TỰ THUẬT

(Kỳ 40)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

Chiều hôm ấy con về đến Lạng sơn. Ở Lạng sơn, con cũng được "biệt đãi" như ở Quảng uyên, nhưng ở đây nó có phần mỉa mai hơn là chua chát, con phải cầm cự hết sức mới khỏi để rơi nức mắt, vì bức thư cha Maillet gửi về cho cha Joseph Toàn, người đã kết án con trong nhiều việc quái gỡ. Theo nghĩa của tiếng quái gỡ mà cha Maillet thường dùng là, kiêu ngạo, giả hình, mê ăn uống. Do đó cha Joseph Toàn lại cho con một bài giảng dài nữa, và sau cùng con bị coi như một cái rơm thu gọn trong sọt rác.

Cha Joseph Toàn người đã tuyên bố:

- Hễ thấy cái mặt nó đâu thì mình lại bốc hỏa, và chỉ muốn đạp dúi cho nó mấy cái cho nó chết tiệt đi, để mình khỏi phải thấy. Bởi vậy luôn luôn con cứ phải nép mình trong bóng tối, nhất là trong bóng nhà thờ, và nơi nào gần nhà tạm nhất.

Ở đấy con ẩn nấp và sụt sùi với Giêsu, và cũng ở đấy con lấy thêm can trường để chịu đựng cơn thử thách.

Qua ngày hôm sau, con đi tầu mười giờ đêm về Bắc Ninh. Nhưng mãi đến 7 giờ sớm hôm sau, tức là ngày thứ sáu, con mới về tới Bắc-ninh. Con định rẽ đường về thăm gia đình nhưng vì con không được phép ấy. Cha Joseph Toàn không muốn con về nhà quê trước khi trao bức thư của người cho cha Joseph Nhã ở Hữu Bằng. Nên cho dù đây là một dịp tiện con cũng không dám lỗi lời cha Joseph Toàn.

Bức thư con bắt buộc phải đem theo từ Lạng sơn về đây, không phải là một bức thư thường, nó chính là bản án buộc tội con. Ở Quảng Uyên, người ta đã kết án cho con, và có ý gửi con đi Lạng Sơn để chịu tội. Nhưng ở Lạng sơn, người ta lại nhờm gớm cái mặt con người tội nhân, nên người ta cũng chẳng thèm phạt, và cũng không tra hỏi gì hơn. Nhưng muốn để cho tội nhân phải chịu nhiều xỉ nhục hơn, ở Lạng Sơn người ta sao lại bản án và bắt tội nhân đeo về chỗ ở trước, và chịu hình phạt ở đấy.

Sự tủi nhục của con trong thời gian này, thật chỉ có thể nói là một mình Chúa biết. Con vẫn mong rằng, dù oan ức đến đâu, giá con cứ được chịu hình phạt ngay ở những nơi người ta kết tội con, thì con đỡ khổ gấp mấy. Nhưng đây, người ta lại bắt con phải chịu một hình khổ, khổ nhất trong mọi hình khổ, là bắt con phải chịu phạt trước mặt những người con thân quyến. Có thể vì đó mà con sẽ mất thanh danh, mất người tín nhiệm, vì những kẻ thù lý tưởng của con, càng cậy thế mạt sát con.

Ở Hữu Bằng, tuy con còn là một chú bé, thường chỉ sống kín ẩn trong nhà xứ, nhưng thiên hạ rất biết con. Người ta còn biết cả việc con không bao giờ uống rượu, và biết bán quần áo để lấy tiền giúp đáp anh em...v.v... Vâng, con vẫn rất ít biết người ngoài, thế mà người ngoài họ lại biết con nhiều đến thế. Phe đối lập của con cũng rất biết, và chỉ năng bàn tán về con. Họ mong rằng thế nào họ cũng sẽ có dịp trả oán cho con.

Tuy nhiên con phải vui lòng làm trọn thánh ý Chúa. Không được về quê trước (có lẽ người ta sợ con lẩn hình phạt?) con cũng xin vui lòng dâng hiến Chúa, rồi cứ theo tầu về Yên Viên, và sẵn sàng chịu đựng mọi thử thách.

Bẩy giờ tối hôm ấy (thứ sáu) con về đến Hữu Bằng. Cha Joseph Nhã đang nằm dài trên chiếc ghế ngựa cho mấy chị học trò nặn bóp. Người vừa nghe tin con về, người đã đoán ngay ra điều chẳng lành, vì năm học chưa mãn. Nhưng con đã biết cầm cơn nóng của người lại, bằng dâng lên một chục quả xoài tượng, con đã mua ở Yên Viên, nhưng con vớ vẩn gãi tai nói là xoài Lạng Sơn. Cho nên sau khi xem bức thư con trao cho người từ Lạng sơn đem về, người chỉ thở dài một cái, rồi bảo con đi ăn cơm.

Thế mà sau khi ăn cơm, con đã nghe trong nhà xứ kháo láo với nhau rằng:

- Văn bị đuổi! Không hiểu làm sao thế!...

Tuy nhiên không ai dám đụng chạm đến con, và họ chỉ tìm cách thân mật đến hỏi thăm con để dò la ý tứ.

Biết vậy, nên con đã hết sức vui vẻ nói những truyện thật hay về cha Maillet, và sau cùng con kết thúc: Tôi không rõ làm sao cha Maillet lại cho tôi về nghỉ sớm hơn thường và người có ý định đừng thấy tôi lên lại nữa, thế nghĩa là người đuổi tôi, nhưng tôi cũng không hiểu vì lý do nào mà tôi bị người xử như vậy?

Hai tuần lễ sau, anh Tân ở Lạng Sơn, cũng về nghỉ hè, và anh cũng chỉ biết nói như những người đã kết tội con. Do đó, người ta đã điều chắc chắn con bị một "ông thánh" tống cổ đi, nhưng họ không thể tìm được một cử chỉ nào không ngay thẳng trong con người con, để làm lý do cho việc con bị đuổi là có căn cứ. Chính cha Joseph Nhã cũng đã dò la con kỹ lưỡng lắm để phạt tội con một cách chín chắn. Nhưng vô hiệu, vì chắn chắn con không thể nào giả hình được cho đến nỗi che giấu được hằng trăm con mắt, lúc nào cũng là rình mò và theo rõi con? Thế mà sau một tháng cả trăm con mắt ấy điều biểu lộ một cách chân thành rằng: Văn vô tội.

Bởi thế, con không bị phạt, mà lại chỉ làm cho nhiều người hiểu con hơn trước. Chắc chắn rằng con không mong thế, nhưng khi Chúa thấy con đã sẵn sàng vui chịu xỉ nhục vì Người, thì Người lại đổi chén cay sầu ấy ra mùi vị ngọt ngào. Ý nhiệm của Chúa là thế đấy, nào ai biết trước được!.

 Một tháng sau, cha Joseph Nhã nhận được thư thày mẹ con gửi lên xin phép cho con về nghỉ ở nhà. Khi ấy thày mẹ chưa biết con đã về Hữu Bằng, mà vẫn tưởng con còn ở Quảng Uyên cơ. Trong bức thư mẹ đã tỏ ra nhiều lời thảm thiết mong gặp mặt con, và theo mẹ, mẹ tưởng con đã bị mất tích.

Ðược thư cha Yoseph Nhã cho con về thăm nhà ngay, và người cũng cho thày mẹ con biết việc con bị cha Maillet thải về, mà người cũng không bàn gì hơn, chỉ xin thày mẹ con coi xét con có thật như án con đã bị không, và tùy theo đó mà sửa phạt con.

 Vô can

 Con về nhà với một bức thư ngăm đe như thế, đã làm cho gia đình như mất một phần vui. Tuy nhiên con vẫn được thày mẹ quí mến, và tỏ ra trăm cách chiều chuộng. Bức thư của cha Jos Nhã có làm cho thày mẹ chú ý đến con hơn, nhưng qua những lần dò ý, và xem xét thái độ, con đã được mẹ tuyên bố là con vô can.

Lần này con có tỏ ý ra với mẹ và với chị Têrêsa rằng: con ước ao đi tu Dòng Chúa Cứu Thế. Mẹ thì mẹ ưng, nhưng bắt con phải theo một điều kiện là phải có cha Jos Nhã ưng thuận thì mẹ mới cho đi. Còn chị Lê, sau khi nghe con bày tỏ, chị đã tỏ ra ý chừng không hoan hô mấy. Chị bảo con còn nhỏ, học hành đang tấn tới, và tương lai linh mục thật là tươi sáng và tỏ rõ như ban ngày; như thế tội tình gì mà phải chui đầu vào tu viện, ngày ngày ăn cơm muối với nước lã... nhưng nhất là chị sợ con không tu nổi mà phải quay về với thế gian thì nhục nhã biết mấy!

Qua ít phút, con giải thích cho chị nghe con đường của Thánh ý Chúa, và đời sống phó thác của một linh hồn đã hiến toàn thân cho Chúa, thì chẳng còn lo sợ vì một lý do nào sẽ xẩy đến cho đời mình. Bấy giờ chị mới chịu, và để con đi dòng tùy ý.

Việc này con không nói với thày, mà chính nhẽ là con phải nói. Nhưng con nhận thấy khó nói quá, và hơn nữa là không biết nói thế nào được. Và theo ý mẹ, thì mẹ cũng muốn con đừng cho thày hay việc ấy, mẹ bảo để mẹ liệu, mà nếu mẹ có cần, thì khi nào con gần đi rồi hẵng cho thày hay.

Con ở nhà hai tuần lễ rồi lại trở lên Hữu-bằng.

Trước khi con tiếp tục hoạt động để xin vào dòng Chúa Cứu Thế, con đã viết cho cha Maillet hai bức thư dài. Thư thứ nhất con nói một cách nóng nẩy, đại ý con chỉ trích những điều lạm phép lố lăng, và phe cánh ở nhà mụ Quảng uyên. Con cũng chỉ trích sự thương yêu, và những cử chỉ thiên lệch của cha đối với các cô mụ và những người ở bên nhà xứ. Và sau cùng con kết thúc: đức thương yêu như thế chỉ là một sự bác ái làm cho điêu tàn, và làm sầu khổ những tâm hồn bị bách hại... Nếu cứ một thái độ như thế, con dám thách cha giữ nổi cái nhà mụ ấy đấy và đố cha hiệp nhất được với những kẻ sống chung quanh cha, cho dù cha có phải là một ông thánh hai, ba, tám, chín hào quang gắn trên đầu... Rồi cuối thư con xin cha quên hết mọi điều con đã lầm lỗi và cầu nguyện cho con được theo ơn Chúa cho đến cùng.

Thư đi, nhưng con không được cha Maillet đáp lại một chữ. Ðợi qua một thời gian rộng rãi, con lại gửi cho cha Maillet một bức thư thứ hai nữa; lần này con chỉ ôn hòa bày tỏ những lý do bắt buộc con phải xin ra khỏi Quảng uyên. Con không quên nói: Con hết lòng cám ơn Chúa, vì con đã không ngờ rằng được ra đi với một sức mạnh làm con không còn thể lưu luyến được một vật gì ở Quảng uyên nữa. Nhưng tất cả những việc đã xẩy ra con điều quên đi cả, giờ đây con chỉ còn biết ôn hòa nhận mình là một đứa con xa cách của cha. Con mong rằng cha sẽ bỏ qua hết mọi điều con lầm lẫn, và làm phiền lòng cha. Nếu được như thế con mới cảm thấy vui, và rồi để con tiếp tục dõi theo ơn Chúa.

Cha Maillet cũng không trả lời gì con. Nên con hiểu là giữa người và con nay không còn được liên lạc gì với nhau nữa. Con liền đến phân phô với Chúa, và xin Chúa chứng tỏ lòng con chỉ muốn ôn hòa, và theo dõi theo con đường tình ái.

Sau đó, con liền tiếp tục hoạt động vào dòng Chúa Cứu Thế.

(còn tiếp)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com