25 NĂM TRIỀU ÐẠI GIÁO HOÀNG
GIOAN PHAOLÔ II

1978 - 16/10 - 2003

THẾ HÙNG 

1978 - Một Năm Ba Giáo Hoàng

Năm 1978 có thể được gọi là "Năm của 3 Giáo hoàng".

Vào ngày 6.8.1978, Ðức Thánh Cha Phaolô VI qua đời tại điện nghỉ mát mùa Hè Castel Gandolfo ở ngoại ô Rôma, hưởng thọ 81 tuổi, sau khi ở ngôi vị giáo hoàng hơn 15 năm. Ngài đã tiếp nối sự nghiệp của Cố Giáo Hoàng Gioan 23 với Công đồng Vatican II (1962-1965) để phục vụ hữu hiệu hơn đoàn Dân Chúa và thế giới trong thời đại mới.

Tiếp sau cái chết của ÐGH Phaolô VI, các Hồng y khắp thế giới đã về Vatican để dự tang lễ ngài và bầu lên một vị Giáo hoàng mới. Ngày 26.8.1978, ngày thứ hai của Mật hội Hồng y đoàn (conclave), ÐHY Albino Luciani, Tổng Giám mục TGP Venice (Ý) đã được bầu làm Giáo hoàng sau lần bỏ phiếu thứ 4 với đa số phiếu là 101 lá (trong tổng số 110 lá phiếu của các Hồng y có quyền bầu). Vị Giáo hoàng tân cử liền chọn danh hiệu Gioan Phaolô I để vinh danh 2 vị giáo hoàng tiền nhiệm. Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử Giáo hội Công Giáo một vị giáo hoàng chọn cho mình một tên kép thay vì tên đơn. Mặc dầu chỉ ở ngôi vị giáo hoàng có 33 ngày hưởng thọ 66 tuổi vì ngài qua đời ngày 28.9.1978 do bị đau tim, Ðức Gioan Phaolô I đã thu hút được sự chú ý của cả thế giới và được mệnh danh là "Giáo hoàng mỉm cười" để nói lên tính cách vui vẻ, bình dân của ngài.

Với cái chết của Ðức Gioan Phaolô I, các Hồng y khắp nơi trở lại Vatican để dự lễ an táng của ngài và bầu lên một vị giáo hoàng mới khác. Ngày 14.9.1978, các Hồng y vào Nguyện đường Sistine ở Vatican để bắt đầu cuộc bầu.

Chiều ngày thứ Hai 16.9.1978, ở vòng bầu thứ 4 trong ngày, ÐHY Karol Wojtyla của TGP Cracovie, Ba Lan, đắc cử ngôi vị giáo hoàng với khoảng 100 trong tổng số 110 phiếu. Vị tân giáo hoàng chọn ngay danh xưng Gioan Phaolô II để vinh danh 3 vị giáo hoàng tiền nhiệm và ngài trở thành người kế vị thứ 263 của Thánh Phêrô. Sau đó, ÐHY niên trưởng Pericle Felice của Ý ra trước trước balcon Ðền thờ Thánh Phêrô công bố danh tính vị giáo hoàng mới, mọi người đều yên lặng khi nghe đọc lên danh tính của ÐHY Karol Wojtyla vì quả là một cái tên xa lạ. Có người kêu lên: "Chúng ta có một giáo hoàng người ngoại quốc!"

Một Giáo Hoàng Từ Một Ðất Nước Xa Xôi

Ðức Gioan Phaolô II tên thật là Karol-Joseph Wojtyla sinh ngày 18.5.1920 ở thị trấn Wadowice thuộc Giáo phận Cracovie (Ba Lan). Cha ngài là ông Karol Wojtyla vốn là một sĩ quan trong quân đội hoàng gia Ba Lan. Mẹ ngài là bà Emilia Kaczorowska. Bé Karol-Joseph có một người anh tên là Edmund và một người chị chết từ thuở bé.

Từ năm 1924 Edmund rời nhà đi học và đi làm xa. Chỉ còn bé Karol ở với bố mẹ. Năm 1929, bà Emilia qua đời để lại cho ông Karol phải gặp cảnh gà trống nuôi con.

Mùa thu năm 1930, cậu Wojtyla đi học trung học. Năm 1932, Edmund lúc đó là 1 bác sĩ bị bệnh và đã qua đời. Sau đó 2 cha con Wojtyla về thành phố Cracovie sinh sống và chàng Wojtyla theo học Ðại học Jagellon trong các bộ môn văn chương và kịch nghệ.

Thế chiến thứ 2 bùng nổ và kể từ 1.9.1939, Ðức Quốc Xã xâm lăng Ba Lan. Ðại học Jagellon bị đóng cửa và Wojtyla phải theo đuổi việc học một cách lén lút đồng thời cộng tác thành lập nhóm kịch nghệ Rhapsodie trong một nỗ lực kháng chiến chống Ðức Quốc Xã bằng phương tiện văn hoá. Ngày 18.2.1941, ông Karol Wojtyla qua đời. Giờ đây, gia đình Wojtyla chỉ còn sót lại một mình cậu. Trong khi đi học lén lút, Wojtyla cũng phải đi làm ở một nhà máy hoá chất ở Solvay.

Mùa thu năm 1942, do tình trạng Ba Lan bị Ðức Quốc Xã chiếm đóng, chàng Wojtyla phải bí mật theo học chủng viện. Cuộc sống của thầy như thế là ban ngày phải làm việc ở xưởng, ban đêm học triết học và thần học.

Sau khi Thế chiến 2 kết thúc năm 1945, thầy Wojtyla tiếp tục theo học và chịu chức linh mục ngày 1.11.1946 và sau đó được gửi đi học ở Ðại học Angelicum ở Rôma. Tháng 6.1948, Cha Wojtyla trình luận án tiến sĩ thần học về vấn đề đức tin trong thần học Thánh Gioan Thánh Giá. Trở lại Ba Lan, Cha Wojtyla được bổ làm phó xứ ở Niegowic và được giới trẻ hâm mộ. Ngài đã tổ chức những buổi tĩnh tâm, các cuộc leo núi, chèo thuyền qua đó ngài mời gọi họ hãy suy tư về đời sống tri thức và tinh thần bản thân. Ngài cũng viết một số bài thơ và vở kịch dưới các bút hiệu khác nhau.

Năm 1953, ngài dạy các lớp về đạo đức xã hội ở Ðại học Jagellon và kể từ năm 1954 cho đến khi được bầu làm giáo hoàng ngài là giáo sư luân lý ở Ðại học Công giáo Lublin.

Ngày 28.9.1958, Cha Wojtyla được truyền chức giám mục phụ tá TGP Cracovie và là giám quản TGP này kể từ năm 1962 tiếp theo cái chết của vị TGM. Kể từ tháng 10.1962, ÐC Wojtyla tham dự Công đồng chung Vatican II và góp phần đáng kể trong các tài liệu của Công đồng, đặc biệt là Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng ("Gaudium et spes").

Ngày 30.12.1963, ÐTC Phaolô VI đặt ÐC Wojtyla làm Tổng Giám mục TGP Cracovie và ngày 28.6.1967 nâng ngài lên làm Hồng y lúc mới 47 tuổi. Trong suốt 15 năm cai quản TGP Cracovie, Ðức TGM Wojtyla đã dẫn dắt giáo phận của ngài với tất cả sự sáng suốt và lòng nhiệt thành mục vụ cũng như mau chóng áp dụng những chỉ thị của Công đồng. Ðồng thời, cùng với ÐHY Wyszynki của thủ đô Varsovie, ngài ra sức tranh đấu để bảo vệ quyền độc lập của Giáo hội khỏi Nhà nước Cộng sản.

Mối liên hệ của ngài với Toà Thánh và nhiều lần đi công vụ ở ngoại quốc làm phong phú kinh nghiệm mục vụ của ngài cũng như được nhiều người biết đến. Chính do khả năng của ngài mà các hồng y đã chọn ngài làm vị thừa kế ÐGH Gioan Phaolô I vào ngày 16.10.1978.

Sứ Ðiệp Khai Mạc Giáo Triều Gioan Phaolô II: "Ðừng Có Sợ!"

Khi ra trước balcon để để chào hàng trăm ngàn người đang chờ đợi ở Công trường, bằng một tiếng Ý khá hoàn chỉnh, Ðức Gioan Phaolô II lên tiếng: "Chúng ta vẫn còn đắm mình trong nỗi đớn đau về cái chết của người cha rất thương mến của chúng ta là Ðức Gioan Phaolô I. Và này quý Hồng y anh em đã mời gọi một vị giám mục mới của Rôma. Họ đã chọn ngài từ một đất nước xa xôi. Xa xôi, nhưng luôn rất gần gũi do niềm hiệp thông trong đức tin và truyền thống Kitô giáo. Tôi lo sợ khi chấp nhận việc đề cử này, nhưng tôi đón nhận với tinh thần vâng phục đối với Chúa Giêsu Kitô và tin tưởng tuyệt đối vào Mẹ Ngài, Ðức Mẹ Rất Thánh. Tôi không biết tôi có thể diễn đạt rõ bằng tiếng Ý của anh chị em - của chúng ta, anh chị em sẽ chỉnh tôi nếu tôi có nói sai." Những tràng cười và vỗ tay vang dội đón chào vị giáo hoàng trẻ trung mới 58 tuổi, và không những là vị giáo hoàng người gốc Slavic đầu tiên mà còn là vị giáo hoàng không phải người Ý đầu tiên kể từ năm 1522 là năm Ðức Hadrian VI không phải người Ý được bầu lên.

Những ngày sau đó cho thấy nhân cách của một vị giáo hoàng rất thân thiện, cởi mở khi ngài tiếp kiến các vị Hồng y, ngoại giao đoàn và nói bằng cả 4 ngoại ngữ ngài thông thạo là Anh, Pháp, Ðức, Tây Ban Nha ngoài tiếng mẹ đẻ Ba Lan.

Trong Thánh lễ trọng thể khai mạc triều đại Giáo hoàng vào Chúa nhật 22.10.1978, vị tân Giáo hoàng dõng dạc trong bài giảng: "Anh chị em đừng sợ phải tiếp nhận Ðức Kitô và đón nhận quyền năng của Ngài! [.] Hãy mở lớn các cánh cửa cho Ðức Kitô! Hãy mở ra cho quyền năng cứu độ của Ngài các biên giới quốc gia, các hệ thống kinh tế và chính trị, các lãnh vực mênh mông của văn hoá, của nền văn minh, và của sự phát triển. Ðừng có sợ!"

Ngày 16.10.2003 kỷ niệm 25 năm triều đại giáo hoàng của ngài cho thấy ngài không chỉ là vị giáo hoàng có triều đại lâu nhất hàng thứ 4 trong lịch sử Giáo hội kể từ thời Thánh Phêrô, mà còn là một chứng từ rõ nét cho thấy ngài đã không sợ hãi khi phải xả mình cho công cuộc phục vụ Nước Chúa, cho Giáo Hội và thế giới nhân loại này.

Dưới đây là một số đóng góp ghi nhận được trong triều đại Giáo hoàng của Ðức Gioan Phaolô II suốt 25 năm qua.

Vị Mục Tử Trong Vai Trò Huấn Giáo

Là vị đại diện Ðức Kitô trên trần gian, Ðức Gioan Phaolô II ý thức rất rõ vai trò mục tử của mình nên đã cố gắng dùng mọi phương thế để giáo huấn đoàn chiên được giao phó. Ngoài nhiều bài giảng trong các cuộc thăm viếng mục vụ trong và ngoài nước Ý, những sứ điệp ban ra trong các biến cố quan trọng, những buổi triều yết thứ Tư hằng tuần, các lời dạy dỗ trong những buổi đọc Kinh Truyền Tin vào Chúa nhật, ÐTC còn viết tất cả 7 tông hiến (apostlolic constitutions),14 thông điệp (encyclicals) với những đề tài quan trọng nhằm canh tân đời sống đức tin và củng cố đời sống luân lý của giáo hữu, từ Thông điệp đầu tiên về mầu nhiệm Ðức Giêsu Kitô là Ðấng Cứu Ðộ Nhân Loại ("Redemptor Hominis") vào tháng 3.1979 chỉ vài tháng sau khi lên ngôi giáo hoàng cho đến Thông điệp gần đây về mối quan hệ mật thiết giữa Giáo Hội và Bí tích Thánh Thể là Giáo Hội Thánh Thể ("Ecclesia De Eucharistia") vào tháng 4.2003.

ÐTC còn viết 15 tông huấn (apostolic exhortations) bàn về nhiều đề tài kể cả tông huấn về vai trò giám mục sẽ được ban hành vào dịp kỷ niệm 25 năm giáo hoàng ngày 16.10.2003. Ngoài ra Ðức Gioan Phaolô II còn viết 14 tông thư (apostolic letters) với tông thư gần đây nhất là Tông thư Kinh Mân Côi Ðức Trinh Nữ Maria ("Rosarium Virginis Mariae") ban hành tháng 10.2002 trong đó ngài công bố Năm Mân Côi từ tháng 10.2002 đến 10.2003 và đưa ra chục Năm Mươi mới trong Mầu nhiệm Sự Sáng suy gẫm về các biến cố lớn trong cuộc đời rao giảng công khai của Chúa Giêsu trước khi chịu khổ nạn.

Tuy nhiên, trong số những văn kiện được đưa ra trong 25 năm triều đại giáo hoàng của Ðức Gioan Phalô II, có lẽ quan trọng nhất là bộ Giáo luật mới cho Giáo hội Công giáo Latinh (1983) và bộ Giáo luật mới cho Giáo hội Công giáo Ðông phương (1990). Có thể nói đây là văn kiện cuối cùng của Công đồng Vatican II vì ý tưởng hình thành bộ Giáo luật mới đã được đưa ra từ Công đồng này. Một văn kiện khác có tầm quan trọng đặc biệt nữa là bộ Giáo lý Công Giáo ban hành năm 1992 theo đề nghị của Thượng Hội đồng Giám mục thế giới năm 1985.

Vị Kế Thừ Di Sản Công Ðồng Vatican II

Khi chọn lựa danh xưng Gioan Phaolô II, ÐTC đương kim không chỉ có ý định vinh danh vị tiền nhiệm của mình là Ðức Gioan Phaolô I nhưng còn muốn nói đến sự kế tục của hai vị giáo hoàng có công lớn trong Công đồng Vatican II là Ðức Gioan XXIII và Phaolô VI.

Khi còn là Tổng Giám mục Cracovie, Ðức Cha Wojtyla là một trong những vị năng nổ trong thời kỳ Công đồng Vatican II. Ngài đã đóng góp nhiều ý kiến cho các văn kiện của công đồng. Hứng khởi từ luồng gió mới của Công đồng, chính ngài đã mau chóng thiết lập công đồng giáo phận ở Cracovie và áp dụng những lời dạy của Công đồng Vatican II.

Một trong những cải tổ quan trọng dưới thời Ðức Gioan Phaolô II là tiếp tục tiến trình cải tổ giáo triều Rôma đã có từ thời ÐTC Phaolô VI vào năm 1967. Qua Tông thư Người Mục Tử Tốt Lành ("Pastor Bonus") năm 1988, Ðức Gioan Phaolô II muốn biến thành hiện thực những quan tâm của các nghị phụ trong Công đồng Vatican II khi cho rằng Giáo triều Rôma quá tập trung quyền bính, thiếu tính chất hiệp thông với các giám mục địa phương, thiếu tính cách quốc tế khi đa số các vị đứng đầu trong Giáo triều Rôma là người Ý, các cơ quan trong giáo triều làm việc thiếu sự phối hợp và đồng nhất, v.v. Mặc dầu vẫn chưa phải hoàn hảo theo ước muốn của nhiều người, Ðức Gioan Phaolô II đã cố gắng cải tổ qua việc đưa những vị Giám mục, Hồng y từ nhiều quốc gia khác nhau vào giáo triều Rôma làm việc; tăng con số Hồng y từ các quốc gia Châu Mỹ Latinh, Á Châu và Phi Châu (ÐTC đã khai mạc tất cả 7 công hội Hồng y và bổ nhiệm tất cả 130 trong số 150 vị Hồng y hiện nay); cải tổ cơ cấu quản trị tài chánh Toà Thánh; thiết lập Hội đồng Giáo hoàng về Gia đình năm 1981 để đề ra các sáng kiến nhằm xây dựng đời sống hôn nhân và gia đình vững mạnh; thành lập Học viện về Gia đình như làmột phân khoa của Giáo hoàng Học viện Latêranô; thiết lập Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Sự Sống qui tụ nhiều chuyên giatrên thế giới thuộc nhiều lãnh vực khác nhau giúp ý kiến cho Toà Thánh về những vấn đề liên quan đến sự sống; thành lập Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Xã hội học.

Ðiều quan trọng là ÐTC đương kim vẫn tiếp tục thực hiện Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới tổ chức mỗi 2 năm và thêm vào các Thượng Hội đồng cho những châu lục để các giám mục trong cùng một châu lục có thể xem xét những mối quan tâm mục vụ chung. Tất cả có 15 lần Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới và châu lục đã được tổ chức dưới triều Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Mặc dầu các cuộc họp như thế chỉ có tính cách tham vấn vì quyết định cuối cùng về những đóng góp của cuộc họp tùy thuộc vào ÐTC. Tuy vậy, đa phần ngài thường dựa vào ý muốn của các vị nghị phụ để ra những tông huấn. Ðằng khác, các cuộc họp Thượng Hội đồng Giám mục tạo dịp gặp gỡ và làm phong phú tác vụ của các giám mục từ khắp nơi trên thế giới.

Sau Công đồng Vatican II, đồng thời với việc mở rộng cánh cửa cho thế giới hiện đại, Giáo Hội cũng phải chịu những cảnh sa sút về ơn gọi, một số giám mục, linh mục và thần học gia chống đối lại giáo huấn truyền thống của Giáo Hội. ÐTC Gioan Phaolô II đã mạnh dạn điều chỉnh lại một số nhận định sai lầm về giáo huấn của Công đồng Vatican II mà ngài là một trong những người ủng hộ triệt để. Ngài đã vạch rõ một số sai trái trong tư tưởng thần học giải phóng rất phổ biến ở Châu Mỹ Latinh; ngài sẵn sàng chấp nhận những chỉ trích khi kiên quyết giữ vững giáo huấn truyền thống của Giáo Hội chống ngừa thai nhân tạo, phá thai, thụ tinh trong ống nghiệm, phụ nữ làm linh mục, linh mục lập gia đình, hôn nhân đồng tính...

Giáo Hoàng Thừa Sai

Nhắc đến ÐTC Gioan Phaolô II, người ta không thể không đề cập đến những chuyến công du mục vụ của ngài ngoài nước Ý. Một số người phàn nàn rằng các cuộc công du của ÐTC gây tốn kém cho các nước và giáo hội địa phương. Nhưng những người này quên rằng với vai trò mục tử, người kế vị Thánh Phêrô, ÐTC không thể chối bỏ sứ vụ truyền giáo của Hội Thánh qua các chuyến công du như thế. Trong lịch sử Giáo Hội, Ðức Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng du hành nhiều hơn bất kỳ vị giáo hoàng tiền nhiệm nào, không những thế, ngài du hành còn hơn tất cả các cuộc du hành mục vụ của mọi vị giáo hoàng tiền nhiệm cộng lại.

Trong buổi ban đầu của Hội Thánh, Công Giáo chỉ phát triển ở một phần đất nhỏ ở Cận Ðông, và sau này lan ra Phi châu, Âu châu và các vùng khác. Nhưng các vị giáo hoàng một khi được bầu lên hầu như chỉ biết có Rôma và Ý mà thôi ngoại trừ những khi bị những hoàng đế Rôma phát lưu nơi khác. Từ 1309 đến 1377 là thời kỳ giáo hoàng về Avigon (Pháp) để tránh những bất trắc ở Ý nhưng đây cũng chỉ là thời kỳ lưu vong. Khi quân Pháp chiếm Rôma năm 1808, Hoàng đế Napoléon của Pháp đã phát lưu Ðức Piô VII qua Pháp nhưng đây là một vụ hành xử. Từ 1870 khi nước Giáo hoàng bị chiếm lấy để thống nhất nước Ý đến 1929, các giáo hoàng có thể gọi là "tù nhân trong Vatican" và không bước ra ngoài bức tường thành Vatican vào nước Ý. Sau khi có Hiệp ước Latêranô giữa Toà Thánh và nước Ý, các vị giáo hoàng có đến thăm mục vụ ở những vùng trong nước Ý nhưng không ra ngoại quốc. Ðến thời ÐTC Phaolô VI (1963-1975), ngài làm 6 cuộc công du mục vụ ngoài nước Ý cho thấy hình ảnh một Giáo Hội luôn đồng hành với lịch sử nhân loại và quan tâm đến lợi ích loài người. Tiếp tục truyền thống này, Ðức Gioan Phaolô II đã gia tăng các cuộc công du và cho đến nay ngài đã thực hiện 102 cuộc công du mục vụ trên thế giới và đã đặt chân đến hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nếu tính tổng cộng khoảng cách hành trình ngài đã thực hiện, nó có thể dài hơn 3 lần khoảng cách từ trái đất đến mặt trăng (từ mặt đất đến mặt trăng là 348,000 km). Ngoài việc củng cố đức tin của giáo hội địa phương và cổ võ việc bảo vệ phẩm giá con người mọi nơi trong các môi trường kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, những cuộc công du của ÐTC cũng đã thay đổi chiều hướng của lịch sử như tại Ba Lan và Châu Mỹ Latinh. Người ta ước lượng các cuộc công du mục vụ của ngài qui tụ hơn 200 triệu người khắp thế giới. Ðó là chưa kể cả tỉ người hướng về ngài qua các cuộc công du như thế nhờ các hệ thống thông tin hiện đại như truyền hình, truyền thanh, báo chí và internet.

Người Ðóng Góp Vào Việc Sụp Ðổ Chế Ðộ Cộng Sản

Tháng 6.1979, Ðức Gioan Phaolô II thực hiện cuộc công du về thăm quê hương Ba Lan lần đầu tiên trong thời gian 9 ngày. Mặc dầu bị nhà cầm quyền CS lúc bấy giờ hạn chế việc thăm viếng, chuyến đi của ngài đã đánh thức người tâm hồn dân Ba Lan về quyền tự do và nhân phẩm của họ đang bị tước đoạt dưới chế độ CS. Năm 1980, Công đoàn Ðoàn Kết được thành lập dưới sự lãnh đạo của công nhân Lech Walesa ở Xưởng Ðóng thuyền Gdansk đòi hỏi các quyền lợi chính đáng của giới thợ thuyền. Chính phủ CS phải nhượng bộ. Nga làm áp lực giới cầm quyền CS Ba Lan và chuẩn bị đem quân Khối CS Varsovie xâm lăng Ba Lan. Nhưng cuối cùng, bức tường Bá Linh ở Ðức bị sụp đổ năm 1989 và cả khối CS Ðông Âu bị xóa sổ hầu như chỉ trong vòng một sớm một chiều. Việc sụp đổ của khối CS Ðông Âu có nhiều nguyên nhân nhưng chắc chắn vai trò thẩm quyền về luân lý của Ðức Gioan Phaolô II trong vụ việc này không thể không tính đến. Riêng ÐTC, ngài cho đây là do bàn tay của Ðức Mẹ.

Rất tiếc niềm hân hoan của một Châu Âu thống nhất không còn Cộng sản cai trị đã bị tắt tiếng bởi những năm tháng sau đó của bạo lực xuất phát từ chủ nghĩa quốc gia cực đoan, kỳ thị sắc tộc, chủ nghĩa thế tục, dung túng tội lỗi,.

Chiến Sĩ Cho Nhân Quyền

Cuộc chiến đấu bênh vực cho nhân quyền được bắt rễ từ trong Tin Mừng là mối quan tâm hàng đầu của ÐTC Gioan Phaolô II. Nhân quyền bất khả xâm phạm thật ra là quyền Thiên Chúa ban cho con người không ai có thể tước đoạt dù dưới danh nghĩa hay ý thức hệ nào. Quyền con người ở phạm trù cá nhân hay xã hội đều nhắm vào lợi ích chung của cả thế giới chứ không phải bị o ép theo một khuôn mẫu lệ thuộc vào chủ nghĩa dân tộc hay quyền lợi quốc gia hẹp hòi.

Trong sứ điệp nhân kỷ niệm 50 năm Bản Tuyên bố Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc vào ngày 30.11.1998, ÐTC khẳng định một trật tự xã hội bình đẳng đòi hỏi sự tôn trọng nhân quyền và tình liên đới giữa các quốc gia, dân tộc.

Qua công việc của Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình mà Ðức Cố HY Nguyễn Văn Thuận từng là Chủ tịch, Ðức Gioan Phaolô II không ngừng cổ võ cho sự tôn trọng tự do và nhân phẩm con người trên thế giới đặt trên căn bản đối thoại và công lý.

Sứ Giả Hoà Bình

Trong 25 năm triều đại giáo hoàng, Ðức Gioan Phaolô II đã nỗ lực không ngừng trong việc cổ võ hoà bình giữa các dân tộc.

Năm 1978, ÐTC Gioan Phaolô II đã giúp tìm ra một giải pháp cho một cuộc chiến tranh sắp bùng nổ giữa hai nước Argentina và Chile liên quan đến chủ quyền của kênh đào Beagle. Tháng 5 & 6 năm 1982, ÐTC cũng can thiệp thành công trong cuộc chiến về quần đảo Folkland giữa Argentina và Anh quốc.

Tuy nhiên, do các quốc gia nhiều khi đặt nặng quyền lợi riêng tư, họ đã không lắng nghe lời hay lẽ thiệt của ÐTC và vì thế cuộc chiến vùng Vịnh năm 1990-1991 đã không thể tránh được. Ðiều này cũng đã xảy ra trong năm 1999 khi Cựu Tổng thống Nam Tư Milosevic không lắng nghe lời kêu gọi của Toà Thánh khiến cuộc chiến Kosovo xảy ra đem lại tang tóc đau thương cho người dân lành.

Cuộc chiến huynh đệ tương tàn ở Liban trước đây và cuộc xung đột đẫm máu giữa người Palestine và Israel vẫn tiếp tục hiện nay là mối bận tâm vô cùng to lớn của ÐTC mặc dầu ngài đã nhiều lần can thiệp trong nỗ lực tìm kiếm một nền hoà bình chân chính và lâu dài.

Hoạt động cho hoà bình của Ðức Gioan Phaolô II được thực hiện không phải chỉ qua Bộ Ngoại giao Toà Thánh hay Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình nhưng còn qua các sáng kiến làm việc của Toà Thánh với những Hội đồng Giám mục của các quốc gia liên hệ.

Ðức Gioan Phaolô II đã 2 lần đến trụ sở Liên Hiệp Quốc để cổ võ cho hoà bình vào các năm 1979 và 1995.

Hằng năm, vào ngày đầu năm dương lịch cũng là ngày Hoà bình Thế giới, ÐTC ra một bức thư về các vấn đề liên quan đến hoà bình với những đề nghị cụ thể. Vào những ngày đầu năm, ÐTC cũng đọc diễn văn cho ngoại giao đoàn các quốc gia bên cạnh Toà Thánh ghi nhận tình hình quốc tế.

Ðối Thoại Liên Tôn Chân Thành

ÐTC Gioan Phaolô II luôn rao giảng về sự tôn trọng và lòng khoan nhân giữa các tôn giáo. Ngài cũng tạo sự đối thoại liên tôn qua các cuộc gặp gỡ của các nhà lãnh đạo tôn giáo toàn cầu tại Assisi để cầu nguyện cho hoà bình trong những năm 1986, 1993, 2002.

Trong cuộc gặp gỡ liên tôn giữa tại Giêrusalem ngày 23.3.2000, ÐTC tuyên bố: "Giáo hội Công giáo mong muốn theo đuổi một cuộc đối thoại liên tôn chân thành và có kết quả với những thành viên thuộc Do thái giáo và Hồi giáo. Qua một cuộc đối thoại như thế, chúng ta sẽ không cố áp đặt các tư tưởng của mình lên người khác. Ðiều quan trọng là chúng ta trong khi trung thành với niềm tin của mình, chúng ta hãy lắng nghe nhau với lòng tôn trọng và chúng ta hãy cùng tìm kiếm phân định điều tốt lành và thánh thiện trong các lời giáo huấn của nhau."

Trong cuộc đối thoại liên tôn, ÐTC bày tỏ một cảm tình đặc biệt cách riêng đối với anh chị em Do thái giáo. Ðã từng trải qua cuộc sống thời Thế chiến 2 tại Ba Lan, Ðức Gioan Phaolô II hiểu rõ thế nào là nỗi đau của một dân tộc được Thiên Chúa chọn lại bị Ðức Quốc Xã thảm sát tàn khốc và vì thế ngài đã không ngần ngại khi đi những bước trước trong việc xoá đi những tị hiềm, nghi ngờ giữa người Do thái và Công giáo có từ bao ngàn năm. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên thăm một hội đường Do thái giáo ở Rôma (ngày 13.4.1986). Ngài đã cử hành nghi thức thống hối ngày 12.3.2000 về những lầm lỗi xúc phạm của con cái Giáo hội đối với người Do thái trong quá khứ. Trong cuộc hành hương Ðại Năm Thánh tại Ðất Thánh từ 20-26.3.2000, ÐTC đã đến cầu nguyện ở Bức Tường Than Khóc.

Người Cổ Võ Công Cuộc Rao Giảng Tin Mừng

Vào ngày 9.6.1979, dưới chân cây thánh giá ở Mogila, gần thành phố Cracovie (Ba Lan), ÐTC lần đầu tiên nói về cuộc "Rao giảng Tin Mừng mới". Ngài muốn nhấn mạnh đến việc nhiều nước Âu châu vốn có truyền thống Kitô giáo đã bị xói mòn bởi những ý thức hệ và chủ nghĩa tục hoá, vô thần khiến loại bỏ giáo trị Kitô giáo ra khỏi cuộc sống của họ, ở mức độ cá nhân cũng như mức độ xã hội. Ðó là lý do ngài luôn kêu gọi các nước Âu châu hãy quay trở lại với di sản Kitô giáo của mình. Ðồng thời, ngài cũng khuyến khích và hỗ trợ cho nhiều phong trào, hội đoàn mới được thành hình để phục vụ cho việc truyền giáo này.

ÐTC cũng quan tâm đến công cuộc rao giảng Tin Mừng ở các châu lục khác qua các hình thức đối thoại, hội nhập văn hoá, giáo dục, cổ võ công lý và hoà bình, và truyền thông xã hội.

Vị Mục Tử Của Giới Trẻ

Kể từ khi bắt đầu triều đại giáo hoàng của mình, Ðức Gioan Phaolô mong muốn ngài là vị giáo hoàng của giới trẻ. Và ngài đã thực sự là thế. Trái với suy tưởng của nhiều người cho ngài quá lỗi thời, ÐTC và sứ điệp của ngài đã thực sự đi sâu vào lòng của người trẻ. Ði đến nới đâu, ngài cũng được giới trẻ dành cho những tình cảm rất đầm ấm yêu thương như của những người con dành cho một người cha đích thực. Lý do là ngài đã lắng nghe, thông cảm và thật sự quan tâm đến hạnh phúc của họ.

Ngài đã có sáng kiến lập nên các cuộc Ðại hội Giới Trẻ Thế Giới được tổ chức mỗi 2 năm. Các Ðại hội Giới Trẻ Thế Giới ở Buenos Aires - Argentine (1987), Compostella - Tây Ban Nha (1989), Czestochowa - Ba Lan (1991), Denver - Hoa Kỳ (1993) - Manila - Phi Luật Tân (1997), Paris - Pháp (1997), Rôma - Ý (2000), Toronto - Canada (2002) là những bằng cớ xác thực về sức thu hút của ÐTC đối với người trẻ khi họ qui tụ về bên ngài đến cả hàng triệu để được nghe ngài nói về Chúa Giêsu, Ðấng Cứu Thế nhân loại.

Phong Chân Phước & Phong Thánh: Những Chứng Từ Ðức Tin

Kể từ khi thủ tục phong chân phước và hiển thánh được giao cho Toà Thánh quyết định kể từ năm 1588 (trước đó, các vị thánh và chân phước do giáo hội địa phương đảm nhiệm), ÐTC Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng tuyên phong chân phước và hiển thánh nhiều hơn bất kỳ giáo hoàng nào. Hơn nữa, con số khoảng 1300 chân phước và độ 270 vị thánh (đa số là chân phước và các thánh tử đạo) Ðức Gioan Phaolô II đưa lên bàn thờ trong 25 năm triều đại của ngài nhiều hơn tất cả các thánh và chân phước được các giáo hoàng tuyên phong trong thời kỳ này gộp lại.

Một số người phàn nàn ÐTC đã phong thánh và chân phước quá nhiều đến mức lạm dụng. Tuy nhiên, do những thay đổi từ chính ÐTC Gioan Phaolô II đề ra qua tông hiến "Divinus Perfectionis Magister", tiến trình phong chân phước và hiển thánh được đơn giả hơn nên tiến trình đi nhanh hơn. Ðiều quan trọng hơn nữa, đó là ÐTC hiểu rằng sống trong một thời đại chỉ biết tôn thờ danh vọng, lý trí, tiền bạc, việc phong chân phước và hiển thánh những con người thuộc mọi lứa tuổi, thuộc mọi sắc dân, thuộc mọi thành phần xã hội dám sống cho Thiên Chúa và tha nhân là một chứng tá hùng hồn của đức tin Kitô giáo. Do đó, Ðức Gioan Phaolô II đã muốn cho thấy qua các chứng tá đức tin này, con đường nên thánh phải là ơn gọi phổ quát của mọi Kitô hữu dù sống bất kỳ thời đại nào.

Ðức Gioan Phaolô II cũng là vị giáo hoàng đầu tiên cử hành lễ phong chân phước ngoài Rôma khi ngài phong chân phước vào ngày 18.2.1981 cho Chân phước Lorenzo Ruiz và 15 đồng bạn tử đạo ở Nagasaki (Nhật bản) vào thế kỷ 17.

Ngài cũng là người đầu tiên công bố một cặp vợ chồng Zélie và Louis Martin, cha mẹ của Thánh nữ Têrêxa Hài Ðồng Giêsu, lên hàng đáng kính. Rồi ngày 24.10.2001, một cặp vợ chồng được phong Chân phước là ông bà Luigi và Maria Quattrocchi.

Ðối với ÐTC, tuổi trẻ cũng có thể sống thánh được. Ngày 13.5.2000, ngài phong chân phước cho hai trẻ Phanxicô (chết lúc 9 tuổi) và Giaxinta (chết lúc 7 tuổi) đã được Ðức Mẹ hiện ra tại Fatima năm 1917. Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử Giáo hội, hai vị chân phước trẻ tuổi nhất được công nhận.

Các vị tử đạo thế kỷ 20 cũng được ÐTC trân trọng công nhận như là những tấm gương sáng về đức tin kiên cường Kitô giáo qua các cơn bách hại của chủ nghĩa độc tài, phát xít, quân phiệt.

Người Bảo Vệ Sự Sống

Kể từ khi lên ngôi giáo hoàng, Ðức Gioan Phaolô II đã ra sức bảo vệ sự sống con người từ khi bắt đầu cho đến chết tự nhiên. Ngài đã lên án các hành động phá thai và trợ tử đang diễn ra nhan nhản trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia vốn có truyền thống Kitô giáo như Bỉ, Hoà Lan và Âu châu nói chung. Năm 1995, với Thông điệp Evangelium Vitae ("Tin Mừng Sự Sống"), ngài nhấn mạnh một lần nửa giá trị và tính bất khả vi phạm của sự sống con người. Ðối với ngài, việc bảo vệ sự sống "như là một tin mừng cho con người thuộc mọi thế hệ và mọi nền văn hoá" (EV #1).

Theo Ðức Gioan Phaolô II, Tin Mừng Sự Sống không thể tách rời với việc cổ võ hôn nhân và đời sống gia đình Kitô giáo. Ngoài việc triệu tập một Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới năm 1980 để bàn thảo và ra tông huấn Familiaris Consortio năm 1981 về đời sống gia đình, ÐTC cũng đã thành lập Hội đồng Giáo hoàng về Gia đình ngày 9.5.1981 gồm các thành viên không chỉ là giáo sĩ mà còn có các cặp vợ chồng.

Ðể khuyến khích gia đình Công giáo sống thánh giữa dòng đời, ÐTC đã có những cuộc đại hội thế giới tại Rôma - Ý (10.1994), Rio de Janeiro - Brazil (10.1997), Rôma - Ý (10.2000) và Manila - Phi Luật Tân (2.2003).

Hiệp Nhất Kitô Hữu - Mối Quan Tâm Hàng Ðầu

Ðức Giáo hoàng Gioan XXIII (1958-1963) đã khai mở cho cánh cửa đối thoại vào năm 1960 khi thiết lập một Ủy ban sau này trở thành Hội đồng Toà Thánh Cổ võ cho Hiệp nhất Kitô hữu. Ðức Phaolô VI (1963-1978) đã dấn thân trong các cuộc đối thoại đại kết với các Giáo hội Kitô khác. Hai biến cố đại kết lớn trong triều đại Giáo hoàng của ngài là cuộc gặp gỡ giữa ngài với Ðức Thượng phụ Chính thống Constantinople Athenagoras vào tháng 1.1964 và ngày 7.12.1965, cả hai vị cùng cất vạ tuyệt thông của 2 Giáo hội Công Giáo và Chính thống giáo áp đặt cho nhau hơn 5 thế kỷ trước đó.

Tiếp nối con đường đại kết của các vị tiền nhiệm, ÐTC Gioan Phaolô II đã cố gắng có những cuộc gặp gỡ với các vị đại diện của những Giáo hội Kitô khác mỗi khi ngài đi công du mục vụ. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên giảng trong một nhà thờ tin lành Lutêrô ở Rôma. Ngài cũng mời một số nhân vật ngoài Công giáo hướng dẫn suy gẫm về Ðàng Thánh Giá vào thứ Sáu Tuần Thánh ở Hí trường Colosseum như Ðức Thượng phụ Chính thống Constantinople Bartôlômêô I vào năm 1994, một tu sĩ tin lành Thụy sĩ năm 1995,.

Tháng 1 năm 2000, cùng với Giám mục Anh giáo George Carey và giám mục Athanasios của Chính thống giáo, ÐTC đã khai mở Cửa Thánh Ðền Phaolô Ngoại Thành. Ngài cũng ghi nhận những người không Công giáo vào danh sách các vị tử đạo thế kỷ 20 trong một nghi lễ vào ngày 7.5.2000 tại Hí trường Colosseum ở Rôma.

Nhất là qua Thông điệp Ut Unum Sint ("Ước gì cho họ nên một") được đưa ra năm 1995, ÐTC đã đánh dấu một chặng đường quyết định trên con đường tiến đến hiệp nhất khi ngài can đảm đưa ra một sáng kiến đề nghị những người Kitô hữu không phải là Công giáo hãy giúp ngài cùng tìm ra một hình thức cho mục vụ ngai toà Phêrô nhằm phục vụ cho việc hiệp nhất Kitô giáo.

Tuy nhiên, mặc cho những cố gắng tích cực của Ðức Gioan Phaolô II, con đường hiệp nhất xem ra vẫn còn xa khi Chính thống giáo Nga vẫn còn đố kỵ Công giáo trong nước họ và một số giáo hội Tin Lành chấp nhận phụ nữ linh mục và giám mục cũng như linh mục và giám mục đồng tính luyến ái,. đi ngược lại với truyền thống Công giáo nói riêng và truyền thống Kitô giáo nói chung.

Giáo Hoàng Của Ðại Năm Thánh 2000

Sau cuộc bầu Ðức Gioan Phaolô II vào năm 1978, Ðức Hồng Y Wiszynski của TGP Varosive của Ba Lan tiên báo với vị tân Giáo hoàng: "Ngài sẽ là vị giáo hoàng đưa Giáo Hội vào thiên niên kỷ thứ ba". Lời tiên đoán trên đã thành sự thật.

Năm 2000, ÐTC đã dồn tất cả sức lực thể lý lẫn tinh thần để mừng với toàn thể Giáo hội kỷ niệm biến cố 2000 năm Con Thiên Chúa làm người. Ngài cũng chuẩn bị cho Giáo Hội bước vào thiên niên kỷ mới với 3 năm chuẩn bị tinh thần sống đức tin với Ba Ngôi Thiên Chúa. Qua các tông thư, ngài cũng đề ra cho Dân Chúa một chương trình sống thánh và rao giảng Tin Mừng trong thiên niên kỷ mới.

Giáo Hoàng Của Ðau Khổ

Khi ngài 20 tuổi, ÐTC cảm thấy sự đau khổ khi phải mất tất cả người thân trong gia đình. Nỗi đau khổ còn tiếp tục khi ngài làm giáo hoàng. Ngoài những đau khổ tâm linh khi thấy thế giới và nhiều người con cái trong Giáo Hội sống xa rời Thiên Chúa, bản thân Ðức Gioan Phaolô II cũng chịu nhiều đau khổ thể xác. Ðó là khi ngài bị mưu sát gần chết vào ngày 13.5.1981. Kể từ đó, ngài đã vào bệnh viện cả thảy 6 lần với những chứng bệnh khác nhau. Hiện ngài đang bị chứng Parkinson hành hạ không điều khiển được cơ thể như ý muốn cộng với tuổi già khiến ngài rất đau nhức mỗi khi cử động. Tuy nhiên, ngài phấn đấu đón nhận đau khổ như là món quà của Thiên Chúa để thông phần đau khổ với Ðức Kitô.

Giáo Hoàng Của Cầu Nguyện -Thánh Thể - Ðức Mẹ

Lòng yêu mến thâm sâu đối với Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể đã giúp cho Ðức Gioan Phaolô II thêm sức mạnh để ngài tiếp tục sứ vụ được giao. Ý thức rõ quyền năng của Chúa Giêsu Thánh Thể, ngài đã cầu nguyện nhiều và đồng thời cũng kêu gọi các cộng đồng dòng tu chiêm niệm hãy cầu nguyện cho ngài và Giáo hội. Ngài kêu gọi có các giờ chầu lượt Thánh Thể trong những Ðại Vương Cung Thánh Ðường ở Rôma trong các giờ mở cửa.

Lòng yêu mến của Ðức Gioan Phaolô II đối với Ðức Mẹ cũng rất đặc biệt. Khi được chọn làm Giáo hoàng, khẩu hiệu của ngài là Tất Cả Cho Mẹ ("Totus tuus"). Ðây là khẩu hiệu Giám mục của ngài ở Cracovie vào năm 1958 khi được ÐTC Gioan XXIII chọn làm giám mục. Khẩu hiệu này lấy từ câu Latinh của Thánh Louis-Marie Grignon de Monfort là một vị thánh có lòng sùng kính Ðức Mẹ cách đặc biệt: Totus tuus ego sum, et omnia mea tua sunt ("Con hoàn toàn thuộc về Mẹ, và tất cả của con là của Mẹ") và câu này Thánh Monfort cũng mượn từ Thánh Bônaventura. Trên biểu hiệu Giáo hoàng của Ðức Gioan Phaolô II có hình một cây thánh giá và một chữ "M" dưới đó có nghĩa là Mẹ Maria. Như thế, ÐTC cho thấy ngài muốn tận hiến cuộc đời và sứ vụ mục tử của ngài cho Ðức Kitô qua Mẹ Maria. Ðối với ÐTC, Mẹ Maria là đường dẫn ngài đến chân Thánh giá.

Lòng tôn sùng của ÐTC đối với Mẹ Maria đã có từ ngày ngài còn bé. Năm lên 10 tuổi, ngài nhận ảnh vảy Ðức Bà Camêlô mà ngài vẫn luôn đeo trong mình. Ngài cũng gia nhập các nhóm cầu nguyện Chuỗi Mân Côi ở Cracovie.

Khi lên ngôi giáo hoàng, lòng tôn sùng Ðức Mẹ tiếp tục gia tăng. Người ta thấy ngài hầu như lúc nào ngài cũng có tràng hạt Mân côi trên tay. Năm 1984, vào dịp Lễ Thăng Thiêng, ÐTC tận hiến cả thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Ðức Mẹ. Năm 1987, ngài ra Thông điệp Mẹ Ðấng Cứu Thế ("Redemptoris Mater) thiết lập một năm Thánh Mẫu. ÐTC cũng cho rằng chính Ðức Mẹ gìn giữ ngài trong vụ ngài bị mưu sát vào ngày 13.5.1981 ở Công trường Ðền Thánh Phêrô. Tháng 5.1982, ngài đến Fatima để tạ ơn Ðức Mẹ. Năm 1991 và năm 2000 ngài cũng qua Fatima để tạ ơn Ðức Mẹ.

Kết Luận

Trải qua 25 năm trên ngôi giáo hoàng, ÐTC Gioan Phaolô II đã thực hiện nhiều điều kỳ diệu. Tiếp tục đường hướng mục vụ của Công đồng Vatican II, ngài đã có những hành động can đảm phi thường, sẵn sàng mở lòng ra cho ân sủng của Chúa Thánh Thần tác động với mục đích đem lại phần rỗi cho Giáo Hội và nhân loại này.

Tất cả những gì ngài đã làm cho Hội Thánh và thế giới cho thấy một tâm hồn luôn gắn bó với Thiên Chúa, với Mẹ Maria, xứng đáng là vị mục tử tốt lành theo gương Thầy Chí Thánh Giêsu.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com