Tiến Sĩ Thần Học Luân Lý

Trong việc chọn lọc những câu hỏi, chúng tôi cố gắng lưu ý đến nhiều phương diện khác nhau của ‘lẽ đạo’, nhất là những vấn nạn liên quan đến luân lý, là phương diện bức xúc nhất trong đời sống Kitô hữu ngày nay. Ðể trả lời những thắc mắc, quan điểm của chúng tôi được đặt trên căn bản là Lời Chúa, Truyền Thống và Huấn Quyền của Giáo Hội. Quan điểm ấy cũng cố gắng kết hợp giữa suy tư thần học và thực tế mục vụ.

Ðương nhiên, trong khuôn khổ nhất định của đề mục này, những giải đáp của chúng tôi không thể bao gồm tường tận mọi chi tiết. Vì thế, ngoài mục đích chính là cống hiến những hiểu biết căn bản để giải tỏa những băn khoăn, hy vọng những giải đáp này cũng gợi ý và động viên sựï chú tâm tìm hiểu kỹ càng những bài nghiên cứu hệ thống hơn.

Mục ‘Hiểu Ðạo - Sống Ðạo’ mong ước được trở nên người bạn đồng hành để chia sẻ với Quý Ðọc Giả những băn khoăn trong hành trình Ðức Tin hằng ngày. Mọi thắc mắc liên quan đến việc tìm hiểu để sống đạo, xin Quý Vị vui lòng gởi về cho chúng tôi qua tòa soạn ÐMHCG.


Tướng số, Tử vi và Ðức tin

Hỏi: Thưa cha, trong gia đình con có nhiều chuyện buồn phiền xảy ra về vợ chồng, con cái. Mọi người đều nói rằng đó là vì con có nốt ruồi dưới khoé mắt, theo tướng số thì rất xấu. Thực ra thì con không tin, nhưng sự việc trong gia đình xảy ra ngày càng tệ hại hơn. Như vậy nếu con đi giải phẫu để lấy nốt ruồi ấy ra thì con có phải tội không vì đã tin vào tướng số và tử vi. Xin cha cho biết ý kiến. Cảm ơn cha. (Ngọc Nguyễn - Los Angeles, CA)

Ðáp: Tin tướng số, tử vi, bói toán, và những môn ‘khoa học huyền bí’ có phù hợp với Ðức Tin Công giáo không? Người Công giáo phải hành xử thế nào về việc này? Chúng tôi đã có dịp trình bày vấn đề này trong một vài số báo trước. Ở đây, chúng tôi chỉ xin tóm lược như sau. Lập trường của Giáo hội về vấn đề nầy rất rõ ràng. Trong sách ‘Giáo lý của Giáo hội Công giáo’ (Thiên III, phần 2, chương 1) ta đọc thấy:

"Coi tử vi, tướng số, chiêm tinh, tin bói toán, giải đoán vận mạng, nói tiên tri, dùng đồng bóng, thật ra là tham vọng nắm bắt và áp dụng quyền lực (bí ẩn) trên thời gian, lịch sử, cuộc đời con người. Những điều này phản nghịch với sự vinh danh, tôn thờ, kính sợ mà chúng ta phải dành tuyệt đối cho Thiên Chúa" (điều 2116). Vì thế, các thứ ấy cũng "đối nghịch trầm trọng với nhân đức tôn giáo Kitô hữu" (điều 2117).

Vậy, chúng tôi nghĩ rằng người Công giáo xác tín về đạo của mình không nên và không cần dùng đến những môn tử vi, tướng số. "Thái độ Kitô hữu đúng đắn là phó thác trọn vẹn tương lai trong tay quan phòng của Thiên chúa, đồng thời, tránh xa mọi sự tò mò nguy hại..." (điều 2115)."

Theo thống kê, tại ‘kinh thành ánh sáng’ Paris hiện nay, có hàng ngàn thày bói toán, tử vi, đồng bóng (medium), tiên tri (clairsvoyant). Ngay tại Hoa kỳ, con số những người cung ứng các dịch vụ ấy cũng không nhỏ. Cá nhân chúng tôi đã có dịp đọc các tài liệu nói về việc một vài công ty lớn hiện nay tuyển dụng nhân viên vào các chức vụ quan trọng một cách khá đặc biệt. Ngoài việc xét lý lịch, bằng cấp, khả năng chuyên môn, họ còn mướn cả những nhà tướng số coi diện mạo nhân viên để chuẩn đoán tính tình, hiệu năng thành công của đương sự nữa. Ðiều ấy cho thấy rằng đời sống tâm linh con người thời nay đang diễn ra một sự mâu thuẫn lớn. Một đàng, với những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, con người cảm thấy mình có thể tự chủ trên vận mạng mình và không cần đến thượng đế. Ðàng khác, khi gạt bỏ Thiên chúa ra khỏi đời mình, họ lại trở nên mê tín, và thường tìm đến những thần bụt mong tìm sự che chở, trấn an, soi dẫn đường đi nước bước trong đời.

Cụ thể, về vấn nạn của bà, chúng tôi xin chia sẻ suy tư sau đây dưới cái nhìn Ðức tin Công giáo. Khi tạo dựng và đặt để con người vào môi trường gia đình, xã hội, Thiên chúa ban cho mỗi người chúng ta 2 điều căn bản: Trí tuệ để suy nghĩ, nhận thức, và sự Tự do để lựa chọn. Thành công hay thất bại trong tương quan giữa người với người, hạnh phúc hoặc khổ lụy trong đời hôn nhân gia đình, và ngay cả Ân phúc hay trầm luân của cuộc sống chúng ta trước mặt Thiên chúa, đều tùy thuộc phần lớn nơi cách ta xử dụng trí tuệ và tự do Chúa ban như thế nào trong những hành xử hằng ngày. Chúng tôi nhớ tư tưởng của Ðức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận rằng: "Ngàn vain chấm thành một đường dài; muôn triệu phút thành một cuộc đời. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ thẳng; sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ đẹp." Cũng thế, trong đời sống gia đình, nếu mỗi phút giây, vợ chồng, cha mẹ và con cái biết luôn suy nghĩ khôn ngoan, nói năng trao đổi với nhau bằng sự bao dung và thông cảm thay vì chủ quan độc đoán; nếu họ chọn lựa lối cư xử hy sinh cho nhau thay vì ích kỷ, thủ lợi cho mình, thì gia đình sẽ bình an, hạnh phúc và đời sống chung sẽ đẹp.

Nhưng để đạt đuợc điều ấy, tiên vàn là gia đình cần phải liên kết chặt chẽ với Thiên Chúa. Kinh nghiệm mục vụ gia đình cho chúng tôi thấy rằng, thường thường, trước khi một cuộc hôn nhân tan vỡ, ly dị, vợ chồng đã ‘ly dị’ với Chúa trong đời sống mình; và khi cha mẹ con cái trong gia đình mất cảm thông, hiệp nhất, thì truớc đó, họ đã mất mối thông hiệp với chính Thiên chúa. Cho nên, để xét mình và chấn chỉnh hạnh phúc, gia đình cũng cần phải nhớ lại lời Ðức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận rằng: "Tại sao con buồn phiền, âu lo, bất an? Phải chăng vì có điều gì con đã làm không vui lòng Chúa?" (xc Ðường Hy Vọng)

Tóm lại, có thể cách cư xử nào đó giữa vợ chồng, cha mẹ con cái đã đưa đến tình trạng buồn phiền trong gia đình bà. Vậy để phục hồi bình an, hạnh phúc, cách thực tế và hữu hiệu nhất là mỗi người trong gia đình hãy cầu nguyện và sửa đổi cách hành xử. Cái nốt ruồi. không có trách nhiệm gì trong vấn đề này vì nó không có trí khôn và sự tự do để gây nên tội. Giải phẫu thay đổi một nét mặt bên ngoài mà không tu sửa gương mặt nội tâm của gia đình thì e rằng sẽ không hữu ích gì.

 

Mầu Nhiệm Ðức Tin Công Giáo

Hỏi: Kính thưa cha, con đọc trong báo ÐMHCG (tháng 11-2001) có đoạn ghi "Thật ra, truyền thống Giáo hội Công giáo. chẳng hạn, phải mất 300 năm mới đưa ra định nghĩa rõ ràng về học thuyết Thiên chúa Ba ngôi và 125 năm nữa để nói rõ hơn về Hai bản tính của Ðức Kitô tại công đồng Chalcedon." Xin cha cho biết công đồng ấy định nghĩa thế nào và căn cứ vào những lý luận nào trong Kinh thánh về tín điều Thiên chúa Ba ngôi và Ðức Kitô hai bản tính? TÌm đâu ra văn bản về Công đồng Chalcedon. Kính chào và cám ơn cha trước. (Trần Khai, WA.)

Ðáp: Câu hỏi của ông đề cập đến 2 tín điều quan trọng trong Ðức tin Công giáo: Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi (Trinity) và Mầu nhiệm Ngôi hiệp (Hypostatic Union - hay Thiên tính và Nhân tính hiệp nhất trong cùng Ngôi Hai là Chúa Giêsu).

a) Nếu nói đến ‘định nghĩa rõ ràng về học thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi’, thật ra phải hiểu rằng định nghĩa ấy đã được tuyên bố thời Công đồng Constantinô, năm 381. Công đồng này tái xác nhận giáo huấn Ðức tin nguyên thủy do các Tông đồ (từ thời chưa có những lạc thuyết) và giáo huấn của Công đồng Nicê (nhóm họp năm 325, để phi bác lạc thuyết do Arius chủ trương rằng Ðức Giêsu không có bản tính Thiên chúa, không nhập thể mà chỉ là người thường). Nhưng Công đồng này cũng giải quyết những vấn nạn được đặt ra liên quan đến bản tính và vai trò của chúa Thánh thần. Chính vì thế mà định nghĩa về Mầu Nhiệm Ba Ngôi của Công đồng này được coi là rõ ràng, đầy đủ và căn bản nhất trong cho mọi giáo huấn Công giáo về Mầu nhiệm Ba ngôi. Ðó cũng là lý do tại sao, cho đến ngày nay, khi tuyên xưng Ðức Tin cách trịnh trọng (như trong thánh lễ chẳng hạn), người Công giáo vẫn dùng Kinh Tin Kính của Công đồng Constantinô (còn gọi là Kinh Tin Kính Nicê-Constantinô).

Về định nghĩa cụ thể của Công đồng Constantinô liên quan đến Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, xin ông xem lại Kinh Tin Kính thường đọc trong thánh lễ.

Về mạc khải Kinh thánh liên quan đến Mầu nhiệm Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Thần, Giáo hội dựa vào các điển cứ căn bản sau. Trong Cựu ước, Thiên chúa luôn đuợc coi như là Cha trời đất (Ðệ nhị luật 32: 6; Malachia 2: 10). Ngài là Cha hằng yêu thương những kẻ hèn yếu (2 Samuel 7:14). Ngài sáng tạo muôn loài trong Thánh thần của Ngài (Sáng thế ký 1: 2). Trong chương trình cứu độ yêu thương, Ngài đã hứa ban Ðấng Cứu Tinh (Mêsia), nghĩa là Ðức Kitô, Ngôi Hai, Con Người (xc Isaia).

Trong thời Tân ước, khi Chúa Giêsu đến, Ngài đã nói về nhiều về Cha, Ðấng cùng Ngài đồng hữu đồng trị từ nguyên thủy (Gioan 1:1; Colosê 1:15; Do thái 1:3). Là Con Một của Chúa Cha, Ðức Giêsu và Chúa Cha hiệp thông khắng khít đến nỗi không ai biết đuợc Cha trừ Con; không ai biết đuợc với Con trừ ra Cha (Mathêu 11:27).

Chính từ sự hiêp thông yêu thương giữa Cha và Con đã phát sinh Ngôi Ba Thánh Thần. Ngài là Ðấng Phò Trợ mà Cha đã sai đến, qua lời cầu xin của Ngôi Hai (Gioan 14:15-28; 15:26; 16:13-14). Ngài là Ðấng thánh hóa và kiện toàn công trình cứu độ trần gian. Qua Thánh thần, Chúa Cha tôn vinh Chúa Con (Gioan 7:38-39). Và như vậy, khi Thánh thần đến, Mầu nhiệm Chúa Ba ngôi đã được mạc khải rõ ràng. Ðó là nền tảng chắc chắn để Hội thánh tin và dạy về tín điều này.

b) Về vấn đề Ngôi hiệp, tín điều này đã được tuyên bố cách long trọng, đầy đủ bởi nhất Công đồng Chalcedonia (năm 451). Kết hợp tư tưởng và cách diễn tả của cả Giáo hội Công giáo Ðông phương và Latin, đồng thời nhằm phản bác các lạc thuyết Nestoria và Eutychia, Công đồng xác định rằng trong Chúa Giêsu có sự hiệp nhất giữa bản tính Thiên chúa và bản tính con người. Trong văn kiện của Công đồng, chúng ta đọc thấy:

"Chúng tôi (công đồng) tin và dạy rằng có một Thiên chúa Con, Ðức Giêsu Kitô, là Thiên chúa thật và là người thật. Cùng là Thiên chúa, Ngài đồng bản tính với Ðức Chúa Cha. Cùng là con người có hồn và xác, ngài đồng bản tính với loài người chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi (Do thái 4:15). Trong Ngài, chúng tôi tin nhận 2 bản tính hiệp nhất (Hypostase) nhưng không lẫn lộn, không hoán đổi, không chia rẽ hoặc tách biệt. Sự khác biệt giữa hai bản tính cũng không tạo thành hai nhân vị, nhưng kết hợp làm một trong cùng Người Con Duy Nhất của Chúa Cha, là Ngôi Lời và là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Tín điều này, các tiên tri đã loan báo, chính Ðức Giêsu đã giảng dạy, các Tông đồ và Giáo phụ đã truyền lại cho chúng tôi." (xem Textes Doctrinal du Magistère de l’Eglise sur la Foi Catholique của Gervais Dumeige, nxb Orante, Paris 1975, t. 190; hoặc The Christian Faith: The Doctrinal Documents of the Catholic Church của Jacques Dupuis, nxb Alba House, New York 1995, t. 203).

Như chính lời tuyên bố trên đây của Công đồng, tín điều này dựa trên căn bản chắc chắn của Kinh thánh. Trong Tân ước, có nhiều dẫn chứng về Mầu nhiệm hai bản tính nơi Chúa Giêsu. Trong thơ gửi tín hữu Philiphê, tông đồ Phaolô xác tín rằng: "Ðức Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa.nhưng đã trút bỏ vinh quang.trở nên giống phàm nhân và sống như người trần thế" (Phil. 2:6-7). Tác giả thánh thư gửi tín hữu Rôma cũng viết: "Ðức Kitô, Vị thượng tế của chúng ta không phải là Ðấng không cảm thông những nỗi yếu hèn của loài người, vì Ngài đã chịu mọi điều kiện con người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi" (Dt. 4:15); và ".khi vào nhập thể vào trần gian, Ngài đã nói: .Cha đã tạo cho con một thân thể.Cha chẳng thích lễ toàn thiêu.Bấy giờ con nói: Lạy Cha, này con đây, con đến để thực thi ý Cha." (Dt. 10:5-7). Chính Chúa Giêsu cũng đã nói với các môn đệ trong Tiệc ly rằng: "Ai thấy Thầy là thấy Cha.Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy" (Gioan 14: 9-21).

 

Tại sao Chúa lại nói như thế?

Hỏi: Thưa cha, con không hiểu đoạn Phúc âm Marcô 4:10-12: "Khi Chúa Giêsu còn một mình, những người thân cận và nhóm 12 mới hỏi Ngài về các dụ ngôn. Ngài nói với họ rằng: phần anh em, mầu nhiệm Nước Trời đã đuợc ban cho anh em, còn với những người kia là những người ở ngoài thì cái gì cũng dùng dụ ngôn, để họ có nhìn cũng không thấy, có nghe cũng không hiểu, kẻo họ trở lại và được tha thứ." Xin cha giải thích đoạn Kinh thánh ấy. Cảm ơn cha. (Trần Minh Sơn, MN).

Ðáp: Cảm nghĩ tự nhiên của chúng ta khi đọc đoạn Phúc âm này là, thứ nhất, dường như Chúa đối xử phân biệt trong việc ban ơn cứu dộ; và nếu như thế thì đâu là ý nghĩa của tính cách phổ cập, đại lượng của ơn Chúa. Thứ hai, dường như chính Chúa làm cớ cho một số người bị vấp phạm để loại trừ họ khỏi Nước Trời, và như vậy thì còn gì là lòng nhân từ của Thiên chúa.

Thật ra khi đọc Kinh thánh, chúng ta phải vượt qua giới hạn của nghĩa đen nơi từ ngữ, hầu khám phá ra ý nghĩa thiêng liêng và giáo huấn luân lý mà Lời Chúa nhắm tới.

Ðể nắm bắt ý nghĩa thiêng liêng của đoạn Phúc âm nói trên, cần hiểu rõ bối cảnh căn bản. Câu Chúa Giêsu nói : ".để họ có nhìn cũng không thấy, có nghe cũng không hiểu, kẻo họ ăn trở lại và được tha thứ" có một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Chúa Giêsu nói lời này như một trích dẫn từ sách tiên tri Isaia (chương 6), để gợi lại một biến cố lịch sử. Vào thời Isaia, dân Do thái ở trong tình trạng tội lỗi, mãi cứng lòng phản nghịch lề luật Yavê. Tiên tri Isaia được sai đến để loan báo về sự sửa phạt mà Yavê sẽ giáng xuống trên họ. Dân ấy sẽ nước mất, nhà tan, và bị lưu đầy Babylon. Trong số họ, các kẻ kiêu căng tội lỗi thì chết trong sự buồn phiền tuyệt vọng nơi đất khách. Chỉ có một Nhóm Nhỏ những người trung tín, yêu mến giáo huấn Yavê (đó là nhóm Anawim của Yavê) được cứu sống và cho hồi hương. Như vậy, trong lịch sử, Babylon là một biến cố qua đó Yavê phải quyết định giáo huấn Israel bằng cách thanh lọc những kẻ mang ‘trái tim đá cứng’ mà nơi đó lề luật Chúa không còn giá trị là bao; đồng thời, quy tụ những người còn thành tâm, trung tín, nên một dân mới, để đặt vào họ ‘trái tim thịt mềm’.

Khi gợi lại lịch sử ấy, Chúa Giêsu cũng muốn nhắc nhở ý định của Thiên chúa đối với thái độ của những người tiếp cận với Tin mừng Nước Trời mà Ngài đang rao giảng. Có những kẻ (không chỉ không hiểu mà còn) từ chối và đối nghịch với Tin mừng do sự cứng lòng, kiêu căng (như bè phái Pharisiêu). Họ chính là những ‘kẻ bên ngoài’. Ðối với họ, Lời Chúa là cớ vấp phạm và là sự phí phạm, hoài công; và họ có thể làm cho người khác vấp phạm. Vì thế, họ sẽ bị gạn lọc khỏi Nước Thiên Chúa. Và cách thức cụ thể Chúa Giêsu dùng để làm việc này là nói bằng ‘ngôn ngữ khôn ngoan’ (dụ ngôn) ‘để họ nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu’. Ngược lại, có những kẻ khiêm nhu, biết mở lòng (như ‘Nhóm 12 và những người thân cận’). Họ mong chờ và đáng được Thiên Chúa thương ban Nước Trời. Phần dành cho họ không chỉ là được lắng nghe rao truyền Tin mừng, mà còn được giảng dạy cho hiểu tường tận Tin mừng ấy. Vì thế, trong phần kế tiếp (Mc 4: 14-20), Chúa Giêsu sẽ giảng giải rõ ràng cho họ về ý nghĩa các ngụ ngôn.

Khi tường thuật câu chuyện ấy trong Phúc âm của mình, thánh sử Marcô có ý gửi đến giáo đoàn của Ngài (đa số là ngoại giáo trở lại) và các tín hữu Kitô vài huấn giáo luân lý cụ thể như sau:

- Tin mừng Nước Trời mang sức mạnh nội tại, độc lập; và việc rao giảng của Chúa Giêsu tất yếu có năng quyền phán xét những kẻ lắng nghe.

- Ðứng trước Tin mừng Nước Trời, luôn luôn có ít là 2 thái độ đi kèm với 2 hậu quả hiển nhiên. Sự ngạo mạn, cứng lòng sẽ làm ta càng nên u mê và bị loại trừ. Tinh thần nhỏ bé, khiêm tốn sẽ giúp ta được mở trí và dẫn dắt ta đến Ơn cứu độ. Là Kitô hữu khôn ngoan, dĩ nhiên ta phải chọn thái độ thứ hai.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com