|
Trong việc chọn lọc những câu hỏi, chúng tôi cố gắng lưu ý đến nhiều phương diện khác nhau của ‘lẽ đạo’, nhất là những vấn nạn liên quan đến luân lý, là phương diện bức xúc nhất trong đời sống Kitô hữu ngày nay. Ðể trả lời những thắc mắc, quan điểm của chúng tôi được đặt trên căn bản là Lời Chúa, Truyền Thống và Huấn Quyền của Giáo Hội. Quan điểm ấy cũng cố gắng kết hợp giữa suy tư thần học và thực tế mục vụ. Ðương nhiên, trong khuôn khổ nhất định của đề mục này, những giải đáp của chúng tôi không thể bao gồm tường tận mọi chi tiết. Vì thế, ngoài mục đích chính là cống hiến những hiểu biết căn bản để giải tỏa những băn khoăn, hy vọng những giải đáp này cũng gợi ý và động viên sựï chú tâm tìm hiểu kỹ càng những bài nghiên cứu hệ thống hơn. Mục ‘Hiểu Ðạo - Sống Ðạo’ mong ước được trở nên người bạn đồng hành để chia sẻ với Quý Ðọc Giả những băn khoăn trong hành trình Ðức Tin hằng ngày. Mọi thắc mắc liên quan đến việc tìm hiểu để sống đạo, xin Quý Vị vui lòng gởi về cho chúng tôi quađịa chỉ email Dominiquebao@hotmail.com hay tòa soạn ÐMHCG. Nên xin lễ hay cầu siêu? Hỏi: Thưa cha, con dâu của con là bổn đạo mới. Ngày dỗ mẹ của con dâu, con lấn cấn không biết nên khuyên con dâu của con nên xin lễ hay đi chùa ‘cầu siêu’. Con cũng được biết, một số người theo đạo Ông Bà (không phải Phật giáo) phân vân không biết khi mình trở lại đạo Công giáo thì ‘đối xử’ thế nào với ông bà cha mẹ mình để khỏi mang tội bất hiếu. Chính vì thế họ không muốn theo đạo Công giáo, và đôi khi ngăn cản con cái mình theo đạo, nhất là con trai cả, là người phải giữ hương khói gia đình, lo giỗ chạp cúng kiến ông bà. (Một đọc giả - Georgia). Ðáp: Câu hỏi và đề nghị của ông trong thư thật chí lý. Chúng tôi sẽ có dịp chia sẻ những suy tư của Giáo hội về vấn đề này cách tường tận, chi tiết hơn trong tương lai. Ở đây, chỉ xin góp một vài suy nghĩ mong tìm ra một giải tỏa cụ thể cho vấn nạn của người con dâu ông. Trước nhất, điều quan trọng cần minh định là ‘đạo Ông bà’ và đạo Công giáo thật ra không hề đối nghịch nhau. Theo các tài liệu về lịch sử truyền giáo tại Trung hoa, chúng ta biết rằng ý tưởng cho rằng có sự đối nghịch này phát sinh từ một cách hiểu nào đó của các vị thừa sai Dòng Ða-minh, Dòng Phanxicô và Hội thừa sai Balê về truyền thống văn hóa, tôn giáo Trung hoa. Các vị thừa sai này quan niệm rằng việc thực hành hiếu đạo đối với tổ tiên (từ Khổng giáo) và nghi thức niệm hương, bái chào bài vị tổ tiên (gọi chung là lễ nghi Trung Hoa) là dị đoan, và do đó, không hợp với đức tin Công giáo. Cách hiểu này rất khác biệt với cách hiểu của các vị thừa sai Dòng Tên (Matteo Ricci, Michel Ruggieri). Thoạt đầu, Tòa thánh La-mã cũng theo quan điểm thứ nhất. Qua tông chỉ Ex illa die (1710) Ðức Thánh Cha Clement XI đã phủ nhận lễ nghi Trung hoa. Tuy nhiên, vào năm 1939, Ðức Piô XII đã ban hành sắc lệnh Summi Pontificatus với mục đích giải toả những ngộ nhận và chấp nhận giá trị truyền thống của lễ nghi Trung hoa. Như vậy, cho dù ban đầu có căng thẳng do ngộ nhận về giá trị văn hoá Á châu dưới nhãn giới Tây phương, ngày nay, đạo hiếu và nghi thức kính nhớ Tổ tiên (quen gọi là Ðạo Ông Bà) đã được công nhận như không nghịch với Ðức tin Kitô hữu. Hơn thế nữa, suy tư trong bối cảnh luân lý Công giáo, ta sẽ nhận thấy truyền thống văn hóa này cũng có giá trị trong giáo huấn của Chúa Kitô và Giáo hội. Thật thế, đạo hiếu đối với tổ tiên mà người Việt nam (cũng như người Trung hoa) thực hành không nghịch với Ðức tin Công giáo. Phân tích cho cùng, lòng kính mến đối với ông bà cha mẹ thực ra không phải là một tôn giáo theo đúng nghĩa của từ ngữ này(religion). Nó là một tinh thần được đặt trên căn bản của hai chữ ‘Lễ’ và ‘Nghĩa’ trong Khổng triết. Cũng vậy, nghi thức bày tỏ lòng kính mến tổ tiên (dâng hương, giỗ chạp, cúng kiếng) không phải là nghi lễ mang ý nghĩa tín ngưỡng đích thực (religious rites). Nó chỉ là nghĩa cử biểu tỏ lòng kính trọng, hiếu thảo, sự tri ân, tưởng mộ đối với các vị tiền bối trong gia tộc. Tinh thần và sự thực thi lòng hiếu đạo ấy cũng là một yếu tố quan trọng trong hệ thống giá trị luân lý Kitô giáo. Trong Cựu ước, Yavê truyền dạy mười điều răn, trong đó ta đọc thấy rõ ràng lời yêu cầu: "Hãy trọng kính cha mẹ ngươi ... ngõ hầu ngày đời ngươi được kéo dài và được chúc phúc" (Ðệ nhị luật 5:16). Trong Tân ước, Thánh Phaolô mạnh mẽ kêu gọi: "Hỡi anh em, những gì là chân thật, cao quý, chính trực, đáng mến, tốt đẹp, đức hạnh thì anh em hãy thi hành" (Phil. 4:9). Chính ngài khuyên dạy các Kitô hữu rằng: "Kẻ làm con hãy thảo kính cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo" (Eph. 6:1). Hy vọng những điều nói trên có thể giải tỏa phần nào mối băn khoăn của những ai còn hiểu lầm rằng luân lý Kitô giáo chống lại đạo hiếu với tổ tiên. Những điều ấy cho thấy rằng lý luận ‘theo đạo Công giáo là mang tội bất hiếu với tổ tiên’ thật không có căn cớ. Riêng về vấn đề ông ‘lấn cấn’ không biết nên khuyên con dâu xin lễ hay cầu siêu cho mẹ của cô, chúng tôi xin đề nghị cụ thể như sau. Trong khi nhìn nhận và cổ võ lòng hiếu thảo với cha mẹ, dĩ nhiên giáo hội công giáo cũng yêu cầu người tín hữu biểu tỏ tinh thần ấy cách xứng hợp với lương tâm Kitô hữu. Là người công giáo xác tín về đức tin của mình và về giá trị của phụng vụ trong giáo hội, cách biểu tỏ hiếu đạo với cha mẹ xứng hợp và tốt đẹp nhất là cầu nguyện, dâng lễ cho các ngài. Không phải là bởi vì mẹ của con dâu ông không được biết Chúa mà lời nguyện hay thánh lễ cô dâng sẽ không được Chúa lắng nghe. Ngược lại, nếu đã là người công giáo mà cô còn tin tưởng và cầu xin một nghi thức tôn giáo khác (cầu siêu là một nghi thức tôn giáo đúng nghĩa) thì điều ấy mâu thuẫn với niềm tin Công giáo của cô. Do đó, cũng gây ra những thắc mắc và ngộ nhận cho các anh chị em Kitô hữu khác. Về phương diện luân lý công giáo, điều này không ổn.
Tại sao Chúa không ngăn cản sự dữ? Hỏi: Xin cha cho biết trong kinh Ăn năn tội có ghi: "Lạy Chúa con, Chúa là Ðấng trọn tốt trọn lành vô cùng, Chúa đã dựng nên con..." thế mà tại sao từ trước tới nay xảy ra không biết bao là tai ương như động đất, núi lửa, mưa bão, lũ lụt, bệnh tật nhưng Chúa không ngăn cản để con người phải thêm khổ đau và mất Ðức tin nơi Chúa? Nếu những điều ấy là do Chúa thịnh nộ trừng phạt thì tại sao Ngài không phạt riêng kể dữ và để kẻ lành riêng ra? (Nguyễn Thế Lữ - Florida). Ðáp: ‘Sự dữ’ là ‘mầu nhiệm’ muôn thuở trong đời sống con người. Ðứng trước sự dữ, Văn hào B. Paschal tự hỏi: "Con người là thủ phạm hay Thiên Chúa bất công?" Dostoievsky và Camus bèn mở cuộc xử án Thiên Chúa. Còn Hemingway thì cả quyết: "Những đôi mắt đã mục kích thảm trạng Hiroshima hoặc trại tập trung Auschwitz chắc chắn sẽ không thể tin tưởng có một Thiên Chúa toàn năng, nhân lành."ï Thắc mắc của ông quan trọng vì liên quan đến một vấn đề rất tế nhị và phức tạp trong niềm tin Kitô giáo. Ở đây, chúng tôi chỉ chia sẻ một vài suy tư cô đọng mang tính cách gợi ý mà thôi. -Phải chăng Thiên Chúa tạo nên sự dữ? Ðương nhiên là không! Mạc khải Kinh thánh và Giáo lý hội thánh xác định với chúng ta rằng Thiên Chúa là Ðấng tốt lành tuyệt đối. Thánh Tôma Aquinô định nghĩa "sự xấu, sự dữ là sự khiếm khuyết, bất toàn, tương đối" (S.T. Ia-IIae, qu. 18). Vậy, nơi Thiên Chúa, Ðấng tuyệt đối, không thể có liên hệ gì với sự dữ. Ngài không làm nên sự dữ đã đành, ngay cả ao ước hay tưởng nghĩ đến sự dữ, Ngài cũng không hề. Vì, khác với tạo vật phàm hèn, khi Thiên Chúa muốn và tưởng nghĩ điều gì thì điều ấy liền được tạo thành (xem Stk. 1). Tóm lại, từ yếu tính (essence) cho đến hành động (action) của Ngài, Thiên Chúa tuyệt đối tốt lành và đối nghịch sự dữ. -Như thế, con người phải chịu trách nhiệm về các sự dữ? Ðúng một phần nào. Con người được Thiên Chúa tạo thành có Lý Trí và Tự Do. Lý trí để suy xét, phán đoán phải trái. Tự do để chọn lựa hay dở. Hai khả năng này làm nên tính cách luân lý (tội và phúc) của mọi hành động nhân sinh. Khi dùng Lý trí và Tự Do cách bất cập, những hành xử trong đời sống chúng ta tất yếu phải dẫn đến những đau khổ, sự dữ. Ðiều này được minh họa rõ ràng trong Kinh thánh, qua câu chuyện Adam và Eva. Quả thật, khi phân tích kỹ càng những đau khổ trong đời sống con người, chúng ta phải công nhận có những nỗi khổ đau mà chính con người là ‘thủ phạm’ gián tiếp hay trực tiếp. Chiến tranh trong xã hội, đổ vỡ trong gia đình, bất an trong tâm hồn thường do những tham vọng, ganh tương, hờn oán, đam mê từ lòng người gây ra. Bệnh tật chết chóc cũng phần nào là hậu quả của chế độ ăn uống, làm lụng, vui chơi có hại đối với sức khỏe. Hạn hán, lũ lụt tai ương thiên nhiên cũng có thể là do trách nhiệm của con người vì coi thường đời sống môi sinh địa cầu. Khoa học tiến bộ ngày nay có thể minh chứng tỏ tường về điều này. Nói chung, một khi Thiên Chúa đã dựng nên mọi tạo vật tốt đẹp từ nguyên thủy (Stk 1), Ngài không thể là ‘tác giả’ của sự dữ. Quan niệm về một ‘Thiên Chúa quan án’ muốn dùng sự dữ và khổ đau để trừng trị con người là một quan niệm tôn giáo mang tính chất pháp lý, thuộc về thời đại ‘tôn giáo pháp đình’ ngày xưa. Quan niệm ấy không phản ảnh dung nhan và bản chất đích thực của Thiên Chúa. Mặc khải Tin Mừng chỉ cho chúng ta thấy Thiên Chúa Kitô giáo là một Người Cha công thẳng nhưng luôn nhân hậu (Lc. 15, Mt. 18:12-35; Mc. 6:34; Gn. 3:16; 8:1-11; 10:1-21). Con người phải chịu những hệ quả của cách mình quản trị cuộc sống trong thế giới mà Thiên Chúa trao ban cho mình. Nhưng, nếu nói rằng Thiên Chúa là Ðấng thượng trí và toàn năng thì tại sao Ngài lại cho phép sự dữ xảy ra? Kinh thánh có thể cho chúng ta câu trả lời chính đáng cho vấn nạn này. Qua câu chuyện ông Gióp, chúng ta có thể nhận ra rằng Thiên Chúa có đường lối giáo dục đức tin rất đặc biệt cho con người. Khi cho phép chúng ta đương đầu với sự dữ (Satan), Ngài đã khéo léo lượng định sao cho thử thách ấy không quá sức chịu đựng của ta. Như thế, biết bám chặt vào Thiên Chúa để vượt qua thử thách, chúng ta chỉ có thể lớn lên hơn trong ơn nghĩa của Ngài. Một ý tưởng khác được ghi nhận từ ‘ngụ ngôn cỏ lùng’: tình thương của Thiên Chúa kiên nhẫn và khôn ngoan vô cùng khi Ngài phán :"Hãy cứ để cả hai (cỏ lùng và lúa tốt) cùng mọc lên cho tới mùa gặt. Ðến ngày mùa, ta sẽ sai thợ nhổ cỏ lùng bó thành bó mà đem đốt, còn lúa tốt thì sẽ cất vào kho" (Mt. 13:30). Cảm nghiệm sâu xa về thượng trí và quyền năng tất thắng của Thiên Chúa trên sự sự dữ và những bất toàn của tạo vật, Tông đồ Phaolô xác quyết với tín hữu Rôma rằng : "Muôn loài thọ tạo mong ngóng ngày Thiên Chúa biểu lộ vinh quang của con cái Ngài...Cho đến nay, các tạo vật đang rên siết, quằn quại như sắp sinh nở...Cả chúng ta cũng rên siết trong lòng ...trong khi đợi chờ cho đến ngày Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta" (Rm. 8:19, 23-24). Trước những đau khổ và sự dữ, người Kitô hữu phải làm sao để khỏi mất Ðức tin? Trước nhất, chúng ta đừng vội vã vu án Thiên Chúa. Ngài là Ðấng vô tội vạ (Hans U. Balthazar). Thứ đến, ta đừng chối từ kết hợp với Thiên Chúa trong việc đối diện với khổ đau. Thánh Augustinô khi xưa đã trần tình : "Tôi thao thức đi tìm cho ra đâu là cội nguồn sự dữ"(Confession 7:7,17). Nhưng cuộc tìm kiếm đầy gian khổ của ngài đã chỉ tìm thấy lối thoát trong sự trở về cùng Thiên Chúa. Hơn nữa, khi đối diện với khổ đau, sự dữ, ta đừng kiêu căng, bất mãn. Chính Ðức Giêsu Kitô cũng không đối đầu với khổ đau qua sự phẫn nộ. Ngài đã đi vào sự chết chẳng phải bằng thái độ ngạo mạn của những nhà hiền triết hay với sự ồn ào của những nhà cách mạng. Ngài đã đi sâu vào mầu nhiệm khổ đau và chấp nhận sự chết cách nghị lực như người con Thiên Chúa (J. Ratzinger). Nhờ thế, Ngài không chỉ hoá giải và cứu độ chúng ta khỏi tội lỗi, đau khổ, sự chết ở bề mặt mà là ở tận căn của sự dữ (M. Neusch). Nhưng để được như thế, ta cần phải tin vững vàng nơi sự Khôn ngoan thượng trí của Thiên Chúa. Phải yêu mến thiết tha sự Nhân lành tuyệt đối của Ngài. Và phải vững lòng cậy trông rằng: "Những khổ đau chúng ta phải chịu bây giờ không thể so sánh được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ làm tỏ rạng nơi chúng ta" (Rôma 8:18). Nghĩa là Ðức Tin, Cậy và Mến của ta phải luôn mạnh mẽ trước những vui hạnh phúc, khổ đau trong dòng đời. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |
|