Và qua Hồ Gươm nhớ vua Lê trả kiếm, qua
Văn Miếu Quốc Tử Giám của thành phố ngàn năm tuổi. Ôi, không kịp nữa rồi. Ðã bịn rịn ở nghĩa trang
hơi lâu. Phải mời cha Tobin trở lại một lần khác
thôi. Không kịp nữa vì có hai cụ già đang chờ. Cha
Tobin tới đây chủ yếu là để chào hai cụ. Xe rời
lộ trình du lịch để quẹo về Ô chợ Dừa đường
hẹp chật như nêm cối. Gần sát gò Ðống Ða thì rẽ vào ngõ hẻm. "Ðó,
cha thấy bệnh viện quét vôi vàng kia không? Ngày xưa
là Tu Viện nhà cha đấy!" Còn Tu Viện bây giờ
thì ở sang bên cạnh. Cha lại đến vào lúc Nhà Thờ
đang sửa lại toàn bộ, vật liệu ngổn ngang. Và đây, hai cụ già đây: cha Thanh ngày xưa ở trong
Nam có một thời chọc trời khuấy nước, bây giờ
ngồi xe lăn rồi, tóc bạc như cước bềnh bồng, nhưng
nụ cười khóe mắt còn tinh quái quá sức. Cha Bích thì khác, cha cũng ngồi xe lăn, cái tinh quái
không biết cất đâu, chứ cặp mắt không có thần
nữa, cha mù đặc từ nhiều năm nay rồi. "Cha
già ơi! Bề Trên Cả đến thăm cha đây này!" Cha
Bích ngửa mặt lên cười vui, đưa tay quờ quạng tìm
tay người mới tới. Cha Tobin nắm tay cha Bích: "Anh
em toàn Dòng đều biết tiếng cha là người đã trung
kiên với Ðền Thánh Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp suốt
năm chục năm nay". Ðúng. Cha Bích suốt năm chục năm nay gắn bó với
Ngôi Ðền đang được tái thiết đây, trong năm chục
năm đó thì hơn bốn chục năm cha đứng mũi chịu sào,
đảm nhận mọi công việc. Năm 1954, đất nước chia
đôi. Phải nói thẳng rằng thời ấy người Công Giáo
rất sợ Cộng Sản, sợ mất Ðạo. Người ta rần rần
chạy vào Nam. Nhưng Chúa vẫn có thói quen đẩy một số
con cái vào chính cái nơi họ sợ, không phải chỉ từ
tiên tri Jonas, từ xưa rất xưa đã có thế rồi. Chẳng
biết cha Bích có sợ không, nhưng cha thuộc số anh em
tự nguyện ở lại với một Giáo Hội hôm qua sầm
uất, hôm nay trống vắng. Cha cứ nhớ mãi cái ngày bộ đội rầm rập tiến
vào thủ đô. Hôm ấy nhiều Linh Mục Hà Nội họp nhau
ở Nhà Thờ Hàm Long, có Ðức Cha Khuê, có cha Tụng
(nay là Hồng Y), có cha Bích. Ðức Cha Khuê trong lòng tin
chân thành của mình, tâm sự với anh em Linh Mục một
câu: "Có lẽ chúng ta phải chết cho người khác
được sống". Hay đây là thần khí tiên tri
phát ngôn nơi miệng của người sau này sẽ là Hồng Y
tiên khởi của Việt Nam chăng? (Bởi vì màu áo đỏ
ngụ ý người mặc áo ấy đã sẵn sàng hiến dâng
cả mạng sống mình cho Dân Chúa). Cũng chính Ðức Cha
Khuê viết một Thư Mục Vụ gửi cho đoàn chiên đã
trở nên bé nhỏ của mình: "Nghĩ tới anh chị em
còn ở lại với tôi, lòng tôi quyến luyến..." Ai
sẽ hiểu được cái cảm giác lạnh lẽo của đoàn
chiên bé nhỏ ấy như thế nào? Cha Bích sẽ nếm mùi cô đơn. Trong cộng đoàn bé
nhỏ của Dòng Chúa Cứu Thế trụ lại ở Hà Nội năm
1954, hai vị người Canada vài năm sau sẽ được mời
về nước. Hai Tu Sĩ Marcel Văn và Clement Ðạt lần
lượt qua đời trong những hoàn cảnh cam go. Người
đến Nhà Thờ rộ lên một thời gian rồi mỗi ngày
một thưa, có lúc chỉ còn một nhóm rất nhỏ. Còn lại
một mình cha Bích. Cha là Cha Xứ, là Ông Từ, là
Người Giữ Ðền, tự tay cha cắm hoa thắp nến. Cha hóm
hỉnh tự đặt cho mình một tên mới là "Ðặng
Kiêm Toàn". Cha một thân một mình trong Tu Viện,
ngoài Nhà Thờ, giống như người lão bộc trung thành
trong Phúc Âm, thức lâu cho biết đêm dài mà đợi
chờ Chủ đi đâu vắng xa. Lại có lần Giáo Hội nhân
sự thưa thớt dần, cha được đề nghị lên làm Giám
Mục. Rốt cuộc việc không thành, thất bại mà thích
thú, vì Ðức Hồng Y Căn bảo: "Thôi, cha ở lại
giữ Ðền Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp!" Ngôi Ðền ấy như linh hồn của cha. Anh em có khi nói
đùa mà thật: "Ðấy là ngôi Nhà Thờ xấu xí
nhất Hà Nội". Là vì lúc ban đầu dựng lên
có phải để làm Nhà Thờ đâu, chỉ là nơi tụ họp
tạm thời chờ dựng Ngôi Ðền Ðức Mẹ chính thức,
trông nó hơi giống cái nhà kho. Thế Chiến thứ 2 bùng
nổ, mọi việc xây cất gác lại, và tường Nhà Thờ
tạm có thời gian được ghép vô số bảng tạ ơn
Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp bằng đồng, bằng đá. Phải
chi tường Nhà Thờ biết nói, nó sẽ kể lại biết bao
nỗi niềm buồn tủi lẫn tin tưởng và vui mừng đã
thấm vào nó! Ngôi Nhà Thờ tạm biến thành Ðền
Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp lúc nào không biết, một nơi
chốn rất mực thân thương với những tấm lòng đã
cảm nghiệm được Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp là thế
nào! Nhưng cha Bích cứ một mình hiu quạnh mãi thì sao? Cứ
tưởng tre già mãi sẽ tàn, ai ngờ tre già mọc măng.
Câu chuyện cha Hiên trẻ của Dòng Chúa Cứu Thế đến
kế nghiệp cha già cũng là một chuyện hơi ly kỳ, xin
chưa kể lại vì ngoài đề. Nhưng đến đây thì cha Bích đã mù. Cha cứ vui vẻ
mà khai rằng đang mang trong người 16 thứ bệnh khác nhau,
cứ cười cười nói nói mà nhìn nhận: "Lúc
nào tôi cũng cảm thấy đau trong người!" Khi cha
Tobin họp mặt anh em, cha già ngồi nghe mà không góp
chuyện nhiều. Ðược yêu cầu phát biểu, cha chỉ nói
vắn tắt: "Tôi lấy làm hạnh phúc vì đã có anh
em trẻ đến kế nghiệp và Nhà Thờ lại đông vui". Thì ra Giáo Hội có khi cũng giống như thiên nhiên.
Có mùa đông rồi có mùa xuân. Từ xưa kia, Thánh
Tử Ðạo An-rê Dũng Lạc đã chẳng viết: "Ðông
qua tiết lại thì xuân tới" đó sao? Với Ðền Ðức Mẹ, những năm tháng vắng vẻ qua
rồi. Người ta dần dần trở lại, nối lại truyền
thống hành hương. Và đến bây giờ thì không biết
người ở đâu ra mà đông thế. Nhà Thờ đang đại
tu, mấy tháng nay Lễ làm ngoài sân Thứ Bảy, Chúa
Nhật, người đứng đông nghẹt sân, tràn ra ngoài
đường chật cứng. Lòng Nhà Thờ còn đang ngổn ngang
xi-măng và vật liệu, vẫn cứ đón nhận tầng tầng
lớp lớp người, người ta tràn vào tầng trệt và
tầng lầu của hành lang Tu Viện. Hôm nào Nhà Thờ
sửa xong lại vẫn đông, vẫn chật như cũ. Nhưng đất
đâu mà dựng Nhà Thờ lớn hơn? Cha Tobin tối hôm ấy dự Lễ Các Thánh với cộng
đoàn ở ngoài sân. Trong Thánh Lễ có rửa tội
người lớn, có người xin theo Chúa để được giống
người yêu; có người xin theo vì Ðức Tin đã đến
sau khi dự đám tang hay đám cưới người có Ðạo;
có một cô tiến sĩ vật lý du học Liên Xô, vừa học
được khoa học vừa học được Ðạo Ki-tô với anh em
Tin Lành Luther, khi về Việt Nam lại xin gia nhập Công
Giáo; có bậc cha mẹ vào Ðạo do cô con sinh viên theo
trước rồi cảm hóa cả gia đình... Vâng, Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp... (1) Nguyễn Huy Lượng, danh
sĩ nổi tiếng vào thời Tây Sơn ( cuối thế kỷ 18 ),
tác giả bài "Tụng Tây Hồ Phú" Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |