TỰ THUẬT

(Kỳ 39)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

 

Từ ngày ấy Cha Maillet cứ ngày một xa con. Và đang khi ấy, người đã lắng tai nghe bà Nhất gièm chê con một cách quá đáng. Cho đến một ngày, người không thể cầm cự nổi với cái ý tưởng xấu về con nữa, cho nên ở đâu hễ có điều gì khó chịu với con, là người cũng cứ giậm chân, múa tay mà la ó lên rằng:

- Nó giả hình! Thằng khốn nạn! Nó giả hình quá sức!... K’ốn nạn! K’ốn nạn!...

Sau mỗi lần ấy con lại phải vào phòng người mà phân tỏ ra mọi cách con vẫn trung thành với người và tín nhiệm người hết sức. Nhưng con cũng cương quyết sẽ không vào dòng thánh Ða-minh, và con cũng không nói con dự định đi dòng Chúa Cứu thế, vì chị Thánh Têrêsa bảo: Ðừng nói.

Do đó cha Maillet đã bảo con đã ra hư hỏng mất rồi. Người không tin con trong bất cứ một lời nhỏ mọn nào; lại bao nhiêu công việc người đã giao cho con, người điều cất hết, và coi con như một người rưng nước lã. Một đôi khi có nói đến con người chỉ múa tay mà than lớn:

- Trời ơi ! nó khốn nạn! Nó giả hình! Nó là thằng mê ăn uống!...

Không nói, chắc cha cũng có thể hiểu được tâm tình con trong cơn chua xót ấy. Ngày nay con chỉ biết đến trước nhà tạm mà bày giãi nỗi lòng ra với Giêsu Thánh Thể, và đến bên Ðức Mẹ để che giấu dòng lệ.

Cực nhất cho con là những khi thắc mắc cần phải có Têrêsa giải đáp cho, mà chị cứ yên lặng một cách chẳng thiết gì đến con, để con trăm bề bôn chôn áy náy, mà chẳng biết cùng ai than thở.

Chén sầu Chúa trao cho con uống trong thời gian này, tưởng nó mỗi ngày một vơi. Nhưng trái lại, càng những lúc con tưởng đã đến cặn, thì nó lại đầy lên một cách hơn thường.

Trong ba tháng dòng dã, con chịu nuốt lệ lặng thinh trước những vũ lực của hỏa ngục tấn công. Con tưởng như mình không còn cần ở lại đây lâu nữa. Con liền đánh bạo đến xin cha Maillet cho con về. Nhưng cha Maillet chỉ trả lời cho con bằng những cái nhún vai "bộ trọng" nghĩa là không còn gì mỉa mai hơn. Từ đây cho đến ngày cha Maillet cho con đi là một tuần. Chúa lại cho phép sóng gió nổi lên hết sức mạnh mẽ. Con có thể nói, giá không nhờ quyền phép Chúa chở che, con đã ngã lòng từ lâu.

Cho đến ngày con ra đi là ngày thứ ba đầu tháng 6 dương lịch. Chính hôm đó con cũng chẳng ngờ rằng mình được đi. 9 giờ sáng hôm ấy con đến xin tiền cha Maillet để ra chợ cắt tóc (0.25). Vì đã hai tháng nay đầu con như cái rừng sậy mà con không được cắt. Mọi khi cha Maillet vẫn giữ đặc quyền cắt tóc cho chúng con, với cái mốt riêng của người, nghĩa là húi trọc như sọ dừa khô. Người sợ chúng con để tóc rẽ thì các cô mụ phải "lòng động, lòng lo" nên người cứ bắt chúng con phải để trọc như mấy ông sư, người cho như vậy là nết na và xứng đáng nhất.

Trái lại, chúng con thì không chịu được thế, cả về luân lý lẫn vệ sinh. Vì mỗi lần hớt tóc theo kiểu cha Maillet là chúng con bị sổ mũi đến hằng nửa tháng. Phần ấy chúng con cũng đã thân bày ra với cha Maillet rồi, nhưng người cứ cố ghép cho chúng con là chỉ muốn làm dáng cho các cô mụ chú ý, nên đã vịn vào những lẽ giả dối để lòe cha.

Lần này, con nhất đinh không chịu, con đến nói rõ ràng cho cha Maillet biết con không thể chịu được với cái điều kiện bắt phải cạo đầu trọc thì mới tu được. Và nếu cha không cho tiền để cho thợ cắt tóc cho con một cách tử tế, thì con nhất định cứ để cái đầu con bù xù như thế cho đến khi nào con được về nhà thày mẹ con.

Cha Maillet thấy con cứng rắn như thế, người sấn sổ lại gần con, vừa quát tháo om sòm:

- T’ằng K’ốn nạn! t’ằng k’ốn nạn này kiêu ngạo quá sức à !... Mày muốn cha phải giết con hay sao? K’ốn nạn! K’ốn nạn!

Rồi người vào trong nhà bếp lấy cho con hai hào rưỡi, vứt xuống chân con, và người vẫn tiếp tục múa tay và nói bằng ấy câu như trên. Mặt người đỏ gay, hai mắt quắc lên. Người nói chỉ có bằng ấy câu thôi, mà làm cho mất cả tự nhiên...

Tuy thế, con cũng cứ nhận hết, và nhặt lấy hai hào rưỡi chạy một mạch ra chợ để tìm người hớt tóc cho. Nhưng rủi quá! ông thợ đi vắng. Con lại vác hai hào rưỡi về nộp cho cha Maillet, để sáng mai xin lại.

Nhưng vừa thấy con trở về, cha Maillet cấp tốc bảo con phải thu dọn đi ra khỏi nhà cha ngay sáng hôm nay. Người vẫn còn quát tháo như lúc nẫy, và cứ theo con mà tiếp:

- Cha đuổi con đi nghe chưa! T’ằng k’ốn nạn! cha đuổi nó cho rồi. K’ốn nạn! k’ốn nạn!

Vừa nghe câu "Cha đuổi con đi!" con như bị một nhát búa bất thần. Con ngã lăn ra giường, và khóc lóc một cách thảm thiết như đã được tin mẹ qua đời.

Không gì làm con đau đớn bằng cái tiếng: "Ðuổi đi." Con biết rằng, danh giá của con sẽ không còn gì là danh giá trước hai tiếng bị "đuổi đi." Con biết rằng nếu con đến trước mẹ với hai tiếng ấy, thì con có thể làm cho mẹ bị chết ngất đi đến hằng giờ. Vì danh thơm tiếng tốt của gia đình, là như viên ngọc quí, mẹ đã cẩn bạc cho con từ ngày thơ ấu, và mẹ chỉ mong cho nó được bền vững ở nơi các con mẹ. Trước đây con đã bị người ta vu thác cho những tiếng không hay, và vì thế mẹ phải đau khổ với con biết bao nhiêu là ngày tháng. Mẹ đã nghi ngờ con, và đã coi con là đứa con bất xứng.

Bây giờ, bằng lời nói của một vị cha, xưa nay vẫn được người ta tôn trọng là một vị nhân đức, nhất thời tuyên án, thì còn lời đâu có sức để bênh vực được cho con trước mặt mẹ và khỏi để lòng mẹ bị xâu xé.

Ôi ! Lậy Chúa ! con muốn chết, và muốn chết tại đây, để khỏi mang theo cái tiếng nhục nhã ấy đến trước mặt gia đình!...

Bất chợt con nghe có tiếng chị Thánh Têrêsa gọi và bảo:

- A! Văn thân yêu của chị, ưa làm nũng quá đi. Thôi, chỗi dậy đi em, chị chắc em còn nhớ lời chị nói với em hôm nào rồi? Người ta sẽ gán cho em một điều tiếng xỉ nhục cơ mà. Phải, em cũng như Giêsu, phải chịu người ta xâu xé và đàn áp. Nhưng em đừng quá dễ nản lòng, làm như trên đời chỉ có một mình em thôi. Hãy cố nén tâm chịu đựng tất cả và dâng hết cho Giêsu. Giêsu đang chờ em, thôi, nào em hãy cố mỉm cười và vui hát lên cho biến nỗi sầu thương. Em hát lên đi ! Hát lên:

Nào đi lên ta tiến lên đi.

Trên đường dài nào lo chi...

Giêsu đang chờ em đấy.

Vui đi! hát đi em!

Ðã lâu, nay con mới lại được nghe tiếng chị thánh, nỗi đau đớn của con như đã dịu lại một phần nào, nhưng con không có thể thưa lại với chị thánh được một lời nào, con chỉ biết vâng theo lời chị chỉ bảo. Con liền nhổm dậy và đi thu dọn đồ đạc. Lúc ấy tuy con vẫn cố chấn tĩnh, mà thỉnh thoảng con lại phải nấc lên một tiếng thật to, và nuớc mắt cứ đều đều trào ra như dòng nước nhỏ.

Trong nhà, và cả bên nhà mụ nữa, người ta điều biết hết việc con bị cha Maillet đuổi đi, nhưng những người có thiện cảm không ai dám mon men đến gần con để yên ủi hoặc nói mấy lời từ giã, và cha Maillet canh phòng ráo riết lắm.

Một giờ trưa con ra đi.

Trước khi ấy con đến từ giã cha Brébion. Cha già từ sáng sau khi đã biết việc cha Maillet xử đối với con, người đã bất bình, và can cha Maillet đừng làm thế. Nhưng cha Maillet cứ cố quyết đuổi con đi và nói như thét vào tai cha già Brébion rằng:

- Nó giả hình! T’ằng K’ốn nạn ấy, rất, à, K’ốn nạn! Nó giả hình quá sức á!...

Cho đến lúc con ra đi, cha Brébion vẫn cứ lắc đầu chạy theo cha Maillet mà can gián người đừng xử như thế. Khi con đến từ giã người, người ôn tồn ôm lấy đầu con và yên ủi:

- Con đừng buồn, vì bấy lâu nay cha đã nhận thấy con là một con trẻ sốt sắng và nhân đức thật; nhưng mà có lẽ cha Maillet vì nhầm mà xử với con như vậy, nhưng con đừng buồn quá, vì ngoài một mình Chúa ra không ai hiểu nổi con, mà một khi đã có Chúa minh chứng cho con rồi, thì con đừng lo lắng gì, người sẽ ban ơn phù giúp con. Phần con hãy cứ an lòng phó thác mình cho Chúa cách vui vẻ và đầy tín nhiệm. Cha nguyện chúc con đi bằng an và mau bước tới hạnh phúc.

Lời cha già Brébion quả đã phấn chấn được lòng con rất nhiều. Sau khi nghe người nói, con càng sụt sùi, chẳng biết cám ơn người làm sao, con chỉ khóc và theo người dẫn con ra cửa.

Ðể tỏ ra lòng con trung thành và hằng biết ơn cha Maillet, trước giờ ra đi, con cũng đến xin người tha thứ mọi sự con đã làm phiền lòng người. Nhưng cha Maillet cứ cố chấp và nguyền rủa con không ngớt, người rủa con thế này: Chớ gì đời con có được bằng an! chớ gì Chúa có nhìn nhỏi đến t’ằng k’ốn nạn này ! k’ốn nạn cho quân vô phúc!...

Con nghe nhữùng lời nguyền rủa ấy như những tiếng sét dội vào tai, và không sao nén nổi cơn cảm xúc. Con định thưa lại rõ ràng vài lời, nhưng đang lúc còn ấp úng thì Têrêsa đã lên tiếng can thôi:

- Thôi em! thôi em! xong rồi! Em đi bằng yên. Số phận người công chính thì đời nào, và bao giờ cũng bị coi là khốn nạn, là đáng bị đời nguyền rủa. Em hãy nín đi, hãy vui dâng cho Giêsu thân ái, Người đang nhìn em và đang say mê những hạt nước mắt đau thương của em, và coi nó như những hạt kim cương quí giá.

Nghe Têrêsa nói, con đi ngay.

Lúc ngang qua nhà nguyện, con định rẽ vào để chào Giêsu Thánh Thể lần sau hết dưới mái nhà thân ái này. Nhưng vừa lúc con giơ tay nắm lấy quả đấm cửa, thì cha Maillet mãi từ đầu nhà đằng kia đi tới, người vừa tới vừa quát um nhà lên rằng:

- Thôi đi đi, tằng k’ốn nạn! T’ằng giả hình! K’ông ai còn tin con là người nhân đức nữa đâu mà làm bộ...

Cha già Brébion vẫn chạy theo để can cha Maillet.

Vừa nghe dứt mấy lời của cha Maillet, tay con trở nên nặng như chiếc búa tạ, con không còn đủ sức để nắm lấy quả đấm cửa nữa, mà đã để rơi một cách kiệt lực. Người con rời rạc, mắt con hoa lên, đầu con choáng váng và chỉ chực ngã. Con đứng điếng đi đến một chặp, rồi mới cử động và bước đi được. Tuy nhiên, đầu con vẫn lảo đảo, và chốc chốc lại cờ quạng như muốn ngã. Ra đến quan lộ, cách nhà xứ chỉ có vài chục thước, con ngồi bệt xuống bên vệ cỏ, ở đây con đã chắc chắn cha Maillet không còn trông thấy con nữa. Con lau qua nước mắt, và con than thở với Chúa.

Lậy Chúa Giêsu, lòng con yêu mến! Sáng hôm nay con được phúc rước Chúa vào lòng con, và con tin Chúa bây giờ cũng vẫn còn ở trong con. Chúa đã thấu rõ con, và đang nhìn xem cõi lòng tan nát của con... Ôi Giêsu thiết ái ơi! Con dâng hiến Chúa đấy... tất cả... Vâng, tất cả!...

Ðến đây con khóc nấc lên, rồi lại cố đứng dậy, lảo đảo bước đi như người bị say sóng.

Con đi một quãng, nghe có tiếng gọi đằng sau, và thấy Tám chạy theo để tiễn con ra bến ôtô.

Khoảng độ 6 giờ chiều, con tới Cao bằng; con ngủ đỡ trong nhà xứ một đêm, rồi sáng mai lại lên đường đi Lạng sơn.

Trên đường từ Quảng uyên Cao bằng đã có những thứ làm con bồn chồn và muốn ngã lòng, do nhiều tư tưởng đến quấy rối. Khi ấy thần kiêu hãnh mặc lốt ngay lành đến làm cho con xao xuyến. Nó vạch ra trong tư tưởng con những hiệu quả tốt đẹp của một đời làm linh mục thừa sai. Rồi nó thầm bảo con, như trách móc một cách êm nhẹ rằng: Sao em lại dại dột dường ấy? Cái ý tưởng đi tu dòng đâu đã có chắc là thật, mà em đã nghe theo? Những tiếng nói vu vơ hắc ám, bảo rằng do Têrêsa nói với, chắc gì đã là thật mà em tin? Têrêsa, có thật là một vị thánh đã nói cho em hay thế, hay là chỉ do bởi lòng tự kiêu muốn ham hố tìm vào một nơi mới lạ?...A! rồi mà xem!... Rồi mà xem!... Em sẽ không còn được thấy ánh sáng nữa đâu. Bước đường em đang cố gắng theo đi đó, sẽ chỉ đưa em vào một cõi mênh mông của rừng thẳm, của vực sâu, và một đêm đen tối dầy đặc... Rồi mà xem, đường tu sẽ chẳng thấy, mà lại chỉ thấy toàn là những quãng không hiu quạnh... Nhầm!..

Con rất khổ tâm về những lời hắc ám mà có vẻ thành thật ấy. Mà lúc này con chẳng biết nương cậy vào ai, cũng không có ai cho con cởi mở nỗi lòng. Sự sầu khổ bao trùm cả tâm hồn con, mà con chỉ biết tỏ ra bằng nước mắt.

Trên xe hơi không rõ có ai chú ý đến con không? Nhưng từ lúc bước lên xe con chỉ biết đến một sự đau khổ và xỉ nhục, con ôn lại những lời cha Maillet nói với con lúc trước khi ra đi, mà phải phát thổn thức. Ðối với con không gì xỉ nhục bằng những câu: đuổi đi !... Thằng giả hình!... Quân kiêu ngạo. Và hiện lúc này ma quỉ đã lợi dụng tất cả những câu nói ấy, với những lời cha Maillet đã nguyền rủa con, để làm con thất vọng.

Nhưng trong cơn bối rối cực phiền ấy, con đã biết thưa với Chúa:

"Giêsu! đấng lòng con tríu mến, nếu quả thật vì tính tự phụ con đã nhầm, thì xin Chúa dắt con quay trở lại với những bước đường Chúa đang dẫn con đi. Nhưng nếu con đã làm theo ý Chúa thì xin Chúa hãy cứu con cho khỏi cơn cám dỗ này."

Tức khắc con được yên lòng, và lúc này, thay vì rơi nước mắt sầu khổ, con lại khóc vì ham mến, vì hoan lạc.

Tuy thế, ma quỉ chưa chịu lùi bước cho hẳn, chốc chốc chúng lại kéo rở trò khác ra để quấy rối cuộc an tĩnh của con. Nhưng con biết rằng: vì đó là trò quỉ, nên con chẳng thèm để ý, lúc ấy nó mới chịu thôi. Tuy nhiên, nó đã làm cho con hao tổn biết bao là giọt lệ!

Ðến Cao-bằng, con cảm thấy trong mình mệt mỏi, và bải oải hơn thường. Con cảm như trong người đang bị cơn sốt rét.

Trời đã sẩm tối, phố phường đã thấp thoáng ánh đèn điện và trên cây chim chiều đã ríu rít gọi nhau về tổ ấm. Ðêm đã gần xuống, và phố phường nhộn nhịp. Nhưng trong lòng con yên ắng như một bãi tha ma, hay như một chiến địa sau khi đã bình giặc. Ở đó sau một cuộc chiến đấu mãnh liệt và rung động, kẻ thua đã chạy, và kẻ thắng đã lo rịt bó vết thương, kẻ chết đã được chôn cất, chỉ còn lại một sự yên tĩnh rợn rùng...

Trong lòng con bây giờ cũng thế. Chưa bao giờ con phải chứng kiến một cõi lòng lạnh giá và ảm đạm như buổi chiều này, và do đó, dòng lệ đã chẩy ra không ngừng. Nhưng con đã bước tới nhà thờ, và ở đây con âm thầm hát bài: L’ombre s’éteint sur la terre" để trút hết mọi u buồn vào cõi lòng Mẹ Maria. Con đã cảm thấy lòng lại sức, khi con vừa dứt lời thỏ thẻ với Mẹ:

- Lậy Mẹ lân ái, nay con đã qua được một ngày giao tranh thảm khốc; con đã qua được một bước khó khăn đầu tiên trên quãng đường theo tiếng Chúa gọi. Song lậy Mẹ, chiều nay, con đã cảm thấy sức linh hồn con yếu đuối quá, và gần như kiệt lực. Con buồn chán quá thể, và đứng trước đường trường con chỉ thấy chán nản và run sợ. Con không biết con có can đảm đi cho tới cùng, hay ít là chiến thắng được một lần nào nữa không?...

Ôi, lậy Mẹ! lòng con đau đớn dường nào!... Song hỡi Mẹ thân áí! con xin phó thác toàn thân con cho Mẹ. Với Mẹ, con dám quyết rằng con sẽ đi được tới cùng, và nhất định phần chiến thắng sẽ phải dành về tay con...

Ngày hôm nay dưới ánh hoàng hôn u sầu và ảm đạm, đôi mắt con chan hòa dòng lệ, nhưng con cũng không biết tỏ lời nào để cám ơn Mẹ về sự chăm nom săn sóc đến con. Con quả là nhỏ mọn và cằn cỗi, chỉ có những vết thương, những giọt lệ nóng dâng lên cho Mẹ giờ đây, biểu lộ lòng con tríu mến và biết ơn mẹ, đã phù hộ con qua một bước chiến hãi hùng.

Mẹ Maira ơi! Mẹ nhận lòng con đi, và từ đây xin Mẹ đừng bao giờ lìa xa con, vì vẻ nhìn của Mẹ là sức mạnh để giúp con chiến thắng. Mẹ còn là như thành trì bảo vệ con, là thuốc bó rịt vết thương con, và chính tay Mẹ đã là như một "Nữ Cứu Thương" thường vẫn vồn vã băng rịt và lau khô cho những dòng sầu khỏi chẩy. Ôi Maria, con luôn luôn chỉ biết trông nhìn vào Mẹ, và cậy Mẹ chở che."

Sau đó, con đi vào nhà xứ, với bộ điệu vui như thường. Người ta vừa thấy con, đã ngạc nhiên vì cái bộ tóc quá bờm xờm và bẩn thỉu của con. Ai nấy trong nhà xứ điều cười mỉa mai, và gọi con là "thằng người rừng." Con rớt nước mắt ra, nhưng con cũng biết chống chữa khéo rằng:

- Ấy nhờ thế mà đi ở trong rừng, không có một chú cọp nào dám hó hé tới...

Tuy nhiên, người ta đã biết thừa đi rồi, và tự nhiên họ cũng lên một tiếng nói :

- Con cái cha Maillet thì bao giờ cũng thế, một là "cạo trọc," hai là "rừng sậy" có thế thôi. Thật là kỳ cục, và gần như chỉ đáng khinh bỉ... Anh nào mà chịu đựng được với cha Maillet thì sau này phải phong hai lần thánh mới xứng.

Thế ra thiên hạ cũng điều hiểu "cái thánh" của cha Maillet cả, chứ đâu có phải là một mình con?

Và người ta đã đến hỏi thăm con, họ phê bình cha Maillet rất nhiều ở trước mặt con, nhưng con chỉ làm thinh, hoặc có khi nào quá cực, con chỉ khóc, hoặc tìm cách đưa câu truyện đi nơi khác.

Tối ấy cha phó Việt nam, cho gọi một người thợ cúp vào nhà xứ cắt tóc cho con, và từ đấy người ta mới hết coi con là một người kỳ dị.

Sáng sớm hôm sau con đi xe về Na-chăm. Ở đây con được gặp cha Tân, (Drayerdufer) song con cũng chẳng biết nói gì hơn là khóc. Cha Tân có lẽ cũng đã biết tình trạng con bị cha Maillet đuổi, nhưng người không hơi hở một cử chỉ nào bất bình với con, cũng không hỏi han con gì về việc ấy. Trái lại, người chỉ niềm nở và săn sóc chu đáo cho con cho mãi đến giờ phút chia ly.

Cha Drayerdufer hẳn đã hiểu thấu ý nghĩa những hạt nước mắt của con, khi từ biệt người lần sau hết ấy. Cho nên khi người vừa tiễn con ra tầu người vừa yên ủi:

- Chúa muốn để nên như vậy, con có khóc cũng chỉ là vô ích. Song, như thế mới có giá trị, và việc Chúa làm mới được đầy đủ ý nghĩa.

Tuy nhiên con đã không sao cầm lại dòng nước mắt, khi trông thấy chiếc khăn trắng của cha Drayer dufer còn vẫy theo con cho đến lúc con tầu lăn bánh. Ðây là lần sau hết con được gặp cha, và cũng từ đấy con không bao giờ còn hòng gặp mặt cha, hoặc ít là thông tin tức bằng thư từ. Con chỉ có thể tâm niệm: rồi ra chỉ còn mong ngày hội ngộ ở trên quê hằng sống mà thôi...

Cũng lần ấy, cha Drayerdufer ban cho con chiếc túi đeo, con vẫn dùng khi đi trại ngày trước. Người bảo con giữ để làm kỷ niệm. Con rất sung sướng vì được chiếc túi ấy, và con tưởng giá cha không cho thì con cũng cố nài nỉ xin cho bằng được, để lấy một chút kỷ niệm của bao ngày sống trong đoàn Ðệ tử Nữ Vương với bao ơn lòng con đã chứa đựng trong những hôm đi cắm trại.

(còn tiếp)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com