|
Tiến Sĩ Thần Học Luân Lý Trong việc chọn lọc những câu hỏi, chúng tôi cố gắng lưu ý đến những phương diện khác nhau của ‘lẽ đạo’, nhất là những vấn nạn liên quan đến luân lý, phương diện bức xúc nhất trong đời sống Kitô hữu ngày nay. Ðể trả lời những thắc mắc, quan điểm của chúng tôi dựa vào Lời Chúa, và Huấn quyền của Giáo hội. Quan điểm ấy cũng cố gắng kết hợp giữa những suy tư thần học và thực tế mục vụ. Ðương nhiên, trong khuôn khổ giới hạn của mục này, những giải đáp của chúng tôi không thể bao gồm tường tận mọi chi tiết. Vì thế, ngoài mục đích chính là cống hiến những hiểu biết căn bản, hy vọng mục giải đáp này cũng gợi ý và động viên sự chú tâm tìm hiểu những bài nghiên cứu hệï thống hơn. Mục ‘Hiểu Ðạo - Sống Ðạo’ mong ước được trở nên người bạn đường để chia sẻ với Quý Ðộc Giả những băn khoăn trong hành trình Ðức Tin hằng ngày. Vậy, mọi thắc mắc liên quan đến việc tìm hiểu để sống đạo, xin Quý Vị vui lòng gởi về cho chúng tôi qua ở địa chỉ e-mail dominiquebao@hotmail.com hoặc ở địa chỉ Tòa Soạn Nguyệt san Ðức Mẹ HCG. Ly dị và Tiêu hôn khác nhau thế nào? Hỏi: Thưa cha, trong Phúc âm Mathêu 19, (.) Chúa nói: ".vì lòng dạ các ngươi chai đá nên Maisen đã cho phép rẫy vợ, chứ thuở ban đầu không được như thế." Vậy, một cách nào đó Chúa Giêsu muốn khẳng định lại luật nguyên thủy của hôn nhân. Vậy thì tại sao: a) Ngày nay, đi đến đâu con cũng nghe nói đến việc tiêu hôn (annulment) giữa hai người đã thành hôn theo nghi thức và bí tích của Giáo hội Công giáo? Việc ấy có hợp pháp (legal) với đạo Công giáo không? b) Tại sao hầu như trong mỗi giáo phận đều có Tòa Án Hôn Phối để cứu xét và cấp giấy cho phép người ta tái hôn? Phải chăng là luật ‘cả nể’ của Maisen vẫn còn được áp dụng? (Nghĩa Anh, Canada). Ðáp: Câu hỏi của ông liên quan đến 2 trường hợp cần phải phân biệt rõ ràng: Tiêu hôn (annulment) và Ly dị (divorce). Ðể có câu trả lời chi tiết, xin ông xem lại mục ‘Hiểu đạo Sống Ðạo’ trong các số báo Ðức Mẹ HCG trước (tháng 1 và 3-2003). Ở đây, chúng tôi chỉ xin lập lại cách tóm tắt như sau: a) ‘Tiêu hôn’ khác biệt hoàn toàn với ‘ly dị’ hoặc ‘phá vỡ Bí tích Hôn phối’. Tiêu hôn là xác nhận rằng một cuộc hôn nhân đã không thành bí tích (sacramentally invalid) vì những yếu tố như: bị ép buộc cưới nhau, gian dối hay lừa gạt tình cảm, thiếu sự hiểu biết và ưng thuận rõ ràng về bản chất, mục đích, quyền lợi căn bản của hôn nhân (xem Giáo luật từ số 1095 đến số 1107), và vì những điều đã được Giáo hội quy định (xem Giáo luật số 1083 đến số 1094). Ngược lại, ly dị là tự ý phân ly, phá đổ một khế ước hôn nhân đã thành bí tích (sacramentally valid). Như vậy, một giao ước hôn nhân tuy đã được cử hành theo nghi thức Công giáo (bên ngoài) vẫn có thể được coi là không thành bí tích (bên trong) khi bị mắc vào những yếu tố nêu trên. Nếu cuộc hôn nhân quả thật không thành sự, thì hôn nhân ấy cũng không bị giây bí tích ràng buộc (sacramental bond). Do đó, tự nó, việc tái hôn trong trường hợp này sẽ không bị ngăn trở, hoặc bất hợp pháp, xét theo luật đạo Công giáo. Tuy nhiên, để việc cử hành hôn nhân mới được thật sự hợp pháp, giáo luật yêu cầu hai người phải làm thủ tục tiêu hôn, và phải nhận được phán quyết tiêu hôn chính thức (nullity decree) của giáo quyền trước khi tiến hành nghi thức hôn phối lại (xem Giáo luật số 1085:2). b) Trong bổn phận mục vụ của mình, "vị Chủ Chăn (Giám mục) phải lo liệu sao cho các tín hữu của mình bảo toàn bậc sống hôn nhân theo tinh thần Kitô giáo, thăng tiến ơn gọi gia đình theo đường trọn lành" (GL. 1063). Và, các ngài phải thu xếp sao cho "sự lo liệu, trợ giúp nói trên được tổ chức cẩn thận" (GL. 1064). Ðiều đó nghĩa là Tòa án Hôn phối trong Giáo hội được thiết lập như một phương tiện cụ thể để chăm sóc cho sự thiện ích thiêng liêng về nhiều mặt của gia đình Công giáo. Chắc chắn Tòa án ấy không phải chỉ ‘để cấp giấy cho phép người ta tái hôn’ hầu ‘áp dụng luật cả nể của Maisen’. Thật ra, ở đây cũng không phải là vấn đề ‘cả nể’. Vì, không có luật lệ nào của con người (cho dù là luật Maisen thời xưa hay luật Giáo hội thời nay) được đặt cao hơn và phải ‘cả nể’ hơn là luật Thiên chúa. Nếu một cuộc hôn nhân đã thành sự bí tích, nghĩa là đã thật sự được Chúa đóng ấn, liên kết, Giáo hội không bao giờ có quyền tháo gỡ. "Sự gì Thiên chúa đã liên kết, con người không được phân ly" (Mt. 19:6). Nhưng khi tuyên bố một cuộc hôn nhân ‘tiêu hôn’, Giáo hội chỉ làm công việc điều tra, suy xét và xác định rằng hôn nhân ấy đã không thành sự vì những lý do đặc biệt nêu trên. Hậu quả của việc Ly dị Hỏi: Nếu hai người đã thành hôn theo luật hôn nhân Công giáo, sau một thời gian chung sống, người vợ muốn ly dị, nhưng người chồng không chịu. Sau nhiều lần từ chối, người chồng đành phải nhượng bộ vì bị người vợ làm áp lực. Thưa cha, dĩ nhiên là người vợ có tội vì là người chủ xướng (first mover) trong việc phá vỡ Bí tích Hôn phối; nhưng phần người chồng có bị mắc tội hay không khi anh ta ‘bị ép’ ký tên vào đơn ly dị? Hoặc anh ta có tội hay không nếu anh ta không ký tên vào đơn mà để mặc cho người vợ tiến hành một mình? Nếu anh ta có tội thì xưng tội ấy thế nào và ăn năn tội ra sao? (Nghĩa Anh, Canada). Ðáp: Câu hỏi của ông thiếu vài chi tiết cụ thể nên chúng tôi không thể trả lời cách dứt khoát. Khi ông nói rằng bị ‘áp lực’, ‘bị ép’ ký tên vào đơn ly dị, chúng tôi muốn biết cụ thể hơn: Áp lực hay sự bắt ép đó là gì? Nếu không chịu ký tên thì sẽ có những hậu quả (tâm lý, thể lý, pháp lý, v.v.) thế nào xảy đến cho người chồng? Còn nếu chịu ký thì sẽ lợi hại thế nào? Việc xác định một hành động thật sự là tội hay phúc, và tội hay phúc ở mức độ nào, là việc thẩm định luân lý rất tế nhị. Ðiều quan trọng là phải có đầy đủ những yếu tố liên hệ (moral circumstances). Theo giáo lý Công giáo căn bản, một hành động được coi là tội khi và chỉ khi hội đủ 3 yếu tố: việc tội (Object); có ý thức, hiểu biết về việc tội (Awareness); và tự do lựa chọn (Free Will). Vậy, nếu người chồng quả thật bị đe dọa, ép buộc, thì anh không mắc tội, vì không có sự tự do. Tuy nhiên, nếu anh ta mau mắn ‘nhượng bộ’, hoặc trong thâm tâm cũng muốn ký giấy ly dị ấy, thì ít nhiều anh cũng mắc lỗi. Người Công giáo ly dị thì phạm tội "nghịch luật Chúa" và "phạm đến bổn phận đặc biệt." Vì thế sẽ bị phạt ‘vạ cấm chế’ (GL. 1332), nghĩa là bị cấm chỉ lãnh nhận các bí tích (GL. 1331:2). Do đó, sẽ không được xưng tội và rước lễ cho đến khi điều chỉnh tình trạng hôn nhân này bằng cách nào đó (xem GL. 1358). Xưng tội: cần thiết không? Hỏi: Phải thú thật, từ ngày qua Mỹ, con ít có thói quen đi xưng tội. Có mấy lý do chính khiến con không siêng năng làm việc này. Trong Kinh thánh, con không thấy chỗ nào Chúa nói chúng ta phải đi xưng tội, mà chỉ thấy luật Hội thánh buộc ‘xưng tội trong một năm ít là một lần’. Nếu làm tội, tại sao mình không xưng thú với Chúa để trực tiếp, mau chóng hơn, mà phải đi đến với các linh mục? Mấy người bạn tin lành của con nói cũng có lý rằng linh mục cũng là người như mọi người tại sao lại phải đến xưng tội với họ và xin họ tha thứ cho mình? (Hoàng Tâm, VA) Ðáp: Thật ra, việc xá giải tội lỗi để được cứu độ là một trong những điểm trọng yếu trong giáo huấn của Chúa Giêsu. Vậy, bí tích giải tội là điều mà chính Chúa Giêsu đã truyền dạy. Và điều ấy ta có thể tìm thấy rất rõ ràng trong Thánh Kinh. Các sách Phúc âm ghi nhận rằng Chúa Cha là Ðấng hay thương xót và tha thứ (Lc. 5:21). Tình xót thương ấy, Ngài biểu tỏ qua con người và công việc của Chúa Con. Chúa Giêsu đã xác định với các môn đồ: "Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được trao cho Ta" (Mt. 28:18), "Con Người có quyền tha tội dưới đất" (Lc.5:24). Quyền tha thứ tội lỗi đã được Chúa long trọng trao ban cho Hội thánh, qua các tông đồ: "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con.Những ai các con tha tội thì tội người ấy được tha. Những ai các con cầm buộc thì tội họ sẽ bị cầm lại." (Ga 21:20). Ðây là những bằng chứng rõ ràng trong Kinh thánh để xác nhận việc chính Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích giải tội. ‘Các linh mục cũng là người như mọi người, tại sao phải xưng tội với họ và xin họ tha thứ cho mình?’ Ðây là một nghi vấn đã có từ thời Chúa Giêsu khi các người Pharisieu nói về Ngài rằng: "Ông này là ai mà có quyền tha tội!" (Lc 5:21). Nghi vấn ấy lại được khai thác từ thời hình thành các Giáo hội Tin lành, là những người không chấp nhận quyền bính thiêng liêng của các vị Chủ Chăn thuộc Giáo hội Công giáo. Ðiều trọng yếu ta phải nắm vững ở đây là, trong Bí tích giải tội, không phải các linh mục là người tha tội cho ta. Chính Thiên Chúa là người duy nhất có quyền thứ tha tội lỗi nhân loại. Tuy nhiên, Ngài đã ủy thác quyền tha thứ ấy cho Giáo hội: "Sự gì chúng con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc. Sự gì chúng con tha cởi dưới đất trên trời cũng tha cởi" (Mt.18:18). Vậy linh mục là người đại diện mà Chúa dùng để lắng nghe, khuyên giải và xác nhận với ta rằng Ngài thật sự yêu thương và tha thứ cho ta. Vì thế, trong lời xá giải, linh mục đọc: "Thiên Chúa Cha đầy lòng nhân ái yêu thương, đã giao hòa với nhân loại tội lỗi qua sự chết của Chúa Giêsu trên Thập giá. Ngài đã sai Thánh Thần xuống để ban ơn xá giải tội lỗi. Chính Ngài ban cho con ơn tha thứ và bình an. Và cha, qua thừa tác vụ của Hội thánh, cha tha tội cho con nhân danh Chúa Cha, Con và Thánh Thần!" ‘Tại sao mình không xưng thú với Chúa trực tiếp, mau chóng hơn mà phải đi đến gặp các linh mục?’ Có ít nhất ba lý do cắt nghĩa việc này. - Trong truyền thống Giáo hội Công giáo, việc hòa giải với Thiên chúa không chỉ là một chuyện riêng tư, cá nhân. Là thành viên cộng đoàn Giáo hội, khi một tín hữu phạm tội, người ấy xúc phạm đến Chúa, và đương nhiên cũng làm tổn thương đến sự thánh thiện của Nhiệm thể Ngài là Giáo hội. Khi giao hòa với Thiên Chúa, đồng thời người ấy cũng cần giao hòa với Giáo hội nữa. Vì thế, việc hối cải và xin ơn tha thứ của người tín hữu nhất thiết phải mang chiều kích cộng đoàn. Ngày xưa, hối nhân phải xưng tội trước mặt vị đại diện và làm việc đền tội công khai trước cộng đoàn, theo một tiến trình phức tạp. Từ thế kỷ thứ XI, tập tục ấy được đơn giản hóa nhiều phần để biến thành nghi thức xưng tội hiện nay, nhưng vẫn giữ lại phần cốt lõi là xưng thú lỗi lầm với vị đại diện Chúa Kitô. - Chiều kích cộng đoàn và tính cách nghi thức của việc xưng tội thật ra bao hàm những lợi ích riêng. Xét về mặt tâm lý, khi ta có thể tự mình xá giải cho mình bằng cách ‘xưng thú trực tiếp với Chúa cho mau chóng’, thì dĩ nhiên ta cũng sẽ tái phạm các lỗi lầm cách dễ dàng. Ngược lại, khi phải ‘khổ công’ đi đến tòa giải tội để gặp linh mục, để được lãnh nhận lời xá giải chính thức, ta sẽ thấy rằng ơn giao hòa quả thật đáng giá và cao quý biết bao. Vì thế, ta sẽ nỗ lực hơn trong việc tránh chừa tội lỗi để bảo tồn ơn ấy trong tâm hồn ta. Xét về mặt luân lý, lời khuyên giải của linh mục trong tòa cáo giải còn có tác động hóa giải những lương tâm tự tôn chủ quan; trấn an, yên ủi những lương tâm tự ti, bối rối. - Quan trọng hơn cả, ta phải hiểu rằng xưng tội là một trong 7 nghi thức bí tích (sacramental rite). Ðã là nghi thức thì phải có người thừa tác (sacramental minister). Ðó là lý do tại sao khi Chúa Giêsu thiết lập bí tích này, đồng thời Ngài cũng cắt đặt người thừa tác, như trong đoạn Phúc âm trên ghi nhận. Vì thế, để lãnh nhận ơn tha thứ qua bí tích giải tội, ta cần phải qua trung gian là các linh mục trong Giáo hội. Trong Phúc âm, Giakêu, Mađalêna và những người tội lỗi cũng phải gặp gỡ Chúa Giêsu và nghe lời thứ tha của Ngài mới có thể được ơn hoán cải, và đổi mới cuộc đời. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |
|