KỶ NIỆM 40 NĂM CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICAN II
 NHỚ VỀ ÐTC GIOAN 23 

(Kỳ 10)

Lm. Vũ Khởi Phụng, C.Ss.R.

Ðức Cha Roncalli viết thư về nhà thăm các chị em gái: "Tôi sống với người Thổ ra sao thì chị em biết rồi đấy. Nhưng với người Hy-lạp lại càng khó hơn." Vì Ðức Cha kiêm nhiệm chức vụ Khâm Mạng Tòa Thánh ở Hy-lạp. Hy-lạp và Thổ-nhĩ-kỳ tiếp giáp nhau. Nhưng từ Thổ sang Hy, là từ Á sang Âu, từ Ðông sang Tây.

Hy-lạp chính là cái nôi của nền văn minh Phương Tây. Trước công nguyên bảy thế kỷ, ở đây đã có một nền văn minh rực rỡ nhất thế giới. Ngày nay các học giả Phương Tây vẫn tiếp tục say mê thi ca, văn học, triết học, nghệ thuật Hy-lạp. Người ta vẫn tìm về ngọn đồi Acropolis trông xuống thủ đô Athêna, không chỉ để chiêm ngưỡng kiến trúc và nghệ thuật, mà như tìm về cội nguồn nhân bản sáng rực của mình.

Từ Acropolis nhìn sang phía Tây thấy đồi Arê, chính là nơi Thánh Phao-lô đã dừng chân trong chuyến đi truyền giáo lần thứ hai: "Kính thưa quý vị người Athêna, xét về mọi mặt, tôi nhận thấy quý vị rất mực sùng tín. Vì ngang qua đây, tôi ngước mắt nhìn các nơi thờ tự thì đã thấy một tế đàn có hàng chữ khắc: Kính Thần Vô Danh. Vậy Ðấng các vị không biết nhưng có thờ kính, thì này tôi xin loan báo về Ngài..." (Cv 17, 22 - 23). Lần ấy Thánh Phao-lô giảng có kết quả, nhưng không nhiều, mặc dù đã cố gắng vận dụng thi ca Hy-lạp trong lời rao giảng. Dù sao, dòng chảy của Tin Mừng từ Phương Ðông đã quanh qua Phương Tây, vì như sách Công Vụ nói, lần này "Thánh Thần ngăn cản không cho giảng Lời ở Tiểu Á" "Ban đêm, Phao-lô thấy thị kiến: một người Makêdonia đứng khấn xin với ông rằng: hãy qua Makêdonia cứu giúp chúng tôi... Chúng tôi tìm cách trẩy đi Makêdonia, vì hội ra được là chính Thiên Chúa đã gọi chúng tôi đến rao giảng Tin Mừng cho họ" (Cv 16, 6 - 10).

Makêdonia chính là vùng nội địa Ðông Bắc Hy-lạp. Còn những thành phố ven biển thì đã trở nên những danh xưng quen thuộc với những ai đọc Tân Ước nhờ những mối quan hệ thư từ của Thánh Phao-lô: Philip, Thessalonikê, Corintho... Trong suốt những thế kỷ đầu, tiếng Hy-lạp là ngôn ngữ thông dụng và chính thức của Giáo Hội. Thành ra ngày nay không thể nghiên cứu Tân Ước hay cổ sử Giáo Hội, hay các Giáo Phụ mà không động đến cổ ngữ Hy-lạp. Cũng như ở Tiểu Á, Giáo Hội ở đây sau thời cấm cách đã có một giai đoạn huy hoàng mà kinh đô Constantinopoli là một biểu hiện.

Nhưng cũng như Tiểu Á, vùng Hy-lạp dưới sự điều động của Thượng Phụ Constantinopoli đã đoạn tuyệt với Roma. Giáo Hội chia thành Công Giáo và Chính Thống Giáo từ đó. Qua thế kỷ 14, người Thổ đã chiếm Tiểu Á và Hy-lạp rơi vào quyền đô hộ của Thổ-nhĩ-kỳ. Tiểu Á thành đất của người theo Ðạo Hồi, nhưng dân Hy-lạp thì vẫn gắn bó với Chính Thống Giáo. Phải gần 400 năm sau, khi đế quốc Thổ đã suy yếu, và với sự giúp đỡ của các nước Tây Âu, Hy-lạp mới dành lại được độc lập, lấy Chính Thống Giáo làm quốc giáo.

Ðứng về mặt địa lý, việc Ðức Cha Roncalli, nhiệm sở ở Istanbul, kiêm nhiệm luôn chức Khâm mạng Tòa Thánh ở Hy-lạp là điều dễ hiểu: cả hai nước đều có rất ít người Công Giáo và lại tiếp giáp với nhau. Nhưng về mặt lịch sử và tâm lý, sự kiêm nhiệm này không khỏi có điểm tréo ngoe. Một bên là cựu đế quốc, một bên là cựu chư hầu, quan hệ không lấy gì làm thân thiện. Ðể đi từ Thổ sang Hy-lạp, thủ tục chiếu khán khá nhiêu khê. Vị tiền nhiệm của Ðức Cha Roncalli là Ðức Cha Margotti, giải quyết vấn đề bằng cách chọn những lộ trình vòng vo, để vào Hy-lạp bằng những đường khác, không qua cửa khẩu biên giới Hy - Thổ, chẳng khác nào lẻn vào Hy-lạp không xưng danh tính. Thế nhưng vào trong nước rồi, ngài lại cắm cờ Vatican lên xe hơi rất đường bệ. Nhà cầm quyền Hy-lạp không khỏi phật lòng.

Ðức Cha Roncalli chọn một đường lối khác. Ngài xử sự như người dân thường. Bốn tháng sau khi đến Thổ, ngài xin chiếu khán du lịch để vào Hy-lạp một tuần lễ. Vừa bước chân vào đất Hy-lạp, liền có trinh sát theo dõi. Hy-lạp đã không thân thiện với Thổ-nhĩ-kỳ, những diễn biến sau Thế Chiến lại càng làm cho tình hình thêm căng thẳng. Trong Thế Chiến, phe thân đồng minh Pháp - Anh - Mỹ chiếm được chính quyền ở Hy-lạp. Hy-lạp thành nước chiến thắng. Thổ-nhĩ-kỳ ngả theo hai đế chế Trung Âu là Ðức - Áo thành nước chiến bại. Sau Thế Chiến, hai nước tranh chấp đất đai và lại đánh nhau trong hai năm (1922 - 1924). Theo Hiệp Ước Locarno và Ankara (1925), một triệu người Hy-lạp rời Thổ-nhĩ-kỳ về nước, và 300.000 người Thổ cũng rời Hy-lạp về nước. Trong số người Hy-lạp hồi hương, có một nhóm Công Giáo trở về đất nước hầu như toàn tòng Chính Thống. Sự xuất hiện của nhóm Công Giáo trong số kiều bào hồi hương, tuy chẳng nhiều nhặn gì, nhưng vẫn khiến cho dân Chính Thống khó chịu và nghi kỵ.

Vừa là Khâm Mạng Tòa Thánh ở Thổ, vừa là thủ lãnh Công Giáo, Ðức Cha Roncalli bị theo dõi cũng là điều dễ hiểu. Ðức Cha hiểu rất rõ tình thế này. Ở Athêna một tuần, ngài cư xử rất thận trọng. Toàn thời gian dùng để tiếp xúc với các Giám Mục Hy-lạp. Và đúng hạn một tuần, ngài trở về Thổ. Lại một lần nữa, cung cách Roncalli tạo ấn tượng. Sau tuần lễ đó, chính quyền Hy-lạp không còn nghi ngờ gì nữa. Ðức Cha Roncalli được phép vào Hy-lạp bất kỳ lúc nào, và ở lại bao lâu tùy ý. Trong mười năm, ngài đi Hy-lạp mười chín lần, và cũng như ở các nhiệm sở khác, ngài đã đi khắp nơi, đất liền cũng như hải đảo, và đến thời Thế Chiến thứ hai, trở nên người cứu đói được nhân dân không phân biệt tôn giáo yêu mến.

Trên bình diện tôn giáo, nhiệm vụ cũng tế nhị. Hy-lạp là một quốc gia 6 triệu dân, theo Chính Thống Giáo. Ký ức của người Hy-lạp về Công Giáo rất xấu. Biến cố nhớ đời vẫn là cuộc Thập Tự Chinh thứ hai, thế kỷ 13. Mấy đoàn quân Công Giáo từ Châu Âu viện cớ sang Ðất Thánh đánh quân Hồi Giáo để chiếm lại Mồ Chúa, đã ngang qua Hy-lạp. Thật ra, đây là những đoàn quân ô hợp và cực kỳ tham tiền. Ði qua đế đô Constantinopoli, họ bị hớp hồn vì cảnh giàu sang ở đây. Thế là Thánh Ðịa với Mồ Chúa tan biến đi đâu mất. Cả tướng lẫn quân quay ra cướp của trắng trợn, tàn phá kinh thành, và đánh lộn lẫn nhau, và cuỗm châu báu về Châu Âu. Dẫu là Công Giáo với Chính Thống, thì cũng là anh em Ki-tô hữu với nhau, vậy mà...

Thánh Bernard de Clairvaux là người nhiệt thành cổ võ cho cuộc Thập Tự Chinh này, đã đau đớn biết bao vì cái kết thúc thê thảm và ô nhục đó. Biết sao được, người chiến sĩ hào hiệp trong óc của đấng Thánh với con người võ biền ngoài đời là hai con người khác nhau. Khi nào Giáo Hội tưởng rằng có thể dùng vũ lực để bảo vệ quyền lợi, kể cả quyền lợi chính đáng, thì vẫn hay rơi vào những cảnh trớ trêu phản đạo như thế. Vụ việc này có một vị trí khá đậm trong những lời tạ lỗi của Ðức Gio-an Phao-lô 2 trong Năm Thánh 2000 vừa qua.

Khi Ðức Cha Roncalli đến Hy-lạp (và cả ngày nay), ấn tượng đó, cùng với mấy cuộc chiến tranh khác, vẫn không chịu phai đi trong ký ức Chính Thống Giáo. Một biến cố hắc ám, tự nó bị giới hạn trong không gian và thời gian, có thể làm lu mờ biết bao nhân tố tích cực khác. Nó đã cung cấp một mô hình, không chính xác nhưng đơn giản và tiện lợi để người ta nhìn mình. Bất công, nhưng thường tình. Người phục vụ Giáo Hội trong hoàn cảnh đó đành phải lội ngược dòng, lấy cái Tâm của mình để khắc phục từng mối ác cảm.

Chúa ban cho Ðức Cha Roncalli một tâm trạng không hướng về những giận hờn lưu cữu. Cõi Tâm ấy có đủ cởi mở và hồn nhiên để thấy cái hay, cái tốt, cái dễ thương của người khác, dù người khác đó không ưa mình. Càng ngày Ðức Cha càng thấy rõ sự ngăn cách về mặt tín lý giữa người Chính Thống và người Công Giáo không sâu thẳm đến nỗi không thể vượt qua. Cũng một niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, vào mầu nhiệm Cứu Ðộ nơi Ðức Giê-su Ki-tô chết và Phục Sinh, vào tác động của Thánh Thần trong Giáo Hội. Cũng bảy phép Bí Tích, cũng hệ cấp giáo quyền với các Giám Mục kế vị các Tông Ðồ, cũng một lòng yêu mến đối với Ðức Mẹ Ma-ri-a. chỉ có một trở ngại lớn: người Chính Thống không nhìn nhận quyền bính tiên thượng của Ðức Giáo Hoàng trong Giáo Hội. Có chăng là những chuyện cãi cọ đã bị những nhân tố bên ngoài, nhiều khi rất phàm tục, xen vào làm cho thêm cay cú.

Ðức Cha đi thăm mấy đan viện Chính Thống nổi tiếng ở Meteores, vùng Thessalia. Ngài hỏi Mình Thánh Chúa đặt ở đâu. Vị Bề Trên Tu Viện cau có dẫn ngài vào thâm cung, rõ ràng là miễn cưỡng mà hướng dẫn, chỉ mong khách ra về sớm cho rảnh nợ. Nhưng khách lại quỳ cầu nguyện hồi lâu, khi đứng lên thì nói: "Cũng như các vị, tôi sùng kính Chúa hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể."

Tháng 5.1936, Ðức Cha đến viếng thăm nơi danh địa của Chính Thống Giáo: núi Athos. Trên ngọn núi cao 2.033 m, hai mươi Ðan Viện thành lập từ thế kỷ thứ 10 với hàng ngàn Ðan Sĩ, không kể những vị ẩn cư độc tu trọn đời trong những hang động cheo leo trên sườn núi, có khi chỉ liên hệ với bên ngoài bằng một sợi dây thừng để kéo thực phẩm lên vách núi cao. Trong thư gửi về thăm mẹ, Ðức Cha kể lại: "Trên ấy cây cỏ đẹp tuyệt vời, nhưng khổ một nỗi là chẳng có đường xá gì cả. Ði đâu cũng phải cưỡi ngựa qua những lối mòn rất chênh vênh. Nhiều lần con cứ phải cầu khấn Thánh Giu-se và các linh hồn trong gia đình ta, xin cho đừng ngã ngựa, xưa nay con vẫn làm thế. Mà đúng, con không ngã ngựa lần nào. Con ở lại trên núi ba ngày, mỗi ngày ít là năm tiếng trên mình ngựa hoặc trên mình la; cho nên xương cốt con rã rời hết; đã thế, ăn uống lại kham khổ, đêm ngủ nằm ngay mặt đất v.v..."

Cùng một Chúa, một Ðức Tin, một Phép Rửa, một Cha chung, mà con đường hiệp nhất lại quanh co tít mù. Lòng người khó thế. Vẫn trong thư gửi các chị em ruột ở quê nhà, Ðức Cha viết: "Người ở đây dành cho tôi những lời nói ngon ngọt, nhưng đến khi hành động thì chị em biết đấy, sao mà họ sợ Ðức Giáo Hoàng quá ! Cho nên tôi phải nhẫn nại. Mà nên nhẫn nại quá mức thì hơn. Chỉ lỡ một lời là hỏng hết !"

Trong tình thế ấy, giả sử có tranh luận về Giáo Lý thì cũng là cuộc đối thoại của những người điếc. Chỉ có bao giờ đôi bên gỡ bỏ được những ác cảm và thành kiến, đặt mình vào tâm trạng của bên kia, biết quý trọng những mặt tích cực của nhau; lại phải khiêm tốn nhận ra mình chưa ngang tầm với những đòi hỏi của Tin Mừng và thú nhận những lỗi lầm đã phạm trong lịch sử để sám hối và cầu nguyện, lúc đó mới mong cái lý nội tại phát sinh từ sự sống chân chính của Giáo Hội sẽ thẩm thấu cuộc sống chung và làm tan loãng mối mâu thuẫn. Và chắc là Tòa Thánh Công Giáo cũng cần tìm ra một cung cách khác để thi hành quyền bính của Phê-rô. Ngày nay, sau mấy chục năm nỗ lực đại kết, những nguyên tắc trên đây hầu như đã được đôi bên công nhận. Nhưng từ nguyên tắc đến thực tế còn nhiều điểm nan giải.

Còn hồi Ðức Cha Roncalli làm Khâm Mạng ở Hy-lạp, đề cao những nguyên tắc ấy e rằng sẽ bị cả hai bên lên án. Trong đời sống cộng đồng cũng như cá nhân, có những nhận thức mà người ta chỉ đạt được sau một quá trình dài trải nghiệm, cọ xát với những góc cạnh của sự thật mà lúc thường mình không ngờ tới.

Một hôm Ðức Cha Roncalli nói đùa với một người bạn Hy-lạp: "Tôi mà làm Giáo Hoàng lúc xảy ra vụ ly khai, thì đã không có ly khai." Tưởng nói vui thế, không ngờ gần ba mươi năm sau Ðức Cha làm Giáo Hoàng thật. Xem chừng có những tiên tri không hề biết mình là tiên tri. Năm 1959, Ðức Gio-an 23 triệu tập Công Ðồng Vatican 2. Ðược hỏi đại diện các Giáo Hội Ki-tô khác có được tham dự không, ngài đáp, nếu các vị đại diện các anh em ly cách muốn tham dự thì "phải đón tiếp tử tế, bởi vì Giáo Hội vẫn là Nhà của các anh em ấy, họ đã bỏ đi xa là do những thăng trầm trong lịch sử." Khi đón tiếp các quan sát viên không Công Giáo, ngài nói: "Xin anh em hãy đọc trong trái tim tôi. Anh em sẽ tìm thấy nhiều điều hơn là những lời tôi nói." Và Ðức Thượng Phụ Athenagoras của Tòa Constantinopoli, thốt lên lời: "Có một người Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-an."

Chỉ bấy nhiêu thôi đã là một chặng đường khá dài. Và những trở ngại trước mặt vẫn còn khá nặng, quan hệ mấy năm gần đây của Giáo Hội Công Giáo với Chính Thống Nga, Ukraina, Hy-lạp, v.v... đã cho thấy như thế. Cho nên trong những năm ở Hy-lạp, Ðức Cha Roncalli không tranh luận. Ngài dựa vào chữ Tâm. Hoạt động tích cực của ngài là nhằm phục vụ 50.000 người Công Giáo ở Hy-lạp, trong những giới hạn eo hẹp mà chính quyền Hy-lạp dành cho họ. Ngài gia tăng sự tiếp xúc với mọi người, dù họ theo nghi lễ La-tinh hay Ðông Phương, hay là tín đồ Ðạo Chính Thống. Phương châm là: "Hãy rất thân ái với mọi người, dành tất cả sự quan tâm cho từng người."

Như thế đã đủ để cảm thấy thời gian quá ngắn. Ngài chỉ được ở yên từ 10 giờ đến 12 giờ mỗi đêm. Chúa Nhật, sau Kinh Chiều, ngài thích dạy Giáo Lý trong Nhà Thờ Chính Tòa Athêna. Mỗi khi có dịp, ngài sang ngôi trường tư thục nhỏ gần bên Tòa Khâm Mạng, nói chuyện thân tình như cha con với các học sinh...

Theo lối nhìn thường tình thời gian, Thổ-nhĩ-kỳ và Hy-lạp giống như những vùng biên ải heo hút của Giáo Hội Công Giáo. Ðức Cha Roncalli vui lòng dồn hết tâm trí của mình cho đàn chiên nhỏ bé ở hai nơi ấy. Nhưng ở những nơi gần kề Trung Ương Giáo Hội, cơn khủng hoảng bi thảm đang vần vũ.

Trước hết là ở nước Ý, quê hương Ðức Cha. Trước khi đi nhận nhiệm sở Bulgarie, Ðức Cha đã nhận xét Mussolini không thể là cứu tinh của nước Ý, vì ông ta sử dụng những phương thế "gian tà và nghịch Tin Mừng." Thực tế mỗi ngày lại chứng minh thêm cho nhận xét đó, khiến cho nhiều người vỡ mộng. Sau mấy năm đầu lấy lòng người Công Giáo và Tòa Thánh nhằm mục tiêu an dân, bộ mặt thật của chế độ Phát-xít hiện nguyên hình. Nhà Nước, cụ thể là Mussolini, tự gán cho mình ngôi vị tuyệt đối, bất cứ cái gì khác sớm muộn đều phải lọt vào cơ cấu Nhà Nước. Ví dụ như Ðoàn Hướng Ðạo Công Giáo phải hòa vào đoàn Thanh Niên Phát-xít. Thôi thì chế độ như thế, Công Giáo tuy buồn phiền nhưng đành chịu. Nhưng đến khi Mussolini định "Phát-xít hóa" luôn phong trào Công Giáo Tiến Hành, thì Giáo Hội ở vào tình thế không thể nhượng bộ nữa.

Có cả một chiến dịch nói xấu và vu cáo Giáo Hội: phong trào Công Giáo Tiến Hành bị coi là một tổ chức chính trị, có chủ ý phá hoại Nhà Nước, hàng Giáo Sĩ thì là một bè lũ vong ân bội nghĩa. Chẳng bao lâu các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành của thanh niên và trí thức bị giải tán bằng vũ lực, có nhiều người mang thương tích.

Ðứng đầu Giáo Hội Công Giáo thời ấy là một vị Giáo Hoàng rất nhiệt thành, đồng thời cũng rất sáng suốt và rất thẳng tình: Ðức Pi-ô 11. Ngày 29.6.1931, Thông Ðiệp "Non Abbiamo bisogno" được công bố: Ðức Thánh Cha lớn tiếng tố giác từng điểm một trong các lời vu cáo; ngài vạch trần các vụ bất hạnh chống Giáo Hội. Ngài nói thẳng rằng đây không phải là một cuộc đấu tranh chính trị, mà là đấu tranh về đạo đức và tôn giáo. "Chúng tôi có chủ ý vạch rõ và lên án tất cả những gì ở trong chương trình và hành động của Ðảng Phát-xít mà chúng tôi đã thấy và xác định là trái với Giáo Lý và với Ðạo Công Giáo, và do đó, không thể dung hợp được với danh nghĩa và với Ðạo Công Giáo." Ðức Thánh Cha cô đọng những điều "không thể dung hợp" đó trong một phán quyết: "Ý thức hệ Phát-xít xét cho cùng, đúng là một sự tôn thờ Nhà Nước như kẻ ngoại đạo tôn thờ một ngẫu tượng."

Tình hình ở Ý còn đang căng thẳng, thì đến lượt Giáo Hội ở Ðức đi vào một giai đoạn bi đát.

Thất trận sau Thế Chiến thứ nhất, đế chế sụp đổ, nước Ðức đi vào một thời kỳ hết sức hỗn loạn. Sự cay cú bất mãn dọn đường cho một chế độ độc tài. Người hùng nảy sinh từ thời thế đó là quái nhân Adolf Hitler. Ðảng của Hitler, Ðảng Dân Tộc - Xã Hội ( National - Sozialist, viết tắt: Nazi, Việt Nam thường dịch là Quốc Xã ) với khẩu hiệu dân tộc - một đế chế - một lãnh tụ tập họp quần chúng. Hitler, con người lúc đầu có vẻ lập dị, hoang tưởng, lại tỏ ra một hấp lực kỳ lạ đối với quần chúng. Những bài diễn văn trường giang, ông đọc như thể đang bốc cơn đồng thiếp, hớp hồn cử tọa. Tổ chức Quốc Xã, với đội ngũ quyết tâm, tạo ấn tượng một sức mạnh vô địch sẽ hồi sinh dân tộc và đất nước.

Ðứng trước hiện tượng cá nhân, chính trị, đại chúng đó, người Công Giáo phải làm gì? Gần một nửa thế kỷ, người Công Giáo Ðức có một chính đảng đại diện cho mình, là Ðảng Trung Dung (Zentrum). Ðảng Trung Dung đã từng lập được nhiều công nghiệp vẻ vang. Sau Thế Chiến, đa số các thủ tướng Ðức cũng thuộc đảng này. Năm 1932, 20 triệu người Công Giáo vẫn bỏ phiếu cho Ðảng Trung Dung. Nay đứng trước một trào lưu vũ bão xem ra không có gì ngăn cản được, Trung Dung toan tính gia nhập phong trào, hy vọng sự có mặt của mình sẽ làm cùn những khuynh hướng phản đạo của Quốc Xã. Tư tưởng Quốc Xã thượng tôn đến mức tuyệt đối về chủng tộc, huyết thống, và vũ lực đúng là mâu thuẫn với Tin Mừng. Vả lại khi ấy chế độ Quốc Xã chưa có, bản chất độc tài của nó chưa lộ nguyên hình. Năm 1933, Ðảng Trung Dung cùng nhiều đảng khác ở Quốc Hội biểu quyết trao toàn quyền cho Hitler trong 4 năm.

Ở Tòa Thánh, Ðức Pi-ô 11 rất lo lắng cho Giáo Hội Ðức. Cùng với Hồng Y Quốc Vụ Khanh Pacelli (sau này là Ðức Pi-ô 12), Ðức Thánh Cha xét rằng trong giai đoạn mới này cần có những bảo đảm cho Giáo Hội. Một Thân Ước được ký kết với Hitler năm 1933. Nhà Nước công nhận những quyền thiết yếu của Giáo Hội, bù lại Nhà Nước có quyền can thiệp vào sự chỉ định các Giám Mục, và các Giám Mục phải tuyên thệ trung thành với chế độ. Sau này người ta sẽ trách cứ Thân Ước này đã ru ngủ lương tâm người Công Giáo và trói tay các Giám Mục, mà vẫn chẳng thu được lợi gì, vì Hitler liên tục vi phạm.

Thật ra không cần phải đợi lâu. Vừa sang năm 1934, bản chất tàn bạo của Hitler đã bộc lộ không sao chối cãi được. Ðêm 30.6.1934 còn ghi lại mãi trong lịch sử dưới tên gọi "Ðêm Trường Ðao." Ðêm ấy Hitler cho ám sát những lãnh tụ nào của Ðảng Quốc Xã đã không có ý phục tùng ông ta. Cùng bị ám sát trong đêm ấy là ba thủ lãnh của phong trào Công Giáo Tiến Hành ở Ðức: Klausener, Probs, Fritz Beek. Và từ đó các tổ chức tôn giáo và báo chí Công Giáo bị áp bức một cách có hiệp thông. Và không biết từ đâu nẩy ra nhiều vụ các Giáo Sĩ bị lôi ra xử trước tòa án, tội lỗi toàn là "sống vô luân""tình dục bệnh hoạn." Chính sách bài Do-thái cũng nổi rõ.

Năm 1937, nhiều Giám Mục Ðức lên tiếng. Ðức Hồng Y Bertram, Tổng Giám Mục Breslau, nhận định: "Trong mọi vùng nước Ðức, những người thù nghịch với Ðạo Ki-tô đã lớn tiếng. Họ kêu gào rằng Ðạo Ki-tô không còn lý do hiện hữu, Ðạo không thích hợp với những người Ðức chân thành. Ðạo Ki-tô đã thành bất động, bị chôn vùi dưới những đổ vỡ của chính mình. Giáo Hội sụp đổ như một lâu đài bằng giấy."

Ðức Cha Groeber, Tổng Giám Mục Freiburg-en-Brisgau đặt ra từng loạt câu hỏi: "Chẳng lẽ nhân dân và tổ quốc ta có thể mong chờ rằng một tôn giáo mới, dựa trên những quan niệm còn đang dậy men và chưa được thử thách, và theo chúng tôi nghĩ, hoàn toàn không có một cơ sở nào vững chắc, mà lại được Thiên Chúa chúc lành ư ? Chẳng lẽ những kẻ thù của Ðạo Ki-tô có thể ngang nhiên tung vào giữa nhân dân Ðức từng khối chất liệu tuyên truyền xách động, trong khi chính chúng tôi... bị ngăn chặn không thể chuyển các văn thư chính thức đến các Giáo Dân trong địa phận của mình ?"

Ðức Cha nhắc đến chiến dịch bôi nhọ hàng Giáo Sĩ Công Giáo, và những đàn áp đối với các công dân Công Giáo... Ðức Cha Simon Konrad, Giám Mục Passau khẳng định: "Với sức mạnh vô địch của Thánh Danh Giê-su, chúng ta muốn tiến vào tương lai đen tối và nặng trĩu lo âu... Có thể rằng các Linh Mục chúng ta phải có một tinh thần hy sinh to lớn phi thường để kiên trung trong mọi hoàn cảnh với Chúa Cứu Thế."

Thì ra tuyên thệ trung thành với chế độ không có nghĩa là cúi đầu vâng dạ mọi điều chế độ truyền khiến. Trung thành nghĩa là phải nói sự thật.

Ngày Lễ Lá 21.3.1937 xảy ra một sự kiện gây chấn động. Một thông điệp của Ðức Giáo Hoàng Pi-ô 11, viết trực tiếp bằng tiếng Ðức, với sự tham gia góp ý và soạn thảo của vị Hồng Y người Ðức Faulhaber, mở đầu bằng mấy từ "Mit Brennender Sorge" đã được đưa lén vào nước Ðức và đúng ngày Lễ Lá, tất cả các Nhà Thờ Công Giáo ở Ðức nhất loạt tuyên đọc. Vị Giáo Hoàng đã bắt đầu lâm trọng bệnh, dùng những lời lẽ sắt đá để nói với con cái mình vào thời điểm "Ðức Tin của anh chị em đang bị thử thách như lửa thử vàng, do những gian nan và bách hại, cả công khai lẫn nham hiểm, thời điểm mà quyền tự do tôn giáo của anh chị em đang bị vây đánh muôn ngàn cách."

Tiếp theo là một loạt những lời phi bác tư tưởng Quốc Xã một cách đanh thép: "Bất kỳ ai đồng hóa Thiên Chúa với trời đất này, hạ Thiên Chúa xuống ngang tầm với thế giới này, hay nâng thế giới này lên ngang tầm Thiên Chúa, đều không phải là người tin vào Thiên Chúa... Bất kỳ ai rêu rao là trở về với quan niệm của người Ðức cổ trước Chúa Ki-tô, để đặt một định mệnh u ám và vô ngã để thay cho ngôi vị Thiên Chúa... đều không thể coi mình như thuộc về số những người có Ðức Tin vào Thiên Chúa... Bất kỳ ai lấy nòi giống, chủng tộc, hay Nhà Nước, hay hình thái Nhà Nước, hay những người cầm quyền, hay bất cứ giá trị cơ bản nào của cộng đồng nhân loại, rồi tách các khái niệm đó ra khỏi nấc thang giá trị, kể cả giá trị tôn giáo, và rồi dựng các khái niệm đó làm thần tượng để tôn thờ mê tín, thì đều làm đảo lộn và sai chệch trật tự của vạn vật như Thiên Chúa đã truyền phán và tạo dựng..."

Ðức Thánh Cha nhắc lại tinh chất của Tín Lý về Thiên Chúa, về Ðức Ki-tô, về Hội Thánh. Ngài nhắc lại những điều các Giám Mục Ðức đã tố cáo về chính sách đàn áp các tín hữu để xúi người ta bỏ Ðạo. Ngài kêu gọi mọi thành phần trong Giáo Hội, Giới Trẻ, Giáo Sĩ, Tu Sĩ, Giáo Dân can đảm công bố Lời Chúa. Ngài gửi lời chào "đám đông vô số con trai, con gái, mặc dù Giáo Hội ở Ðức đang đau khổ, và chính bản thân họ cũng đang đau khổ, nhưng lòng tận tụy với Thiên Chúa không hề suy suyển." Ngài nói đã cân nhắc từng lời của thông điệp này trong cán cân của chân lý và tình yêu.

Dư luận khắp nơi cho rằng Ðức Pi-ô 11 đã đối đầu trực diện với Hitler. Ở Ðức, phản ứng của báo Voelkische Beobachter, cơ quan ngôn luận của Ðảng Quốc Xã, ngày 22.3.1937, như xác nhận tất cả những điều Ðức Thánh Cha đã nói: "Sự trung thành phải là một đòi hỏi đạo đức tuyệt đối trên bình diện các giá trị tuyệt đối như Thượng Ðế, quốc gia, chủng tộc, danh dự, và những người nào là hiện thân bất biến của các giá trị ấy. Còn sự trung thành với các giá trị phụ tùy, hay thay đổi, thì tự bản chất vốn là tương đối và có khi trở nên nguy hiểm và vô luân. Sự trung thành với một hiệp ước cũng vậy..."

Nói cách khác, Nhà Nước Ðức Quốc Xã không việc gì phải giữ những điều đã ký kết với Tòa Thánh. Nhiều tờ báo khác cho rằng Thông Ðiệp không liên quan gì đến tôn giáo cả, nhưng là một thủ đoạn chính trị chống nước Ðức. Theo luận điệu này, thì Hitler là nước Ðức, là dân tộc Ðức !

Ðúng là đã đến thời u ám cho những ai muốn trung thành đến cùng với Tin Mừng của Chúa Ki-tô. Nhiều người con đau khổ mà Thông Ðiệp "Mit Brennender Sorge" đề cao, sau này sẽ được người kế vị Ðức Pi-ô 11 là Ðức Gio-an Phao-lô 2 tôn phong.

Ít lâu sau, trong một lần nói chuyện riêng với Ðức Cha Roncalli, Ðức Pi-ô 11 giãi bày tâm sự: "Tôi không lo sợ gì về số phận Giáo Hội. Giáo Hội chỉ yêu cầu một điều, là được tự do. Tôi biết rõ lắm đấy chữ, về những điều có thể dành cho Giáo Hội: đau buồn, cấm cách... Nhưng rồi Giáo Hội sẽ vẫn nói tiếng nói cuối cùng, bởi vì Giáo Hội đã nhận được Lời Hứa của Chúa. Nhưng mà tôi tun sợ cho một số quốc gia ngày nay."

(còn tiếp)

Trích từ Ephata Việt Nam 100 & 101