|
Trong việc chọn lọc những câu hỏi, chúng tôi cố gắng lưu ý đến nhiều phương diện khác nhau của ‘lẽ đạo’, nhất là những vấn nạn liên quan đến luân lý, là phương diện bức xúc nhất trong đời sống Kitô hữu ngày nay. Ðể trả lời những thắc mắc, quan điểm của chúng tôi được đặt trên căn bản là Lời Chúa, Truyền Thống và Huấn Quyền của Giáo Hội. Quan điểm ấy cũng cố gắng kết hợp giữa suy tư thần học và thực tế mục vụ. Ðương nhiên, trong khuôn khổ nhất định của đề mục này, những giải đáp của chúng tôi không thể bao gồm tường tận mọi chi tiết. Vì thế, ngoài mục đích chính là cống hiến những hiểu biết căn bản để giải tỏa những băn khoăn, hy vọng những giải đáp này cũng gợi ý và động viên sựï chú tâm tìm hiểu kỹ càng những bài nghiên cứu hệ thống hơn. Mục ‘Hiểu Ðạo - Sống Ðạo’ mong ước được trở nên người bạn đồng hành để chia sẻ với Quý Ðọc Giả những băn khoăn trong hành trình Ðức Tin hằng ngày. Mọi thắc mắc liên quan đến việc tìm hiểu để sống đạo, xin Quý Vị vui lòng gởi về cho chúng tôi qua tòa soạn ÐMHCG. Rửa tội cho con khi nào? Hỏi: Thưa cha, gia đình con là đạo gốc. Ðược rửa tội từ hồi sơ sinh, con cũng giữ truyền thống đạo và rửa tội cho các con cái con ngay từ hồi nhỏ. Ngày nay, chúng đã đến tuổi khôn lớn. Mỗi khi nói về chuyện bổn phận đời sống người công giáo, chúng hay lý luận với con rằng "Tại sao bố mẹ không để cho chúng con lớn lên tự do chọn lựa tôn giáo và quyết định rửa tội hay không? Tại sao phải rửa tội cho chúng con lúc chúng con chưa biết gì? ‘Ép’ chúng con làm người công giáo như thế rồi ‘lỡ’ chúng con không có đức tin thì sao?" Trước những lý luận đó của chúng, con chẳng biết phải trả lời thế nào. Xin cha giúp con ý kiến. (Nguyễn Dương, Texas) Ðáp: Lý luận trên đây phản ảnh tâm trạng muốn đề cao sự tự do, tự quyết cá nhân, và coi nhẹ những giá trị truyền thống (tôn giáo, văn hóa). Ðó là tâm trạng chung của thời đại và xã hội ngày nay. Trong các câu hỏi của con ông, lập luận xem ra có vẻ hữu lý. Tuy nhiên, là cha mẹ công giáo, ông cũng nên biết rằng: a) Việc rửa tội cho con thơ không phải là chuyện tôn trọng hay từ chối sự tự do và quyền tự quyết của con cái (children’s right). Trước nhất, đó là nghĩa vụ của cha mẹ (parent’s duty). Nói đến nghĩa vụ tức là nói đến sự bắt buộc của bổn phận (obligation). Vậy, bổn phận buộc ấy được hiểu theo hai nghĩa căn bản sau đây. Thứ nhất, về mặt giáo luật, Hội thánh quy định rằng cha mẹ công giáo có bổn phận sinh thành và giáo dục con cái trong đời sống Ðức tin. (GL số 1055:1; 1125:1). Ðây cũng chính là điều mà hai vợ chồng đã thề hứa trước mặt Chúa và Giáo hội. Trong ngày lễ thành hôn, đôi hôn phối tuyên hứa rằng họ sẵn sàng: "yêu thương, đón nhận con cái mà Chúa ban và GIÁO DỤC CHÚNG THEO LUẬT CHÚA KITÔ VÀ LUẬT HỘI THÁNH." Lời thề hứa này có sức ràng buộc lương tâm (binding force) vì đã được đôi hôn phối ý thức và tự do chấp nhận khi dấn thân vào đời sống gia đình. Thứ hai, về mặt luân lý, việc rửa tội cho con trẻ sơ sinh là BỔN PHẬN CỦA TÌNH THƯƠNG mà cha mẹ phải thi hành. Ðiều này cũng dễ hiểu. Nếu về mặt tự nhiên, cha mẹ chăm lo cho con cái được an toàn, ăn mặc đầy đủ, giáo dục đàng hoàng và được mọi điều tốt đẹp thân xác, thì về mặt thiêng liêng, họ cũng phải lo lắng sao cho con cái mình có được những điều thiện ích về đời sống linh hồn, mà căn bản là được trở nên con cái Chúa qua Bí tích Rửa tội. Nói cách khác, nếu không thể nhân danh quyền tự do lựa chọn mà để cho con trẻ làm những việc nguy hại cho thể xác (ăn uống bậy bạ, nghịch ngợm, phá phách, bỏ học v.v.), thì cũng không thể nại vào sự tự do ấy mà để mặc cho chúng ‘lớn lên rồi hãy chọn lựa tôn giáo’ mà theo. Nếu cha mẹ xác tín rằng công giáo là chính đạo và Ðức tin công giáo là điều thiện ích thiêng liêng, nhưng họ lại không tạo cơ hội cho con cái mình chia sẻ điều thiện ích ấy thì đó là một sự thiếu xót, xét theo lương tâm. b) Phần khác, đức tin là một Ân sủng của Thiên Chúa và cũng là kết quả của nỗ lực đón nhận, vun xới từ phía con người. Chẳng thể ‘lỡ’ có hoặc ‘lỡ’ không được. Nếu hạt giống đức tin ấy đã được gieo xuống qua Bí tích rửa tội, lại được chăm bón chu đáo qua sự giáo dục và gương sống đạo của cha mẹ, và qua sự thực hành đạo của chính cá nhân, thì sẽ chẳng lo gì vấn đề ‘bị ép’ làm người công giáo mà không ‘có duyên’ (đức tin) với đạo. Ly dị và Rước Lễ Hỏi: Thưa cha, con đã lập gia đình qua Bí tích hôn phối. Chúng con đã có hai con. Sống với nhau được hai năm đầu tốt đẹp, sau đó chồng con sinh nhiều tật xấu. Cuộc sống vợ chồng ngày càng trở nên căng thẳng. Chúng con thường xuyên cãi vã nhau nặng lời. Chịu đựng không nổi, con đã quyết định ly dị với chồng. Ði xưng tội, cha sở cho con biết là con không được phép rước mình thánh. Con vẫn luôn thắc mắc tại sao người ly dị lại ‘bị phạt’ không được rước lễ? Xin cho biết con phải làm gì để được rước lễ lại? (T. T. Hoàng, MO) Ðáp: Nói chung, người công giáo đã có bí tích hôn phối mà chủ trương ly dị là phạm trọng tội cưỡng lại lề luật của Thiên Chúa. "Sự gì Thiên Chúa liên kết, loài người không được phân ly" (Mt 19:6). Dựa theo giáo huấn ấy của Phúc âm, Hội thánh ngăn cấm và ra hình phạt đối với ai tự ý xin ly dị trước tòa (Giáo Luật số 1118). Sự phạt vạ ấy là không được công khai xưng tội và rước lễ. Tại sao lại phạt vạ như thế? Việc ly dị mang hai chiều kích. Xét về phương diện nội tâm (internal forum) người ly dị mắc tội trọng vì đã phạm đến 1 trong 2 đặc tính căn bản của bí tích hôn phối: sự bất khả phân ly. Xét về phương diện bên ngoài (external forum), người ấy ở trong tình trạng thường xuyên và công khai lỗi phạm lề luật Thiên Chúa và nêu gương xấu cho cộng đoàn Dân Chúa. Về nội tâm, tội trạng ấy có thể được tha thứ như mọi tội khác khi thành thật xưng tội và có thiện chí sửa đổi hoàn cảnh tội lỗi. Tội ấy không kèm theo một hình phạt nào như tuyệt thông, kiểm trừng. Nhưng bên ngoài, người ấy bị coi là ‘lỗi phạm công khai’; do đó, để được lãnh nhận các bí tích cách công khai, cần phải giải tỏa gương xấu công cộng ấy trước. Áp dụng những nguyên tắc trên vào trường hợp của chị, xin đề nghị những việc cụ thể phải làm như sau: a) Tìm cách trao đổi, tha thứ, giải hòa lại với chồng. Như thế, ít nhất là trong tâm tư, hai người sẽ giải tỏa sự buồn bực, giận hờn, chia rẽ. Ðây là điều kiện tối thiểu để cất giải sự phân ly trong hôn phối của hai người, và do đó, chị mới có thể xưng tội và rước lễ (cách kín đáo). b) Sau đó, để được công khai lãnh nhận các bí tích này như trước, vợ chồng chị cần phải tìm cách trở về tổ ấm, sum họp lại. Nếu không, cần phải có một hành động công khai như một lời phủ nhận sự hờn giận, chia rẽ vợ chồng; một chứng cớ, hay một biểu tỏ hối lỗi về sự ly dị. Chỉ điều kiện ấy mới đánh tan gương xấu trước mặt cộng đoàn Dân Chúa, và cho phép lương tâm Giáo hội ban ơn xá giải và Mình Thánh cho chị cách công nhiên. Ngừa Thai Hỏi: Con có một người bạn gái và chúng con đã đính hôn được 6 tháng. Vì là người bổn đạo mới cho nên cô ấy không thể hiểu và không chấp nhận luật Giáo hội cấm ngừa thai. Cô nói rằng, ngay cả sau khi lãnh bí tích hôn phối, cô sẽ không sinh con liền trong vòng vài năm, và như vậy sẽ phải dùng các phương pháp ngừa thai cần thiết. Xin cha cho biết nếu con ‘ăn ở’ với một người ngừa thai như thế thì có lỗi luật và mắc tội không? Con phải làm gì để giải quyết vấn đề trắc trở này? (Nguyễn Thế Dũng, AR) Ðáp: Bí tích hôn phối bao gồm hai mục đích căn bản là Tình Yêu Thương vợ chồng và sự Truyền Sinh con cái (Giáo Luật số 1096:1). Bất cứ ai tự nguyện dấn thân vào hôn nhân công giáo cũng phải chấp nhận hai điều kiện căn bản này thì bí tích ấy mới thành sự (valid). Do đó, đôi bạn không nên lãnh nhận bí tích hôn phối và dấn thân vào hôn nhân bao lâu chưa hiểu rõ và không đồng ý với nhau về các điều kiện căn bản này. Vì lúc ấy, bí tích sẽ vô hiệu và đời sống chung sẽ không hòa hợp, hạnh phúc. Về 2 câu hỏi của anh, xin trả lời trực tiếp thế này: a) Nói chung, theo giáo huấn của Hội thánh, ngừa thai là một hành động luân lý xấu tự tại (instrinsically evil), và do đó, là một tội trọng theo nghĩa khách quan (objective mortal sin) (xem sách Giáo Lý CG # 1855-1860, 2370; các Tông thư Casti Connubii # 14, 56-57, Humanae Vitae # 10, 14, 16, 18, 28; v.v.). Vậy người ngừa thai bị mắc tội trọng. Và, khi biết phối ngẫu của mình ngừa thai mà mình vẫn ‘ăn ở’ với người ấy thì mình cũng mắc tội đồng lõa. b) Ðể giải quyết vấn đề này, việc tốt nhất là anh hãy tận dụng thời gian trước hôn phối để giúp cho người vợ tương lai của anh hiểu rõ ý mục đích của hôn phối theo quan điểm Ðức tin công giáo, cũng như lý do tại sao Hội thánh khước từ việc ngừa thai. Các phương tiện cần thiết có thể giúp cho nỗ lực này của anh được thành công gồm có các tài liệu giáo huấn của Hội thánh, lớp giáo lý hôn phối, hoặc nữa, sự trợ giúp trực tiếp của các linh mục. Ăn Mặc Thời Trang có Tội không? Hỏi: Thưa cha, con năm nay được 23 tuổi và mới ở Việt Nam qua Mỹ. Con thấy ở Mỹ này giới trẻ vui vẻ, yêu đời, và tân tiến trong lối ăn mặc. Con cũng muốn vô tư hòa đồng với môi trường mới. Nhưng mỗi khi mặc quần áo mốt trẻ trung, con thấy hình như người lớn không ưa thích lắm. Ði nhà thờ thì các bị các ông bà phụ huynh lớn tuổi hay xì sầm to nhỏ về chuyện quần áo. Con muốn hỏi cha là: mặc quần áo thời trang có gì xấu hay tội lỗi không? (Nina Tran - Fountain Valley, CA) Ðáp: Câu hỏi của này nhắc nhớ lời nói của Thánh Phanxicô Salesiô : "Làm con gái thì phải đẹp." Chuyện kể rằng chính thánh nhân cũng có một người cháu gái mà mỗi lần cắp sách đi học, ngài đều nhắc phải búi tóc gọn gàng và cài một chiếc nơ đỏ cho cô giáo thấy sạch sẽ, dễ mến. Có lần một bà cụ già đạo đức đến hỏi ngài rằng: "Người công giáo có được thoa phấn vào má và tóc theo như mode thời đại không?" Lời ‘cố vấn thẩm mỹ’ của vị thánh này là: "Cứ việc thoa nhiều vào đi. Ngay cả mấy con gà rừng cũng phải làm như thế để khử trừ chí rận!" Ðiều này để xác nhận rằng trau dồi sắc đẹp cách tự nhiên và phải chăng, hoặc ăn mặc hợp thời trang, tự nó không phải là điều xấu xa, tội lỗi. Tuy nhiên, về phương diện luân lý, có hai yếu tố (criteria) để phân biệt khi nào việc ăn mặc quần áo thời trang là không đúng (morally wrong): a) Nếu đó là kiểu quần áo hở hang, khêu gợi lòng ham muốn tính dục, khiến cho người khác nhìn vào mình dễ bị cám dỗ. Hoặc tệ hơn, nếu ta có chủ ý (intention) ăn mặc như thế để lôi kéo người khác về đàng tội lỗi. b) Việc mặc quần áo (cũng như những hành động giao tế xã hội khác là nói năng, ăn uống, làm việc, v.v.) bao gồm 2 phương diện: tôn trọng người khác và tự trọng chính mình. Việc ấy có liên quan ít nhiều đến điều mà ta gọi là ‘Nhân đức Xã hội’ (Social Virtue). Là người trẻ, nên tập thói quen tốt rằng mỗi khi ra đường, mình phải ý thức là sẽ đi đâu, làm việc gì, gặp những ai, và như vậy, phải mặc thế nào cho phù hợp để tôn trọng người khác và tự trọng chính mình. Ðiều này quan trọng lắm. Ví dụ, sẽ không có ai đi vào một đám cưới hay công sở hoặc trường học mà lại mặc swimming suit như khi đi tắm piscine. Người chung quanh không thấy ‘ngứa’ mắt, bực mình, thì cũng sẽ nghĩ rằng mình ‘man’. Nếu đối với người đời, việc đời và môi trường xã hội mà ta còn phải tôn trọng như thế thì huống gì đối với Thiên Chúa, với việc thiêng liêng, và nơi chốn tôn nghiêm như thánh đường. Tóm lại, để khỏi bị ‘các ông bà phụ huynh’ nơi nhà thờ ‘xầm xì," và nhất là để tôn kính sự thánh thiện Nhà Chúa, Nina hãy coi lại quần áo của mình trước khi đi lễ. Ðừng bê bối lôi thôi, nhưng cũng đừng quá ‘tân thời’, ‘độc lập, tự do’ như các người mẫu thời trang ‘con nhà giàu, dư quần áo mà... hay tiết kiệm vải’. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |
|