|
|
TIẾNG KÊU CỨU
CỦA GIÁO HỘI Quang Việt
LỜI KÊU GỌI Ngày 25-7-2003 các Giám mục Tây phi đưa ra bản tuyên bố kêu gọi cộng đồng quốc tế can thiệp vào Liberia và Tây phi, đặc biệt với Hoa kỳ: "Chúng tôi, Tổng Giám Mục Michael Francis của Monrovia, Giám Mục Giorgs Biguzzi của Makemi (Sierra Leone) và Giám mục Patrick Daniel Korama của Kenam (Sierra Leone) cùng kết hợp trong một tiếng nói chung vào lúc có cuộc khủng hoảng để kêu gọi sự giúp đỡ của Hoa kỳ và các cộng đồng quốc tế nhằm tái lập hoà bình tại Liberia và toàn vùng Tây phi. Phải ngưng bắn, phải giải giới, phải có lực lượng gìn giữ hoà bình quốc tế là những tiến trình duy nhất để Liberia có thể bắt đầu đi đến hoà bình. "Chúng tôi nói lên tiếng nói của hàng triệu nạn nhân còn sống cũng như đã chết trong chiến tranh ở Tây Phi." Ngày Chúa Nhật 27-7-03 trong buổi đọc kinh truyền tin với Giáo hữu tại nhà nghỉ hè ở Castel Gandolfo, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II tha thiết kêu cứu cho dân lành Liberia : "Cuộc gặp gỡ hôm nay cũng là dịp thuận tiện để biểu lộ tình liên đới của chúng ta với những anh em Phi Châu, tại đó, nhiều tiến bộ và sáng kiến tích cực đem lại hoà bình, vẫn còn những lò lửa bạo lực, chém giết. Tôi muốn đặc biệt nói đến những tin tức bi thảm từ Liberia vọng về. Trước những thử thách cuả những dân tộc thân yêu anh em, chúng tôi yêu cầu tất cả những ai có vũ khí trong tay hãy bỏ xuống, tạo điều kiện cho công cuộc đối thoại và cho hành động của cộng đồng quốc tế." Những lời khẩn cầu cấp thiết trên đây xẩy ra trước hoàn cảnh quyết liệt của cuộc nội chiến kéo dài 14 năm rồi, (thực sự là nội chiến triền miên) khi mà các lực lượng phiến quân tiến như vũ bão bao vây thủ phủ của quốc gia: Monrevia và chỉ từ tháng 6 tới nay đã có trên 2000 thường dân thiệt mạng trên một đất nước dân số chỉ là 3.2 triệu. TẠI SAO LỜI KÊU GỌI ÐẶC BIỆT NÊU DANH HOA KỲ? Người ta thường nghĩ rằng Hoa kỳ là một siêu cường quân sự nên có đủ khả năng giúp cho các cuộc tranh chấp đẫm máu được dẹp tan. Người ta cũng thường nghĩ Hoa kỳ nhận mình như viên cảnh sát quốc tế, luôn luôn muốn cai trị thế giới. Ðối với Liberia, Hoa kỳ có liên hệ lịch sử đặc biệt. Nhiều năm trước khi tổng thống Abraham Lincoln giải phóng nô lệ (1865), người ta đã nhận thấy người nô lệ da đen trở thành vấn đề cho xã hội Hoa kỳ, nhất là tại miền Nam. Người chủ nô lệ muốn gởi họ về Phi Châu tại thuộc địa của Anh lúc đó là Sierra Leone. Do vậy năm 1816 họ đã thành lập tổ chức American Colonization Society. Công việc điều đình không xong. Năm 1821 Tổ chức American Colonization Society mua một phần đất của Sierra Leone thường được gọi là "Bờ Biển Ngũ Cốc" (Grain Coast) cho những người muốn "hồi hương" trú ngụ. Họ lấy tên của Tổng thống Hoa kỳ đương thời là James Monroe đặt cho khu đất mới này tức là Monrovia, thành phố đầu tiên và cũng là thủ phủ của vùng đất da đen Phi châu độc lập này. Nhóm "hồi hương" cũng chỉ gồm 20,000 người. Thổ dân địa phương không tin tưởng và chấp nhận những người mới định cư này vì tôn giáo và ngôn ngữ (Anh văn) của những người này là của nhóm thực dân đô hộ Châu Phi. Người bản địa gồm có 16 sắc tộc khác nhau, ngôn ngữ khác nhau. Năm 1841 chính quyền Hoa Kỳ chuẩn y hiến pháp cho xứ Châu Phi này và gọi đó là Liberia. Hoa kỳ cũng bổ nhiệm một viên thống đốc da đen ông Joseph J. Roberts. Năm 1847 những người hồi hương thành lập Quốc hội và tuyên bố là 1 quốc gia độc lập, bầu ông Joseph J. Roberts làm tổng thống luôn. Bản hiến pháp 1841 được duy trì cùng với lá cờ giống hệt cờ Hoa kỳ với 1 ngôi sao mà thôi. Những người hồi hương này trở thành một giai cấp thống trị, mặc dầu họ chỉ chiếm 5% dân số toàn quốc và họ cũng chẳng đem lại mấy tự do cho người dân bản xứ. Ðến nay, 45.000 người trong các chức vụ cai trị cũng đều là con cháu những người trở về từ Hoa kỳ. Họ làm thành một mạng lưới nối kết quyền lực khắp các thành phố quy tụ về thủ đô Monrovia. Năm 1926 hãng làm bánh xe hơi Firestone của Hoa Kỳ ký hợp đồng thuê đất tới 1 triệu acres để trồng cao su cung cấp cho nội địa Hoa kỳ. Toàn dân trở thành người làm công cho đồn điền. Năm 1931 Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hiệp Quốc) tố cáo chính quyền Liberia duy trì chế độ nô lệ và cưỡng bách lao công khiến cho cả tổng thống và phó tổng thống lúc đó phải từ nhiệm. Mặc dù vậy người gốc bản xứ vẫn bị những kẻ 'hồi hương" đối xử như những công dân hạng hai vì không có quyền bầu cử. Cuộc bầu cử tháng 5/1943 đưa Tổng thống William Tubman lên cầm quyền với nhiều cải cách kinh tế thu hút vốn đầu tư ngoại quốc. Kết quả cụ thể nhất là nhờ đầu tư ngoại quốc Liberia đã tìm ra được nhiều mỏ vàng trên núi Bomi, phía bắc Monrovia và khai thác thành công. Ðến cuộc bầu cử 1951 phụ nữ và những người gốc bản xử có tài sản được bỏ phiếu lần đầu tiên. Tổng thống Tubman đắc cử 7 lần. Tháng 5/1971 ông tái đắc cử , nhưng chỉ 2 tháng sau thì ông mất. Phó Tổng thống William R. Tobbert được đẩy lên thay thế.
HẬN THÙ VÀ NỘI CHIẾN Cho đến thời tổng thống Tolbert tất cả quyền hành đều nằm trong tay nhóm "Hồi hương" tức chỉ 5% dân số. Mầm mống bất mãn vọt nhanh do vụ giá gạo gia tăng vào tháng 4-1979. Tổng thống và bộ trưởng canh nông bị tố cáo là những người chủ nhiều ruộng lúa tăng giá gạo từ $22 lên $30/100 lb để lấy lời bất hợp pháp, quần chúng bị xúi dục, bất mãn, biểu tình. Tổng thống rước lính ngoại quốc từ Cộng hoà Guinea về giữ trật tự, sau khi quân đội sát hại 40 người biểu tình. Ngày 20-4-1980, một nhóm hạ sĩ quan quân đội gốc người bản xứ làm cuộc đảo chánh, tàn sát hầu hết các bộ trưởng và tổng thống của chế độ cũ. 13 người bị hành quyết ngày 22-4-1980 sau khi bị đối xử rất tàn tệ : lột hết quần áo, giày và điệu trên đường phố. 17 người tham dự đảo chánh thành lập "Hội Ðồng Cứu Nguy Dân Tộc" (People's Redemption Council) do Samuel Doe, một trung sĩ nhất cầm đầu và ông tự phong lên chức tướng cho mình. Người ta thường gọi họ là nhóm "Ám Sát Phương Ðông" vì tất cả các thành phần đảo chánh này đều thuộc các sắc dân miền Ðông Liberia. Samuel Doe cai trị từ 12-4-1980 đến 9-9-1990. Nhóm đảo chánh này bắt đầu thanh toán nhau cách dã man kể từ 14-4-1981 và cuối cũng chẳng còn ai sống sót vì chính Samuel Doe cũng bị hành hạ và phanh thây bởi các quân phản loạn thuộc nhóm Prince Johnson. Phe cánh của Samuel Doe phạm bao nhiêu tội ác do các bộ máy an ninh thực hiện chống lại đồng bào. Ðây là sự kiện điển hình : 7 giờ tối ngày 29-7-1990 hơn 200 binh sĩ của chính phủ xông vào nhà thờ Thánh Phêrô của Giáo hội Tin lành Lutêrô tại thủ đô Monrovia sát hại 600 thường dân vô tội đang lánh nạn chiến tranh và 150 người bị thương. Tổng thống Doe đứng nhìn tội ác giết thường dân. Ngoài tội ác đối với dân chúng, chính quyền của Samuel Doe còn mối oán thù với hai nước lân bang. Trong cuộc đảo chính 1980, phe nổi dậy đã giết chết A.B. Tolbert và cha của ông ta là Tổng thống Tolbert. A.B. Tolbert chính là con rể của tổng thống Felix Houphourt Boiguy xứ Côte d'Ivoire (Bờ Biển Ngà). Sau khi A.B. Tolbert chết, bà vợ ông là Daisy Delafosse-Tolbert lấy Ðại úy Blaise Compaore, chủ tịch nước Burkina Faso. Chính vì vậy xứ "Bờ Biển Ngà" đã chứa chấp một nhóm phản loạn nhỏ với tên là "Mặt Trận Quốc Gia Yêu Nước Xứ Liberia." Nhóm này cũng được huấn luyện tại nước Lybia của đại tá Kadaf Kadafi là người muốn lật đổ Samuel Doe vì coi ông này là tay sai của Hoa kỳ tại vùng Tây phi. Người cầm đầu nhóm này là một cựu viên chức của chính quyền Doe, hậu duệ của những người "Hồi hương" và từng theo học tại Ðại học Boston : Charles Taylor. Cuộc nội chiến bùng nổ vào 7 giờ tối ngày 24-12-1990, trước giờ lễ Giáng sinh. Ðến tháng 6-1990, lực lượng của Taylor chiếm hầu hết xứ Liberia, nhưng chưa vào được thủ đô Monrovia. Rồi sau đó nhóm của Taylor bị chia thành 2 phe. Ða số những người bộ lạc Gio đi theo tù trưởng của mình là Price Johnson chống lại Taylor và Doe. Taylor dựa vào bộ lạc Mano còn Doe dựa vào bộ lạc Krahn và Mandingo. Khi thủ đô sắp lọt vào tay phiến quân thì "Cộng Ðồng Kinh Tế Của Các Nước Tây Phi" đổ 5000 quân vào giữ hoà bình, nhưng Taylor không tin vào thái độ trung lập của tổ chức này. Vào tháng 9-1990, Doe đi thăm viên tướng chỉ huy của Lực Lượng Duy Trì Hoà Bình thì bị phe Prince Johnson bắt, hành hạ và giết. Chết. Johnson lập tức tuyên bố mình là Tổng thống. Nhưng tướng bảo vệ tổng thống là David Nimblay nhận chức vụ lãnh đạo cho phe Doe còn lại và liên kết với Johnson chống lại Taylor. Từ đây các phe phái mọc lên như nấm. Liberia thực sự là một xứ hỗn loạn. Ðến tháng 8-1995 Taylor, Johnson và tướng Alhaji Kromah lập thành một Hội Ðồng Cai Trị cùng với 3 phe phái nhỏ khác. Mỗi nhóm chiếm 1 tầng lầu trong toà nhà hành pháp.
Cuối cùng, các nước Tây Phi họp tại Abuja (Nigeria) đưa ra thoả hiệp Hoà bình II và ấn định cuộc bầu cử. Mặc dầu ngày bầu cử thay đổi nhiều lần nhưng rồi cũng thực hiện được vào ngày 14-7-1997 để đưa Charles Taylor lên làm tổng thống. Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc thì trong các cuộc bạo loạn này 2 triệu dân trong tổng số dân là 3.2 triệu phải bỏ nhà cửa chạy loạn, hơn 250.000 người dân vô tội phải bỏ mạng vì sự dã man của các phe nhóm, vì sự đói khát, thất nghiệp. Tổng thống Taylor lên cầm quyền qua cuộc bầu cử . Nhưng sau 6 năm trời ông vẫn không làm gì cho sự an sinh của đồng bào mình. Trái lại ông dùng tiền của do việc độc quyền khai thác tài nguyên của xứ sở để làm giầu cho bản thân và phe nhóm . Và nhất làgiúp các nhóm phiến quân lật đổ chính quyền của nước láng giềng Sierra Leone. Sự đã man của nhóm phiến quân được Liberia hậu thuẫn: nhóm "Mặt Trận Cách Mạng Thống Nhất" (RUF) nổi tiếng ác ôn trên thế giới. Taylor hưởng lợi do sự hỗ trợ nhóm phiến quân này: ông được khai thác kim cương trong vùng ảnh hưởng của RUF. Chính vì những tội ác của phe nhóm Taylor mà Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã 2 lần ra thông cáo cấm mua kim cương của Liberia và năm 2003 lại ra thêm thông cáo cấm mua gỗ xẻ của Liberia. Trong nước, Taylor có quá nhiều kẻ thù như nhóm được Guinea hậu thuẫn là nhóm "Nhân Dân Liberia Thống Nhất Ðể Hoà Giải Và Dân Chủ " (LURD), nhóm "Phong Trào Dân Chủ Cho Liberia (MODEL). Hai nhóm này, đến cuối năm 2002 đã chiếm được hầu hết lãnh thổ Liberia. Ðến tháng 6-03 Taylor lại bị Toà Án Quốc Tế lên án về tội tàn ác chiến tranh và nguyên thủ các quốc gia Tây Phi cùng đến Monrovia làm áp lực buộc ông Taylor trao quyền cho phó tổng Moses Blah. Ngày 11-8-03 ông đã rời bỏ quyền lực và bay sang Nigeria để sống lưu vong. SỰ ÐÓNG GÓP CỦA CON CHÚA CHO NỀN HÒA BÌNH LIBERIA Dân số Liberia có khoảng 3.2 triệu, trong số đó 40% theo tôn giáo cổ truyền , 40% dân số theo Thiên Chúa Giáo và Hồi giáo gồm 20%. Tuy nhiên người theo công giáo chỉ chiếm 7.5 % dân số. Khi rời bỏ Hoa kỳ về sinh sống tại Liberia, chỉ có một nhóm nhỏ từ tiểu bang Maryland là Công giáo; ngoài ra số còn lại là anh em Tin lành và họ có sẵn bộ phận truyền đạo trong giới bình dân. Khí hậu rất khắc nghiệt đối với người Âu da trắng: thay đổi từ 56 đến 105. Bệnh sốt vàng da đã trở nên kẻ thù giết người của dân da trắng. Bởi vậy công cuộc truyền giáo ở đây bị trở ngại lâu dài. Nhưng các vị đã hy sinh cả tấm thân mình cho nước Chúa. Ðại Công nghị 1833 của Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ tại Baltimore, tiểu bang Maryland, đề ra mục tiêu tìm hiểu cách thức vượt thắng khó khăn. Ngày 2-12-1841 phái đoàn từ Baltimore dương buồm đi Châu Phi giảng đạo. Nhưng chỉ đến năm 1843 (2 năm sau), 5 vị trong phái đoàn truyền giáo chết vì bệnh sốt vàng da. Rồi năm sau, 1843, hai vị còn lại cũng bị bệnh chết. Các cha dòng "Chúa Thánh Thần" cũng đến truyền giáo, cũng bị bệnh giết hại. Năm 1884 các cha "Dòng Maria" vào Liberia truyền đạo. Tổng thống của Liberia rất niềm nở đối với các cha truyền giáo nhưng các bộ trưởng thuộc các giáo phái khác thì cản trở các nhà truyền giáo mãnh liệt. Tuy nhiên đạo Chúa vẫn phát triển nhờ sự tiếp tay của các tu sĩ người pháp. Bởi vậy suốt 23 năm khó khăn vừa qua người dân Liberia sau khi bị tước đoạt hết của cải và chỗ ở đều đến tỵ nạn tại các cơ sở từ thiện, nhà thương Công giáo. Các nữ tu cố ở lại để bảo vệ các em mồ côi , người tỵ nạn, các bệnh nhân. Ðiều đáng nói nhất là những vận động hoà bình của Ðức Cha Michael Francis, Tổng giám mục Monrovia. Trong tháng 7-2003 ngài đã đích thân đến Hoa kỳ vận động với Tổng thống Bush, ông Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc : gởi quân sang Liberia và làm áp lực buộc chính quyền Charles Taylor ra đi. Ðó là một hành động hết sức can đảm vì khi trở về Monrovia, tính mạng của ngài không được bảo đảm. Ngài đã thành công: Taylor đã ra đi. Lực lượng Hoà bình đã tới. Ðiều thứ hai là hoạt động của Cộng Ðoàn Thánh Egidio kêu gọi các lực lượng Liberia ngưng bắn tức khắc. Chúng ta biết rằng hội nghị Hoà bình cho Liberia tại Ghana để đi đến kết luận "Tổng thống Taylor phải ra đi" là do sự dàn xếp của nhóm giáo dân tích cực hoạt động này. Nay thì Taylor đã ra đi, quân đội Hoakỳ đã vào Liberia để yểm trợ cho lực lượng duy trì hoà bình của các nước Tây Phi. Hy vọng ngày mai an bình cho phần đất Phi Châu đói khổ này. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu |