KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICAN II (Kỳ 9) Lm. Vũ Khởi Phụng, C.Ss.R. Ở biên giới phía Ðông giáp với Armenia, ngọn núi
Ararat ngất trời tuyết phủ. Theo huyền sử Thánh Kinh,
con tàu của Nô-ê khi hồng thủy rút, đã đậu lại
trên sườn núi. Ngày nay vẫn còn có những người
quả quyết đã nhìn thấy xác một con tàu lớn ở độ
cao trên dưới 5.000m, khiến cho nhiều đoàn thám hiểm
nối tiếp nhau đi tìm. Chỉ thấy hang sâu vực thẳm, vách
đá và tuyết băng, còn xác con tàu hình như ẩn hiện
mãi giữa núi non trùng điệp, không ai đặt tay vào
được. Con tàu huyền hoặc ấy cứ gợi lên mãi trong
tâm trí người ta những ấn tượng về tội lỗi gian
tà lẫn hồng ân cứu vớt trên thế gian bảy sắc cầu
vồng. Nhưng nếu ta xuống núi tìm về đồng bằng ven Ðịa
Trung Hải, quả nhiên gặp lại rất nhiều địa danh đã
được ghi trong chính sử của Giáo Hội. Những nơi đã
ghi vết chân của Thánh Tông Ðồ Phao-lô trên đường
truyền giáo, từ đó đi vào Thánh Kinh Tân Ước, trong
sách Công Vụ Tông Ðồ, hay trong các đề thư của vị
Tông Ðồ lương dân: Tarso, Iconio, Derbe, Lystra, Epheso, Mileto,
Colosse..., những Smyrna, Philadelphia, Laodikea của sách Khải
Huyền... Và sinh quán của Thánh Phao-lô vẫn còn mang
tên Tarsus. Chính ở đây đã bừng sáng lên khuôn mặt của
các Giáo Phụ những thế kỷ đầu: Polycarpo, Giám Mục
Smyrna, truyền nhân của Thánh Gio-an Tông Ðồ; Ignatio
Antiokia Tử Ðạo đi xuyên qua đây trên đường dài
về Roma để làm "tinh bột dưới răng dã thú,"
đã viết những lá thư rực lửa làm ấm lòng
Dân Chúa mãi đến ngày nay và mai sau. Vị hoàng đế Roma đầu tiên quy phục Chúa Ki-tô, là
Constantino, đã thiên đô về đây lập nên kinh thành
Constantinopoli hơn một nghìn năm lẫy lừng. Và Giáo Hội
đã phát triển rực rỡ, với những bậc vĩ nhân như
Basilio Caisaria, Gregorio Nazianza, Gregorio Nissa, v.v... Tiếc thay,
cũng chính Constantinopoli là nơi xảy ra sự chia rẽ và
ngăn cách Giáo Hội Phương Ðông với Phương Tây năm
1054, mãi tới nay hàn gắn vẫn không xong. Tất cả những thời đại ấy đã thuộc về quá
khứ. Vì từ thế kỷ thứ 7, người Ả-rập đã đưa
đạo Hồi đến cửa ngõ của đế chế Roma Phương Ðông.
Thế kỷ 11, người Thổ theo đạo Hồi xâm chiếm và
hoàn toàn làm chủ vùng Châu Á của Thổ-nhĩ-kỳ. Năm
1453, họ hạ luôn kinh đô Constantinopoli, và Thổ-nhĩ-kỳ
thành một đế quốc toàn toàng Hồi Giáo. Ngày nay mấy ai còn có dịp hành hương những nơi linh
địa xưa. Constantinopoli đã thành Istanbul, Ðền Thờ Sophia
huy hoàng rực rỡ do hoàng đế Justiniano xây cất
được cắm thêm những tháp nhọn để biến thành Nhà
Thờ Hồi Giáo, trước khi chế độ cộng hòa đổi
thành viện bảo tàng. Những vùng đất gắn liền với lịch sử những thế
kỷ Ki-tô giáo đầu tiên đều thay tên khác. Colosse
nổi tiếng vì bức thư của Thánh Phao-lô nay chỉ còn
một vài phế tích gần Hovaz. Tám Công Ðồng Chung đầu
tiên đánh dấu những thành tựu khổng lồ trên
đường xác định nội dung Niềm Tin căn bản vào mầu
nhiệm Chúa Ba Ngôi và mầu nhiệm Chúa Ki-tô đều họp
ở Thổ-nhĩ-kỳ. Không kể Constantinopoli đã thành
Istanbul, Nica ngày nay mang tên Iznik. Thành phố Epheso, năm
431, nhân dân nô nức rước đuốc mừng Ðức Ma-ri-a
Thiên Mẫu, vì Công Ðồng họp ở đây đã tuyên xưng
nơi Ðức Ki-tô: Thiên Chúa và người chỉ là một
bản vị duy nhất, nay thu lại trong ngôi làng nhỏ Selxuk.
Còn Chalkedon, với Công Ðồng họp năm 451, nay là
Kadikoij. Lịch sử cho thấy có những nơi Ðức Tin bừng
sáng rồi Ðức Tin lại vắng xa. Chẳng ai biết chắc
ngọn gió Thần Khí từ đâu đến rồi đi đâu; và đi
xa rồi đến bao giờ trở lại... Ðức Cha Roncalli được gửi đến vùng đất biết bao
thân thương mà đã thành xa lạ ấy. Hồi còn là Linh
Mục trẻ, ngài đã từng dạy lịch sử Giáo Hội và
Giáo Phụ học, hẳn non nước này gợi lên cho ngài
nhiều điều. Nhưng ngài là người lạc quan. Nhìn xuống
eo biển Bosphorus, ngài không thấy "nước còn chau
mặt với tang thương," chỉ thấy những con thuyền
đủ màu đủ sắc đang lướt êm giữa hai bờ Âu -
Á. Ngài vẫn gọi thành phố bằng tên cũ: "Ðịa
thế Constantinopoli quả là đẹp nhất thế giới !" Trên đồi núi nhấp nhô, những tháp nhọn thẳng
vút của các Nhà Thờ Hồi Giáo vẫn phát ra tín hiệu
gọi người thế gian cầu nguyện và phó thác. Giữa
thành phố, hai kiệt tác kiến trúc, một của Ki-tô
giáo xưa kia, Viện Bảo Tàng Sophia, và một Ðền Thờ
Hồi Giáo do Soliman Tuyệt Mỹ kiến thiết. Những tường
thành cổ úa vàng do đại đế Theodose thời Ki-tô giáo
dựng lên, vẫn "trơ gan cùng tuế nguyệt," còn
khu vực thượng uyển trong cung viện của các hoàng đế
Hồi Giáo xưa là một ốc đảo bát ngát hoa thơm cỏ
lạ. Khu phố cổ đầy ắp những hàng hóa muôn mầu,
nồng nàn hương vị Ðông Phương. Ðúng vậy, bên kia eo
biển chính là nơi khởi đầu của Châu Á mênh mông.
Còn ở khắp các đường phố hẹp thoải dốc, quần
chúng dân nghèo sinh sống, xập xệ mà linh hoạt, nào
thợ thủ công, nào dân chài, nào phu khuân vác, nào
những trẻ đánh giầy... Ðức Cha Roncalli đâu phải không biết những khó
khăn đang chờ đợi mình ở nhiệm sở mới này. Một
là: Thổ-nhĩ-kỳ là một quốc gia có truyền thống và
văn hóa Hồi Giáo lâu đời. Hai là: chế độ mới
thành lập ở Thổ-nhĩ-kỳ là một chế độ duy thế
tục. Sau Thế Chiến, một cuộc cách mạng đã nổ ra ở
Thổ, lật đổ đế chế cũ, và thiết lập chế độ
Cộng Hòa. Người lãnh đạo cách mạng là Mustafa Kemal,
thường được mọi người biết đến dưới danh xưng
Kemal Atarik. Danh xưng này giàu nghĩa tượng trưng, bởi
"Kemal" có nghĩa là "hoàn hảo" và "Atarik"
có nghĩa "Cha của mọi người Thổ." Cũng như nhiều nhà cách mạng khác, Kemal Atarik nóng
vội, muốn ngay lập tức biến đổi đất nước từ
tình trạng lạc hậu thủ cựu thành một quốc gia hiện
đại. Do đó, ông xúc tiến cải tổ với bàn tay sắt,
đảo lộn cả phong tục lẫn tôn giáo. Ngày chủ nhật
được lấy làm ngày nghỉ hàng tuần thay ngày thứ
sáu Hồi Giáo. Các trường dạy Kinh Koran, các tòa án
tôn giáo, những hội cầu nguyện hơi co tính đồng
thiếp của các derviches đều bị xóa bỏ. Thổ-nhĩ-kỳ
từ nay tính năm tháng theo dương lịch (lịch Gregorio), xử
dụng mẫu tự latinh, du nhập hình luật của Ý và dân
luật của Thụy-sĩ. Chế độ đa thê bị hủy bỏ. Phụ
nữ không được trùm đầu, trùm mặt theo truyền
thống Hồi Giáo. Nam giới không được đội chiếc mũ
fez cổ truyền. Và thủ đô thiên về Ankara, vừa ở
trung độ của đất nước, vừa là trung tâm của đế
chế Hittit bốn ngàn năm trước. Nhân dân theo Hồi Giáo, chính thể lại duy thế tục,
cả nhân dân lẫn chính thể đều chẳng có thiện cảm
nào cho một đại diện của Vatican. Việc đầu tiên của Ðức Cha Roncalli khi đến Istanbul
là phải đi trình diện với ông giám đốc công an. Theo
lệ, Khâm mạng Tòa Thánh cứ đến hạn phải đi trình
diện như vậy để gia hạn tạm trú. Trình diện xong,
Ðức Cha Roncalli ra về với giấy phép thường trú. Vị
thư ký Tòa Khâm Mạng tròn mắt ngạc nhiên: "Ðức
Cha làm sao mà tài vậy?" - "Ôi chào! Thì tôi
nói chuyện thân tình với ông ấy, toàn những chuyện
linh tinh thôi. Thế là mọi việc ổn thỏa." Không
để mất một phút, Ðức Cha lại viếng thăm xã giao
ông thống đốc Muhiddin Ustundag. Ông này người gầy mà
cao lênh khênh, mặt lạnh như tiền. Một tiếng đồng hồ
sau, hai người tươi cười ra khỏi phòng, ra sân ngồi
vọng cảnh biển Bosphorus. Ông thống đốc nâng ly rượu
thơm Raki: "Tôi xin chúc Ðức Cha may mắn. Nhưng
ngài sẽ khổ với bọn tôi đấy. Chúng tôi là những
người Hồi Giáo rất thế tục." Những người
ngồi dự chưng hửng. Vị Khâm Sứ Tòa Thánh cười
khà: "Tôi đã làm cho những người còn cứng
lòng hơn các vị ăn năn trở lại đấy ạ !" Ðức Cha Roncalli có tài làm cho người ta cảm thấy
ngài không đại diện cho một mưu toan quyền lực nào,
trước tiên ngài là một người rất tự nhiên, rất
hồn hậu. Gọi là "tài" e không đúng. Ðó là
một nét rất trung thực của con người Roncalli. Ngài
thấy và làm cho những người đối tác cũng thấy
rằng chính con người cụ thể đang sống đây là đối
tượng cần trân trọng và phục vụ, chứ con người
ấy không phải là phương tiện cho bất cứ cái gì. Vậy là sự giao tiếp với chính quyền Thổ đã trót
lọt. Trước khi nhận nhiệm sở, ngài đã viết cho một
người bạn: "Xứ này mưa gươm gió kiếm, tôi
sẽ cố gắng hết sức nép mình vào tường mà tiến,
sẽ đi từ từ, hy vọng đi xa, dù người ta đã báo
trước, dù gập ghềnh gian nan. Vào được trong nước
là mãn nguyện rồi." Nay thì đã vào được.
Nhiệm vụ cốt yếu là nhiệm vụ tôn giáo. 15 triệu
dân Thổ kể như toàn tòng Hồi Giáo. Trước đây có
một thiểu số người Armenia rất thành tâm gắn bó
với Ðạo Ki-tô, có văn hóa và truyền thống đậm
bản sắc Ki-tô giáo. Nhưng Thổ và Armenia là hai dân
tộc đối nghịch. Người Thổ ra sức đàn áp, hành hạ
người Armenia. Trong Thế Chiến thứ nhất, một cuộc
diệt chủng thật sự đã xảy ra. Mấy trăm ngàn
người Armenia bị hạ sát. Ai may mắn thoát chết thì
hoảng sợ tìm đường chạy ra nước ngoài. Nhóm Armenia
tan biến, cộng đồng Ki-tô hữu càng trở nên đàn
chiên bé nhỏ. Tòa Thượng Phụ Constantinopoli cho đến thế kỷ 15, là
trung tâm của Chính Thống Giáo. Ngày nay, các cộng
đồng Chính Thống rải rác trên thế giới, từ Trung
Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc, Tân-tây-lan vẫn quy phục
Ðức Thượng Phụ ở đây. Nhưng trong nước Thổ,
Ðức Thượng Phụ, từ trong cung điện Phanar nổi tiếng,
chỉ cai quản khoảng 100.000 Giáo Dân. Ðàn chiên của Ðức Cha Roncalli lại càng nhỏ bé.
Là Khâm Mạng Tòa Thánh, ngài kiêm nhiệm sứ mạng
Giám Quản cộng đồng Công Giáo theo nghi lễ La-tinh,
35.000 người trong khắp nước. Số Công Giáo theo các
nghi lễ Ðông Phương còn ít hơn. Nhà Thờ Chính Tòa
dâng kính Chúa Thánh Thần chỉ là một Giáo Ðường
nhỏ, rất tối. Không biết duyên nợ thế nào Ðức Cha
Roncalli lại có một anh hầu phòng có tay nghề chạm gỗ.
Tự tay anh này chạm trổ cho Ðức Cha ngai Giám Mục
đặt trên Cung Thánh. Ngoài ra, người Công Giáo La-tinh
còn có 21 Nhà Thờ, một Chủng Viện. Các Dòng Tu khá
đông. Một Giáo Hội nhỏ nhưng rất sống động và đã
bám rễ sâu trong đất nước Hồi Giáo này. Ðức Cha
có vẻ hài lòng vì công việc ở đây đúng là "công
việc của Linh Mục và Giám Mục." Khi ở Sofia, Ðức Cha đã học tiếng Bulgarie, nghe
người ta nói và đọc sách báo được. Sang Istanbul
lại học tiếng Thổ. Ngày ấy Giáo Hội Công Giáo trong
mọi lễ nghi chuyên đọc kinh và hát bằng tiếng La-tinh.
Hay và đẹp tuyệt vời. Có điều nhân dân không hiểu,
dân Thổ xa lạ với Ðạo Ki-tô lại càng không hiểu.
Một Chúa Nhật, Giáo Dân đi Chầu Thánh Thể bỡ ngỡ
nghe Ðức Cha yêu cầu họ lặp lại theo ngài những
lời kinh đã dịch ra tiếng Thổ: "Chúng con xin
chúc tụng Chúa," mọi người ồm oàm đọc theo: "Tamre
Mubarek Olsun." Công việc dịch kinh không thiếu khó
khăn. Muốn dịch "lạy Chiên Thiên Chúa," nhưng
người Thổ chỉ biết cừu thôi. Cừu già hay cừu non
cũng chỉ là cừu. Vậy "Agnus Dei" là "lạy
cừu của Allah" nghe không ổn tí nào v.v... Các bộ ở Vatican chau mày. Vị Khâm Mạng này đổi
mới nhiều quá. Chắc là Bộ Giáo Hội Phương Ðông
có ý kiến. Ðức Cha Roncalli lại viết thư về nhà: "Tôi
nhận thấy cách tôi đánh giá tình hình tại chỗ với
cách nhìn cùng một vấn đề từ Roma còn cách xa nhau.
Tôi buồn phiền lắm. Duy chỉ có điều ấy thật sự là
Thập Giá của tôi !" Ngày 13.6.1935, ông Atarik quyết định: Thổ-nhĩ-kỳ là
một quốc gia thế tục, vậy thì khi ra khỏi Nhà Thờ hay
Tu Viện, các giới tôn giáo không được mặc tu phục.
Ngày đó, Linh Mục Tu Sĩ không quen mặc thường phục.
Có những Tu Viện phát hoảng. Ðức Cha Roncalli điềm
tĩnh: "Mặc áo thâm chùng hay mặc quần tây thì
có quan hệ gì đâu, miễn là chúng ta loan báo Lời
Chúa." Ngài tập họp hàng Giáo Sĩ và cử hành
một Thánh Lễ. Lễ xong, mọi người từ trong Nhà Thờ
bước ra thì đã thành người đời cả. Ðức Khâm
Mạng người tròn trịa, chiếc áo khoác ngoài chật
căng, trông khác lạ. Soi gương tự mình lại bật
cười mình... Ðức Cha Roncalli viết thư về nhà thăm các chị em
gái: "Tôi sống với người Thổ ra sao thì chị em
biết rồi đấy. Nhưng với người Hy-lạp lại càng khó
hơn." Vì Ðức Cha kiêm nhiệm chức vụ Khâm
Mạng Tòa Thánh ở Hy-lạp. Hy-lạp và Thổ-nhĩ-kỳ tiếp
giáp nhau. Nhưng từ Thổ sang Hy, là từ Á sang Âu, từ
Ðông sang Tây. Hy-lạp chính là cái nôi của nền văn minh Phương
Tây. Trước công nguyên bảy thế kỷ, ở đây đã
có một nền văn minh rực rỡ nhất thế giới. Ngày
nay các học giả Phương Tây vẫn tiếp tục say mê thi ca,
văn học, triết học, nghệ thuật Hy-lạp. Người ta vẫn
tìm về ngọn đồi Acropolis trông xuống thủ đô Athêna,
không chỉ để chiêm ngưỡng kiến trúc và nghệ thuật,
mà như tìm về cội nguồn nhân bản sáng rực của mình. Từ Acropolis nhìn sang phía Tây thấy đồi Arê, chính
là nơi Thánh Phao-lô đã dừng chân trong chuyến đi
truyền giáo lần thứ hai: "Kính thưa quý vị
người Athêna, xét về mọi mặt, tôi nhận thấy quý
vị rất mực sùng tín. Vì ngang qua đây, tôi ngước
mắt nhìn các nơi thờ tự thì đã thấy một tế đàn
có hàng chữ khắc: Kính Thần Vô Danh. Vậy Ðấng các
vị không biết nhưng có thờ kính, thì này tôi xin loan
báo về Ngài..." (Cv 17, 22 - 23). Lần ấy Thánh
Phao-lô giảng có kết quả, nhưng không nhiều, mặc dù
đã cố gắng vận dụng thi ca Hy-lạp trong lời rao giảng.
Dù sao, dòng chảy của Tin Mừng từ Phương Ðông đã
quanh qua Phương Tây, vì như sách Công Vụ nói, lần này
"Thánh Thần ngăn cản không cho giảng Lời ở
Tiểu Á" và "Ban đêm, Phao-lô thấy thị
kiến: một người Makêdonia đứng khấn xin với ông
rằng: hãy qua Makêdonia cứu giúp chúng tôi... Chúng
tôi tìm cách trẩy đi Makêdonia, vì hội ra được là
chính Thiên Chúa đã gọi chúng tôi đến rao giảng Tin
Mừng cho họ" (Cv 16, 6 - 10). Makêdonia chính là vùng nội địa Ðông Bắc Hy-lạp.
Còn những thành phố ven biển thì đã trở nên những
danh xưng quen thuộc với những ai đọc Tân Ước nhờ
những mối quan hệ thư từ của Thánh Phao-lô: Philip,
Thessalonikê, Corintho... Trong suốt những thế kỷ đầu,
tiếng Hy-lạp là ngôn ngữ thông dụng và chính thức
của Giáo Hội. Thành ra ngày nay không thể nghiên cứu
Tân Ước hay cổ sử Giáo Hội, hay các Giáo Phụ mà
không động đến cổ ngữ Hy-lạp. Cũng như ở Tiểu Á,
Giáo Hội ở đây sau thời cấm cách đã có một giai
đoạn huy hoàng mà kinh đô Constantinopoli là một biểu
hiện. Nhưng cũng như Tiểu Á, vùng Hy-lạp dưới sự điều
động của Thượng Phụ Constantinopoli đã đoạn tuyệt
với Roma. Giáo Hội chia thành Công Giáo và Chính Thống
Giáo từ đó. Qua thế kỷ 14, người Thổ đã chiếm
Tiểu Á và Hy-lạp rơi vào quyền đô hộ của
Thổ-nhĩ-kỳ. Tiểu Á thành đất của người theo Ðạo
Hồi, nhưng dân Hy-lạp thì vẫn gắn bó với Chính Thống
Giáo. Phải gần 400 năm sau, khi đế quốc Thổ đã suy
yếu, và với sự giúp đỡ của các nước Tây Âu,
Hy-lạp mới dành lại được độc lập, lấy Chính
Thống Giáo làm quốc giáo. Ðứng về mặt địa lý, việc Ðức Cha Roncalli, nhiệm
sở ở Istanbul, kiêm nhiệm luôn chức Khâm mạng Tòa
Thánh ở Hy-lạp là điều dễ hiểu: cả hai nước đều
có rất ít người Công Giáo và lại tiếp giáp với
nhau. Nhưng về mặt lịch sử và tâm lý, sự kiêm
nhiệm này không khỏi có điểm tréo ngoe. Một bên là
cựu đế quốc, một bên là cựu chư hầu, quan hệ
không lấy gì làm thân thiện. Ðể đi từ Thổ sang
Hy-lạp, thủ tục chiếu khán khá nhiêu khê. Vị tiền
nhiệm của Ðức Cha Roncalli là Ðức Cha Margotti, giải
quyết vấn đề bằng cách chọn những lộ trình vòng vo,
để vào Hy-lạp bằng những đường khác, không qua
cửa khẩu biên giới Hy - Thổ, chẳng khác nào lẻn
vào Hy-lạp không xưng danh tính. Thế nhưng vào trong
nước rồi, ngài lại cắm cờ Vatican lên xe hơi rất
đường bệ. Nhà cầm quyền Hy-lạp không khỏi phật
lòng. Ðức Cha Roncalli chọn một đường lối khác. Ngài
xử sự như người dân thường. Bốn tháng sau khi
đến Thổ, ngài xin chiếu khán du lịch để vào Hy-lạp
một tuần lễ. Vừa bước chân vào đất Hy-lạp, liền
có trinh sát theo dõi. Hy-lạp đã không thân thiện
với Thổ-nhĩ-kỳ, những diễn biến sau Thế Chiến lại
càng làm cho tình hình thêm căng thẳng. Trong Thế Chiến,
phe thân đồng minh Pháp - Anh - Mỹ chiếm được chính
quyền ở Hy-lạp. Hy-lạp thành nước chiến thắng.
Thổ-nhĩ-kỳ ngả theo hai đế chế Trung Âu là Ðức -
Áo thành nước chiến bại. Sau Thế Chiến, hai nước
tranh chấp đất đai và lại đánh nhau trong hai năm ( 1922
- 1924 ). Theo Hiệp Ước Locarno và Ankara ( 1925 ), một
triệu người Hy-lạp rời Thổ-nhĩ-kỳ về nước, và
300.000 người Thổ cũng rời Hy-lạp về nước. Trong số
người Hy-lạp hồi hương, có một nhóm Công Giáo trở
về đất nước hầu như toàn tòng Chính Thống. Sự
xuất hiện của nhóm Công Giáo trong số kiều bào hồi
hương, tuy chẳng nhiều nhặn gì, nhưng vẫn khiến cho dân
Chính Thống khó chịu và nghi kỵ. Vừa là Khâm Mạng Tòa Thánh ở Thổ, vừa là thủ
lãnh Công Giáo, Ðức Cha Roncalli bị theo dõi cũng là
điều dễ hiểu. Ðức Cha hiểu rất rõ tình thế này.
Ở Athêna một tuần, ngài cư xử rất thận trọng.
Toàn thời gian dùng để tiếp xúc với các Giám Mục
Hy-lạp. Và đúng hạn một tuần, ngài trở về Thổ.
Lại một lần nữa, cung cách Roncalli tạo ấn tượng. Sau
tuần lễ đó, chính quyền Hy-lạp không còn nghi ngờ gì
nữa. Ðức Cha Roncalli được phép vào Hy-lạp bất kỳ
lúc nào, và ở lại bao lâu tùy ý. Trong mười năm,
ngài đi Hy-lạp mười chín lần, và cũng như ở các
nhiệm sở khác, ngài đã đi khắp nơi, đất liền cũng
như hải đảo, và đến thời Thế Chiến thứ hai, trở
nên người cứu đói được nhân dân không phân
biệt tôn giáo yêu mến. Trên bình diện tôn giáo, nhiệm vụ cũng tế nhị.
Hy-lạp là một quốc gia 6 triệu dân, theo Chính Thống
Giáo. Ký ức của người Hy-lạp về Công Giáo rất
xấu. Biến cố nhớ đời vẫn là cuộc Thập Tự Chinh
lần thứ hai vào thế kỷ 13. Mấy đoàn quân Công Giáo
từ Châu Âu viện cớ sang Ðất Thánh đánh quân Hồi
Giáo để chiếm lại Mồ Chúa, đã ngang qua Hy-lạp. Thật
ra, đây là những đoàn quân ô hợp và cực kỳ tham
tiền. Ði qua đế đô Constantinopoli, họ bị hớp hồn vì
cảnh giàu sang ở đây. Thế là Thánh Ðịa với Mồ
Chúa tan biến đi đâu mất. Cả tướng lẫn quân quay ra
cướp của trắng trợn, tàn phá kinh thành, và đánh
lộn lẫn nhau, và cuỗm châu báu về Châu Âu. Dẫu là
Công Giáo với Chính Thống, thì cũng là anh em Ki-tô
hữu với nhau, vậy mà... Thánh Bernard de Clairvaux là người nhiệt thành cổ võ
cho cuộc Thập Tự Chinh này, đã đau đớn biết bao vì
cái kết thúc thê thảm và ô nhục đó. Biết sao
được, người chiến sĩ hào hiệp trong óc của đấng
Thánh với con người võ biền ngoài đời là hai con
người khác nhau. Khi nào Giáo Hội tưởng rằng có
thể dùng vũ lực để bảo vệ quyền lợi, kể cả
quyền lợi chính đáng, thì vẫn hay rơi vào những cảnh
trớ trêu phản đạo như thế. Vụ việc này có một vị
trí khá đậm trong những lời tạ lỗi của Ðức Gio-an
Phao-lô 2 trong Năm Thánh 2000 vừa qua. Khi Ðức Cha Roncalli đến Hy-lạp (và cả ngày nay), ấn
tượng đó, cùng với mấy cuộc chiến tranh khác, vẫn
không chịu phai đi trong ký ức Chính Thống Giáo. Một
biến cố hắc ám, tự nó bị giới hạn trong không gian
và thời gian, có thể làm lu mờ biết bao nhân tố
tích cực khác. Nó đã cung cấp một mô hình, không
chính xác nhưng đơn giản và tiện lợi để người ta
nhìn mình. Bất công, nhưng thường tình. Người phục
vụ Giáo Hội trong hoàn cảnh đó đành phải lội
ngược dòng, lấy cái Tâm của mình để khắc phục
từng mối ác cảm. Chúa ban cho Ðức Cha Roncalli một tâm trạng không
hướng về những giận hờn lưu cữu. Cõi Tâm ấy có
đủ cởi mở và hồn nhiên để thấy cái hay, cái
tốt, cái dễ thương của người khác, dù người khác
đó không ưa mình. Càng ngày Ðức Cha càng thấy rõ
sự ngăn cách về mặt tín lý giữa người Chính
Thống và người Công Giáo không sâu thẳm đến nỗi
không thể vượt qua. Cũng một niềm tin vào Thiên Chúa
Ba Ngôi, vào mầu nhiệm Cứu Ðộ nơi Ðức Giê-su
Ki-tô chết và Phục Sinh, vào tác động của Thánh
Thần trong Giáo Hội. Cũng bảy phép Bí Tích, cũng hệ
cấp giáo quyền với các Giám Mục kế vị các Tông
Ðồ, cũng một lòng yêu mến đối với Ðức Mẹ Ma-ri-a.
chỉ có một trở ngại lớn: người Chính Thống không
nhìn nhận quyền bính tiên thượng của Ðức Giáo
Hoàng trong Giáo Hội. Có chăng là những chuyện cãi
cọ đã bị những nhân tố bên ngoài, nhiều khi rất
phàm tục, xen vào làm cho thêm cay cú. Ðức Cha đi thăm mấy đan viện Chính Thống nổi tiếng
ở Meteores, vùng Thessalia. Ngài hỏi Mình Thánh Chúa
đặt ở đâu. Vị Bề Trên Tu Viện cau có dẫn ngài
vào thâm cung, rõ ràng là miễn cưỡng mà hướng
dẫn, chỉ mong khách ra về sớm cho rảnh nợ. Nhưng khách
lại quỳ cầu nguyện hồi lâu, khi đứng lên thì nói: "Cũng
như các vị, tôi sùng kính Chúa hiện diện trong Bí Tích
Thánh Thể." Tháng 5.1936, Ðức Cha đến viếng thăm nơi danh địa
của Chính Thống Giáo: núi Athos. Trên ngọn núi cao 2.033
m, hai mươi Ðan Viện thành lập từ thế kỷ thứ 10
với hàng ngàn Ðan Sĩ, không kể những vị ẩn cư độc
tu trọn đời trong những hang động cheo leo trên sườn
núi, có khi chỉ liên hệ với bên ngoài bằng một
sợi dây thừng để kéo thực phẩm lên vách núi cao.
Trong thư gửi về thăm mẹ, Ðức Cha kể lại: "Trên
ấy cây cỏ đẹp tuyệt vời, nhưng khổ một nỗi là
chẳng có đường xá gì cả. Ði đâu cũng phải cưỡi
ngựa qua những lối mòn rất chênh vênh. Nhiều lần con
cứ phải cầu khấn Thánh Giu-se và các linh hồn trong gia
đình ta, xin cho đừng ngã ngựa, xưa nay con vẫn làm
thế. Mà đúng, con không ngã ngựa lần nào. Con ở
lại trên núi ba ngày, mỗi ngày ít là năm tiếng trên
mình ngựa hoặc trên mình la; cho nên xương cốt con rã
rời hết; đã thế, ăn uống lại kham khổ, đêm ngủ
nằm ngay mặt đất v.v..." Cùng một Chúa, một Ðức Tin, một Phép Rửa, một
Cha chung, mà con đường hiệp nhất lại quanh co tít mù.
Lòng người khó thế. Vẫn trong thư gửi các chị em
ruột ở quê nhà, Ðức Cha viết: "Người ở
đây dành cho tôi những lời nói ngon ngọt, nhưng đến
khi hành động thì chị em biết đấy, sao mà họ sợ
Ðức Giáo Hoàng quá! Cho nên tôi phải nhẫn nại. Mà
nên nhẫn nại quá mức thì hơn. Chỉ lỡ một lời là
hỏng hết!" Trong tình thế ấy, giả sử có tranh luận về Giáo
Lý thì cũng là cuộc đối thoại của những người
điếc. Chỉ có bao giờ đôi bên gỡ bỏ được những
ác cảm và thành kiến, đặt mình vào tâm trạng của
bên kia, biết quý trọng những mặt tích cực của nhau;
lại phải khiêm tốn nhận ra mình chưa ngang tầm với
những đòi hỏi của Tin Mừng và thú nhận những lỗi
lầm đã phạm trong lịch sử để sám hối và cầu
nguyện, lúc đó mới mong cái lý nội tại phát sinh
từ sự sống chân chính của Giáo Hội sẽ thẩm thấu
cuộc sống chung và làm tan loãng mối mâu thuẫn. Và
chắc là Tòa Thánh Công Giáo cũng cần tìm ra một cung
cách khác để thi hành quyền bính của Phê-rô. Ngày
nay, sau mấy chục năm nỗ lực đại kết, những nguyên
tắc trên đây hầu như đã được đôi bên công
nhận. Nhưng từ nguyên tắc đến thực tế còn nhiều
điểm nan giải. Còn hồi Ðức Cha Roncalli làm Khâm Mạng ở Hy-lạp,
đề cao những nguyên tắc ấy e rằng sẽ bị cả hai bên
lên án. Trong đời sống cộng đồng cũng như cá nhân,
có những nhận thức mà người ta chỉ đạt được sau
một quá trình dài trải nghiệm, cọ xát với những
góc cạnh của sự thật mà lúc thường mình không
ngờ tới. Một hôm Ðức Cha Roncalli nói đùa với một người
bạn Hy-lạp: "Tôi mà làm Giáo Hoàng lúc xảy ra
vụ ly khai, thì đã không có ly khai." Tưởng nói
vui thế, không ngờ gần ba mươi năm sau Ðức Cha làm
Giáo Hoàng thật. Xem chừng có những tiên tri không
hề biết mình là tiên tri. Năm 1959, Ðức Gio-an 23 triệu
tập Công Ðồng Vatican 2. Ðược hỏi đại diện các
Giáo Hội Ki-tô khác có được tham dự không, ngài
đáp, nếu các vị đại diện các anh em ly cách muốn tham
dự thì "phải đón tiếp tử tế, bởi vì Giáo
Hội vẫn là Nhà của các anh em ấy, họ đã bỏ đi xa
là do những thăng trầm trong lịch sử." Khi đón
tiếp các quan sát viên không Công Giáo, ngài nói: "Xin
anh em hãy đọc trong trái tim tôi. Anh em sẽ tìm thấy
nhiều điều hơn là những lời tôi nói." Và
Ðức Thượng Phụ Athenagoras của Tòa Constantinopoli, thốt
lên lời: "Có một người Thiên Chúa sai đến,
tên là Gio-an." Chỉ bấy nhiêu thôi đã là một chặng đường khá
dài. Và những trở ngại trước mặt vẫn còn khá
nặng, quan hệ mấy năm gần đây của Giáo Hội Công
Giáo với Chính Thống Nga, Ukraina, Hy-lạp, v.v... đã cho
thấy như thế. Cho nên trong những năm ở Hy-lạp, Ðức
Cha Roncalli không tranh luận. Ngài dựa vào chữ Tâm.
Hoạt động tích cực của ngài là nhằm phục vụ 50.000
người Công Giáo ở Hy-lạp, trong những giới hạn eo
hẹp mà chính quyền Hy-lạp dành cho họ. Ngài gia tăng
sự tiếp xúc với mọi người, dù họ theo nghi lễ La-tinh
hay Ðông Phương, hay là tín đồ Ðạo Chính Thống.
Phương châm là: "Hãy rất thân ái với mọi
người, dành tất cả sự quan tâm cho từng người." Như thế đã đủ để cảm thấy thời gian quá ngắn.
Ngài chỉ được ở yên từ 10 giờ đến 12 giờ mỗi
đêm. Chúa Nhật, sau Kinh Chiều, ngài thích dạy Giáo Lý
trong Nhà Thờ Chính Tòa Athêna. Mỗi khi có dịp, ngài
sang ngôi trường tư thục nhỏ gần bên Tòa Khâm Mạng,
nói chuyện thân tình như cha con với các học sinh... (còn tiếp) Trích từ Ephata Việt Nam 100 & 101 Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |