T RONG DÒNG ÐỜITIẾN BƯỚC TRONG HY VỌNG Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR.
Tuần phòng hàng năm từ ngày 20/10 đến 24/10/2003 dành cho các tu sĩ của Phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Hải Ngoại đã được tổ chức tại Trung Tâm Tĩnh Tâm Hoàng Tử Bình An của Dòng Biển Ðức tại Oceanside, California. Trong tuần phòng này, chúng tôi đã được Cha Anphong Phạm Gia Thụy, CSsR, hướng dẫn về chủ đề "Chúa Mời Gọi Chúng Ta Sống Ðời và Lời của Ngài." Cha giảng phòng đã giúp chúng tôi nhìn lại bản chất và sự cao quý của ơn gọi tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế và nỗ lực vươn lên sống nồng nhiệt hơn với ơn gọi của mình. Và đó là những gì quý giá mà tôi muốn mãi mãi ghi nhớ, suy niệm và thực hiện trong đời. Trước hết, Cha Anphong đưa ra nhận xét là con người ngày nay muốn xây dựng hạnh phúc mà không cần đến Thiên Chúa và Hội Thánh. Cha đưa cho chúng tôi một mảnh báo ngài giữ kỹ từ mấy chục năm nay. Mảnh báo này là bản tin về việc các phi hành gia của Liên sô đã tuyên bố không có Thiên Chúa khi họ vào không gian lần đầu tiên! Kế đến, Cha nhắc cho chúng tôi sự kiện là thế gian chú ý đến và phê bình các Kitô hữu, cách riêng các linh mục và tu sĩ, với những lời khen chê khác nhau. Nhưng chân tướng hay dung mạo đích thực của mỗi người chúng ta là ở nơi Thiên Chúa, nơi Chúa Giêsu Kitô. Và thực tế là mỗi người trong chúng ta chưa đạt đến mức thành toàn, chưa nghe Lời Chúa và chưa sống Ðời Chúa như Chúa mong muốn. Cử chỉ lập Phép Thánh Thể của Chúa Giêsu Kitô gói trọn chương trình cứu độ của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Chúa Giêsu tạ ơn Thiên Chúa về chính cuộc Vượt Qua của Người, về ơn gọi làm người, có sinh mạng để dâng hiến cho Chúa Cha và chuộc tội cho chúng ta. Chỉ nơi Thập Giá người ta mới nghe trọn Lời Chúa. Chỉ nơi Chúa Giêsu Kitô việc nói và nghe Lời Chúa mơi nên một. Sĩ tử Cứu Thế vừa làm chứng vừa cử hành Lời Chúa. Ta phải vừa là tang chứng vừa là chứng ta của Lời Chúa. Ta có thể là tang chứng và chứng tá trung thực nhưng cũng có thể là dị dạng. Chính Lời Chúa mà ta công bố sẽ là Lời phán xét ta. Ðể sống trọn ơn gọi Cứu Thế, ta phải nghe, sống và công bố Lời Chúa đến cùng. Ðiều này cũng có nghĩa là ta phải để Lời Chúa bóc lột ta đến cùng, kể cả chính điều Chúa đã ban (như Abraham phải sẵn lòng hy tế Isaac), để chỉ còn một mình Thiên Chúa trong ta. Cám dỗ lớn nhất ngăn trở ta đón nhận Lời Chúa trọn vẹn chính là cám dỗ tự tại, muốn đặt mình làm căn bản, đặt mình làm chủ trong mọi sự. Ơn gọi của sĩ tử Cứu Thế phải được xem như sự tiếp nối truyền thống ơn gọi của các ngôn sứ trong Cựu Ước, những con người được Thiên Chúa tuyển chọn để nói với Dân Chúa. Ngôn sứ luôn sống và hoạt động trong tương quan với Lời, với Chúa, với lịch sử, với Dân và với chính mình. Ngôn sứ là một người sống giữa mọi người, được Chúa chụp lấy để rao giảng Lời và mãi trăn trở bức xúc với Lời. Ngôn sứ luôn ý thức mình là thành phần của Dân Chúa, là người tội lỗi như ai, nên phải để Lời thanh tẩy và thánh hóa, phải chịu lấy Lời với tất cả con người và cuộc sống của mình. Từ đó ngôn sứ mới là chứng tá và tang chứng cho Lời: đời tôi đã được chi phối bởi Lời. Rồi sau đó mới có thể truyền Lời. Vậy nên, chính Lời làm nên ngôn sứ. Chính Chúa gọi và chọn ngôn sứ, nên ngôn sứ phải sống thiết thân với Chúa, phải biết lắng nghe, suy niệm và thực hiện ý định và lệnh truyền của Chúa. Thiên Chúa thực hiện Lời Ngài bằng sự can thiệp vào lịch sử, tạo nên những biến động nơi cả hai, sự chối bỏ hay đón nhận về phía con người. Ngôn sứ nhắc nhở con người và giúp họ nhận ra sự hoạt động của Thiên Chúa trong lịch sử, cũng như không ngừng mời gọi họ trở về với Thiên Chúa. Ngôn sứ phải ý thức mình là ai, phải nhận ra lời mình chỉ là lời phàm và tiếng vọng của Lời Chúa mà thôi, không bao giờ tương ứng đầy đủ với Lời Chúa, nên phải nỗ lực sống thế nào để đạt đến sự nhất quán giữa lời và đời mình. Vì vậy, ngôn sứ phải tỉnh táo, bén nhạy, sáng suốt nhận ra ý Chúa và phân biệt giữa các giá trị tương đối và tuyệt đối, chóng qua và vĩnh hằng, để không bao giờ thỏa hiệp với thế gian. Theo truyền thống ngôn sứ, các sĩ tử Cứu Thế đón nhận Lời và xem Lời là Ơn Phúc, Ơn Cứu Ðộ cho đời mình và bước vào giao ước với Lời. Sĩ tử Cứu Thế phải lấy mối bận tâm của Chúa Giêsu Kitô làm mối bận tâm duy nhất của mình, phải bận tâm về việc đem lại ơn cứu độ cho mọi người. Chúa Giêsu Kitô phải là nguyên ủy và cùng đích của mỗi sĩ tử Cứu Thế. Họ phải được biến đổi nhờ kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu Kitô. Sứ vụ rao giảng Lời của họ phải là hệ quả của đời sống trong Thần Khí nơi cộng đoàn Dòng Thánh. Họ phải năng tự vấn Thiên Chúa và Ðức Giêsu nghĩ gì về tôi, về anh em tôi, về cộng đoàn của tôi. Mọi sinh hoạt của cộng đoàn phải được giải quyết trong sự Hiện Diện của Chúa Giêsu Phục Sinh nơi Bí Tích Thánh Thể. Những lời giảng chân tình và sâu sắc của Cha Giảng Phòng như được củng cố và tóm gọn nơi những lời nhắn nhủ đầy yêu thương của Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II dành cho Tổng Công Nghị của Dòng Chúa Cứu Thế lần thứ XXIII từ ngày 15/9 đến 12/10/2000 tại Rôma, trong cuộc yết kiến ngày 3/10/2003. Chủ đề của Tổng Công Nghị XXIII là: "Tận Hiến Ðời Mình Ðể Phục Vụ Cho Ơn Cứu Ðộ Chứa Chan." Có 108 linh mục tu sĩ thuộc 77 quốc gia đã tham dự Tổng Công Nghị này. Ðây là Tổng Công Nghị đầu tiên của Dòng Chúa Cứu Thế trong đệ tam thiên niên. Vị Cha Chung khả ái đã ân cần nhắn nhủ các sĩ tử Cứu Thế của ngàn năm thứ ba những lời sau: "2....Các sĩ tử Cứu Thế yêu dấu của Cha! Các con hãy để cho mình được hướng dẫn bởi Thần Khí của Chúa Chịu Ðóng Ðinh và Phục Sinh. Cha lập lại ở đây điều Cha đã vui lòng viết cho toàn thể Dân Chúa trong Tông Thư Novo millennio ineunte (Bước Vào Thiên Niên Kỷ Mới): ‘Chúng ta hãy tiến bước trong hy vọng! Một thiên niên mới đang mở ra trước mặt Hội Thánh như một đại dương mênh mông mà chúng ta sẽ thám hiểm dựa vào sự trợ giúp của Chúa Kitô. Con Thiên Chúa, Ðấng đã nhập thể hai ngàn năm trước vì yêu thương nhân loại, vẫn đang hoạt động hôm nay: Chúng ta cần có những cặp mắt biết phân định để nhìn thấy điều này và trên hết là phải có một trái tim quảng đại để trở nên khí cụ cho hoạt động của Người’ (# 58). "3. Chúng con hãy tiến bước trong hy vọng! Theo gương Ðấng Sáng Lập, chúng con hãy gắng dán mắt vào Ðấng Cứu Thế và để cho mình được hướng dẫn bởi Ðức Maria, Mẹ Người và cũng là Mẹ chúng ta. Chỉ trong cách thức này chúng con mới có thể trở thành ‘những người trợ giúp, những bạn đồng hành và những thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô trong công trình Cứu Ðộ vĩ đại’ (Hiến Pháp và Quy Luật Dòng Chúa Cứu Thế # 2). "Chúng con được kêu gọi để tham dự vào ‘sứ mạng của Hội Thánh’, kết hợp đời sống hiến dâng cho Chúa cách đặc biệt với công việc truyền giáo, theo gương Chúa Giêsu Ktiô Cứu Thế trong việc rao giảng Lời Chúa cho người nghèo như Người đã tuyên bố về chính Người: ‘Ngài đã sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó’ (Ibid #1). Ðể công cuộc phục vụ truyền giáo đặc biệt này được thành công, chúng con cần nuôi dưỡng một đời sống cầu nguyện cá nhân và cộng đoàn thật mãnh liệt. "Những người mà chúng con gặp gỡ phải thấy chúng con như ‘những người của Thiên Chúa’ và khi tiếp xúc với chúng con họ sẽ cảm nghiệm được tình yêu của Cha trên trời đầy lòng thương xót, Ðấng đã không ngần ngại trao ban Người Con duy nhất (Jn 4: 9-10) để cứu độ nhân loại. Chúng con phải được thấy như có tâm trí của Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành, luôn tìm kiếm con chiên lạc và vui mừng khi tìm thấy lại (Lc 15:3-7). "4. Hiến Pháp của Hội Dòng chúng con mời gọi chúng con nhận diện những nhu cầu mục vụ cấp thiết của thời đại, luôn ghi nhớ rằng mục vụ của chúng con không được đặc trưng bởi bất cứ một hình thức hoạt động cá biệt nào, nhưng bởi việc phục vụ yêu thương dành cho những người và những nhóm người bị bỏ rơi và nghèo khổ nhất về phương diện xã hội và tâm linh. "Chúng con hãy thực hiện việc tông đồ này với ‘sự sáng tạo trung thành’, một sự sáng tạo gìn giữ tinh thần nguyên thủy, bằng cách một lần nữa thúc đẩy sáng kiến, tính chất nguyên thủy và sự thánh thiện của Ðấng Sáng Lập như một sự đáp ứng với các dấu chỉ của thời đại một cách hùng hồn trong thế giới hôm nay (Thông Ðiệp Vita Consecrata #4). "Thực vậy, ngay cả trong thời đại chúng ta vì nhiều lý do vẫn có nhiều người còn ở xa Chúa Kitô và Hội Thánh và không ít người vẫn còn chờ đợi được nghe công bố Tin Mừng lần đầu tiên. Ðược nung nấu bởi gương Thánh Anphong và các Thánh và Chân Phúc trong Dòng, chúng con đừng ngần ngại đi ra và gặp gỡ họ và công bố Tin Mừng cho họ bằng ngôn ngữ phù hợp với cảnh huống và môi trường cá nhân của họ. "5. Trong trường dạy của Ðấng Sáng Lập, chúng con hãy trở nên những bậc thầy của đời sống Phúc Âm, sử dụng cách thức bình dân đặc trưng cho phương pháp giảng dạy của chúng con, nhắc nhở tất cả những ai đã rửa tội về ơn gọi nên thánh của họ, về ‘những tiêu chuẩn cao của đời sống Kitô hữu bình thường’ (Tông Thư Novo millenio ineute # 31). "Thánh Anphong Maria Ligôri đã dâng hiến cuộc đời ngài để gia tăng ý thức này nơi dân Kitô giáo. Ngài viết: ‘Thật là một sai lầm lớn lao khi có người nói: Thiên Chúa không muốn tất cả chúng ta nên thánh. Không, Thánh Phaolô nói, Haec est...voluntas Dei santificatio vestra. Thiên Chúa muốn mọi người nên thánh, mỗi người theo ơn gọi của mình’ (Dẫn Ðường Mến Chúa # 79). "Việc tìm kiếm sự thánh thiện phải là căn bản cho mỗi chương trình mục vụ và các cộng đoàn chúng con phải được xem như những ‘ốc đảo’ của lòng thương xót, những trường dạy cầu nguyện sốt sắng mà đồng thời không làm chúng con xao lãng khỏi sự cam kết của chúng con với lịch sử..." (Tông Thư Novo millennium ineunte # 33). Nếu bài giảng của Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II trong Lễ truyền chức linh mục vào Lễ Chúa Chiên Lành 11/5/2003 được coi như tóm lược những đặc nét phải có nơi một linh mục đích thực của ngàn năm thứ ba, thì những lời nhắn nhủ trên đây của Vị Cha Chung phải được coi như những đặc nét mà các sĩ tử đích thực của Dòng Chúa Cứu Thế phải có trong ngàn năm mới này. Sĩ tử Cứu Thế chúng tôi ngày nay phải là những con người luôn được hướng dẫn bởi Thần Khí của Chúa Giêsu Chịu Ðóng Ðinh và Phục Sinh; những người biết dán mắt vào Chúa Cứu Thế và được Mẹ Maria dẫn dắt; những người được tham dự vào sứ mạng của Hội Thánh trong việc rao giảng Tin Mừng cho những người tất bạt với ngôn ngữ bình dân; những chứng tá và tang chứng của Lòng Thương Xót Chúa; những con người của Thiên Chúa, luôn khao khát sự thánh thiện và chìm đắm trong kinh nguyện mà vẫn gắn bó đời mình với mọi vui buồn của con người thời đại. Nói tắt, chúng tôi phải là những ngôn sứ và chứng nhân của hy vọng trong thế giới hôm nay, một hy vọng có nền tảng vững vàng nơi Chúa Cứu Thế và Mẹ Maria. Ðó chính là hình ảnh của một sĩ tử Cứu Thế đích thực được phác họa trong Hiến Pháp và Qui Luật Dòng Chúa Cứu Thế như sau: "Mạnh mẽ trong đức tin, phấn khởi trong niềm hy vọng, sốt sắng bởi lòng mến, nung nấu với lòng nhiệt thành, tấm lòng đầy khiêm hạ và chăm lo cầu nguyện với chí hướng là những con người làm tông đồ và làm đồ đệ đích thực ủa Thánh Anphong, sĩ tử Dòng Chúa Cứu Thế vui mừng đi theo Ðức Kitô Cứu Thế, tham dự và loan báo mầu nhiệm Ngài bằng một đời sống và lối nói đơn sơ theo Tin Mừng, và từ bỏ chính mình đi để luôn sẵn sàng lãnh nhận những công việc được yêu cầu hầu mang lại Ơn Cứu Ðộ chan chứa cho mọi người" (# 20). Xin Chúa Cứu Thế qua lời chuyển cầu của Mẹ Hằng Cứu Giúp, Cha Thánh Anphong và các thánh trong Dòng, giúp con biết tận hiến đời mình cho Ơn Cứu Ðộ chan chứa, luôn vui tươi, trung thành và thẳng tiến trong ơn gọi là một sĩ tử Cứu Thế đích thực như lòng Chúa mong muốn, để. Amen. (Nov. 19, 2003) CHỨNG NHÂN BÁC ÁI
Từ khi Mẹ Têrêsa Calcutta qua đời, tôi vẫn thường ngày kêu cầu Mẹ như gương mẫu của sự thánh thiện của thời đại hôm nay với lời nguyện: "Mẹ Têrêsa Calcutta, Vị Thánh của những người cùng khổ, gương sống triệt để và toàn vẹn Tin Mừng Chúa Kitô, cầu cho chúng con." Vì vậy, tôi cảm thấy cần phải ghi lại bài giảng quý giá trên của Ðức Thánh Cha để ghi nhớ, suy niệm và nỗ lực sống thánh theo gương Mẹ. Bài giảng của Ðức Thánh Cha được tạm dịch như sau: 1. "Ai muốn làm đầu trong chúng con phải trở nên tôi tớ mọi người" (Mc 10:44). Những lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài vừa vang lên nơi Công Trường này chỉ cho chúng ta thấy con đường đạt tới "sự vĩ đại" theo Tin Mừng. Ðó là con đường đã được chính Chúa Kitô bước đi, con đường đưa Ngài tới Thập Giá: một cuộc hành trình của yêu thương và phục vụ làm đảo lộn mọi lý luận của con người, trở nên tôi tớ của mọi người! Mẹ Têrêsa Calcutta, Ðấng Sáng Lập Dòng Thừa Sai Bác Ái mà hôm nay tôi vui mừng đặt thêm vào Danh Sách các Chân Phước, đã để cho nguyên tắc này hướng dẫn Mẹ. Tôi biết ơn người phụ nữ can trường này một cách thiết thân, người mà tôi luôn cảm thấy ở bên mình. Mẹ Têrêsa, một linh ảnh của Người Samaritanô Tốt Lành, đã đi đến mọi nơi để phục vụ Chúa Kitô trong những người nghèo nhất trong những người nghèo. Ngay cả những tranh chấp và chiến tranh cũng không ngăn cản được Mẹ. Thỉnh thoảng Mẹ đến và kể cho tôi nghe về những kinh nghiệm của Mẹ trong việc phục vụ các giá trị Tin Mừng. Cụ thể, tôi nhớ sự can thiệp để bênh vực sự sống và chống phá thai của Mẹ, ngay cả khi Mẹ đang được trao giải thưởng Nobel về Hòa Bình (Oslo, 10/12/1979). Mẹ thường nói: "Nếu quí vị biết có phụ nữ nào không muốn giữ con và muốn phá thai, hãy cố gắng thuyết phục người ấy mang đứa bé ấy đến cho tôi. Tôi sẽ yêu mến đứa bé ấy, nhìn nơi nó dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa." Mẹ Têrêsa nhắc nhở tất cả chúng ta rằng việc Phúc Âm hóa được thực hiện bằng tình yêu 2. Việc tôn phong Chân Phước cho Mẹ được tiến hành trong chính ngày mà Giáo Hội mừng Khánh Nhật Truyền Giáo không phải là sự kiện đầy ý nghĩa sao? Với chứng tá đời sống của mình, Mẹ Têrêsa nhắc nhở mọi người rằng sứ mạng Phúc Âm Hóa của Giáo Hội được thực hiện bằng bác ái, nuôi dưỡng bằng cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa. Biểu hiệu của cách thức truyền giáo này là bức hình cho thấy Vị Tân Chân Phước này một tay nắm lấy tay một em nhỏ trong khi tay kia đang lần chuỗi Mân Côi. Chiêm niệm và hoạt động, Phúc Âm hóa và thăng tiến con người: Mẹ Têrêsa đã công bố Tin Mừng sống đời của Mẹ như một quà tặng trọn vẹn cho người nghèo nhưng đồng thời đắm chìm trong cầu nguyện. Mẹ Têrêsa trao ban liên lỉ và không hề tính toán giá cả 3. "Ai muốn làm lớn trong chúng con phải là tôi tớ chúng con" (Mc 10:43). Với niềm xúc động đặc biệt hôm nay chúng ta nhớ đến Mẹ Têrêsa, một tôi tớ vĩ đại của người nghèo, của Giáo Hội và của cả thế giới. Ðời sống của mẹ là một chứng từ cho phẩm giá và đặc quyền của sự phục vụ khiêm nhượng. Mẹ đã chọn không phải chỉ là người nhỏ nhất, nhưng là tôi tớ của những người nhỏ nhất. Như một người mẹ đích thực của người nghèo, mẹ đã cúi xuống với những người đau khổ bởi những cảnh nghèo khác nhau. Sự vĩ đại của mẹ hệ tại khả năng trao ban mà không hề tính toán giá cả nơi mẹ, trao ban "cho đến lúc đớn đau." Cuộc đời của mẹ đã là một lối sống triệt để và một lời công bố đại đảm cho Tin Mừng. Tiếng kêu của Chúa Giêsu trên Thập Giá, "Ta khát" (Jn 19:28), diễn tả chiều sâu khát vọng Thiên Chúa đối với con người, đã xuyên thấu linh hồn Mẹ Têrêsa và gặp thấy nơi trái tim Mẹ một mảnh đất mầu mỡ. Làm thỏa mãn cơn khát tình yêu và các linh hồn của Chúa Giêsu trong sự kết hợp với Ðức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, đã trở thành mục đích duy nhất cho sự hiện hữu của Mẹ Têrêsa và là sức mạnh bên trong đã lôi kéo mẹ ra khỏi chính mình và khiến mẹ chạy nhanh khắp địa cầu để lao nhọc cho phần rỗi và sự thánh hóa của những người nghèo nhất trong số những người nghèo. Mẹ Têrêsa phục vụ Chúa Kitô dấu ẩn nơi người nghèo 4. "Mỗi khi các ngươi làm cho một trong những người bé nhỏ nhất trong những anh em Ta là các ngươi làm cho chính Ta" (Mt 25:40). Ðoạn Phúc Âm này, thật thiết yếu trong việc am hiểu việc phục vụ người nghèo của Mẹ Têrêsa, đã là căn bản của sự xác tín đầy đức tin của mẹ, rằng khi đụng đến những thân hình dập nát của người nghèo mẹ đang đụng đến chính thân mình Chúa Kitô. Ðó là cho chính Chúa Giêsu, dấu ẩn dưới hình dạng khốn khổ của những người nghèo nhất trong những người nghèo, mà việc phục vụ của mẹ hướng tới. Mẹ Têrêsa nhấn mạnh đến ý nghĩa thâm sâu nhất của việc phục vụ—một hành vi yêu thương được thực hiện cho những người đói khát, xa lạ, trần trụi, đau yếu, tù đầy (Mt 25:34-36) là làm cho chính Chúa Giêsu. Nhận biết Ngài, mẹ đã phụng sự Ngài với sự sùng mộ hết lòng, diễn tả sự tinh tế trong tình yêu hôn ước của mẹ. Vậy nên, trong việc hiến mình trọn vẹn cho Thiên Chúa và tha nhân, Mẹ Têrêsa đã tìm thấy sự viên thành lớn nhất của mình và đã sống những phẩm tính cao thượng nhất của nữ tính nơi mẹ. Mẹ đã muốn là dấu chỉ của "tình yêu Thiên Chúa, sự hiện diện của Thiên Chúa và lòng thương cảm của Thiên Chúa," và như thế đã nhắc nhở mọi người giá trị và phẩm giá của mỗi người con cái Chúa, "được dựng nên để yêu thương và được yêu thương." Ðó là cách thế Mẹ Têrêsa đã "đưa các linh hồn đến với Chúa và đưa Chúa đến với các linh hồn" và làm thỏa mãn cơn khát của Chúa Kitô, cách riêng cho những người cùng khổ, những người mà cái nhìn về Thiên Chúa của họ đã bị lu mờ vì thống khổ và đau đớn. Mẹ Têrêsa đã nhìn thấy Chúa Kitô trong những người nghèo nhất trong những người nghèo 5. "Con Người cũng đến để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người" (Mc 10:45). Mẹ Têrêsa đã chia sẻ Cuộc Thương Khó của Chúa Kitô Chịu Ðóng Ðinh cách đặc biệt trong suốt những năm dài của "tăm tối nội tâm." Với mẹ đó là một thử thách, đôi khi là một thử thách thật trăn trở, mà mẹ đã đón nhận như một "quà tặng và đặc ân" quý hiếm. Trong những giờ phút tăm tối nhất, mẹ càng bám chặt hơn vào việc cầu nguyện trước Bí Tích Cực Trọng. Cơn thử thách tâm linh cay nghiệt này dẫn mẹ đến việc đồng hóa mình ngày càng gần gũi hơn với những người mẹ phục vụ mỗi ngày, cảm nhận nỗi đau của họ và có khi cả sự khước từ của họ. Mẹ thích lập lại rằng sự nghèo khổ nhất là bị không muốn, không có ai quan tâm bạn. Mẹ Têrêsa, say yêu Thiên Chúa, ân nhân không mỏi mệt của nhân loại 6. "Lạy Chúa, xin thương xót chúng con, vì chúng con trông cậy nơi Ngài." Bao lần như Thánh Vịnh Gia, Mẹ Têrêsa kêu cầu với Thiên Chúa của mẹ trong những cơn thống khổ nội tâm: "Nơi Ngài, nơi Ngài con cậy trông, lạy Thiên Chúa của con!" Chúng ta hãy ca ngợi Chúa về người đàn bà nhỏ bé say yêu Chúa này, một sứ giả Tin Mừng khiêm hạ và một ân nhân không mỏi mệt của nhân loại. Nơi mẹ chúng ta tôn vinh một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của thời đại chúng ta. Chúng ta hãy hoan nghênh sứ điệp của mẹ và bước theo gương mẫu của mẹ. Lạy Mẹ Ðồng Trinh Maria, Nữ Vương của tất cả các thánh, hãy giúp chúng con trở nên hiền lành và khiêm nhường trong lòng như sứ giả Tình Yêu can trường này. Hãy giúp chúng con trở nên những thừa sai của Chúa Kitô, bình an và hy vọng của chúng con. Amen. Sau Thánh Lễ tôn phong Chân Phước cho Mẹ Têrêsa, trước khi nguyện Kinh Truyền Tin cùng ngày, Ðức Thánh Cha đã nhắc cho mọi người biết Mẹ Maria chính là gương mẫu của Mẹ Têrêsa Calcutta với những lời sau: "Giờ đây khi chúng ta chuẩn bị đọc Kinh Truyền Tin, chúng ta hãy nhớ rằng Rất Thánh Maria đã luôn là gương mẫu của Mẹ Têrêsa, cả hai vừa trong đời sống cầu nguyện của mẹ vừa trong hoạt động truyền giáo của mẹ. Qua sự chuyển cầu của Vị Tân Chân Phước, Xin Ðức Nữ Ðồng Trinh ban cho chúng ta được tiến lên trong lòng mến Chúa yêu người." Ngày hôm sau, Thứ Hai 20/10/2003, tại Thính Ðường Phaolô VI, khi ngỏ lời với những khách hành hương về Rôma dự Lễ tôn phong Chân Phước cho Mẹ Têrêsa Calcutta, Ðức Thánh Cha đã chỉ ra những bài học thâm sâu từ con người và cuộc đời thánh đức của Mẹ Têrêsa như sau: Cùng các chư huynh giám mục đáng kính, Các Thừa Sai Bác Ái nam nữ yêu quý, Anh Chị Em thân mến, 1.Tôi thân ái đón chào anh chị em và vui mừng hợp với anh chị em cảm tạ Thiên Chúa về cuộc tôn phong Chân Phước cho Mẹ Têrêsa Calcutta. Tôi đã được ràng buộc với mẹ bằng một lòng kính trọng thẳm sâu và một tình cảm chân thành. Vậy nên tôi vui mừng cách riêng với anh chị em, những người con thiêng liêng của mẹ. Tôi chào đón cách riêng Sơ Nirmala, nhớ lại ngày Mẹ Têrêsa đến Rôma để đích thân giới thiệu Sơ với tôi. Tôi cũng nhớ đến tất cả các thành viên của đại gia đình của Vị Tân Chân Phước này. Mẹ Têrêsa, "một Thừa Sai Bác Ái đích danh và chân thực 2. Một "Thừa Sai Bác Ái": Ðây là điều Mẹ Têrêsa đã được gọi và đích thực là thế. Hôm nay với một cảm xúc sâu đậm tôi lập lại những lời này, những lời tôi đã nói ngày mẹ mới mất (Kinh Truyền Tin 7/9/1997). Trước tiên và trên hết một thừa sai: không ai nghi ngờ rằng Vị Tân Chân Phước đã là một trong những thừa sai vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Thiên Chúa đã biến người phụ nữ đơn sơ đến từ một miền đất nghèo nhất của Âu Chân thành một khí cụ được tuyển chọn (Acts 9:15) để công bố Tin Mừng cho toàn thế giới, không phải bằng việc giảng thuyết nhưng bằng những hành vi yêu thương hàng ngày đối với những người nghèo nhất trong những người nghèo. Một thừa sai với ngôn ngữ phổ quát nhất: ngôn ngữ của tình yêu không biết giới hạn hay loại trừ và không có sự ưa chuộng nào khác hơn là những người bị bỏ rơi hơn cả. Một Thừa Sai Bác Ái. Một thừa sai của Thiên Chúa Ðấng là tình yêu, Ðấng có sự ưa chuộng đặc biệt dành cho những người bé mọn nhất và những người khiêm hạ, Ðấng cúi xuống con người bị thương tích nơi thể xác và tâm linh và đổ "dầu an ủi và rượu hy vọng" trên những vết thương. Thiên Chúa đã làm điều này nơi con người của Con Ngài đã làm người, Chúa Giêsu Kitô, Người Samaritanô Nhân Hậu của nhân loại. Ngài tiếp tục làm điều này trong Hội Thánh, cách riêng nơi các thánh của đức bác ái mà trong hàng ngũ của các ngài Mẹ Têrêsa chiếu sáng cách đặc biệt. Cầu nguyện đổ đầy trái tim Mẹ Têrêsa với sự bình an của Chúa Kitô 3. Mẹ Têrêsa đã tìm được nơi đâu sức mạnh để hiến mình trọn vẹn cho việc phục vụ tha nhân? Mẹ đã tìm được sức mạnh trong việc cầu nguyện và trong sự thinh lặng chiêm ngắm Chúa Giêsu Kitô, Nhan Thánh ngài, Thánh Tâm Ngài. Chính mẹ đã nhiều lần nói: "Hoa trái của thinh lặng là cầu nguyện; hoa trái của cầu nguyện là đức tin; hoa trái của đức tin là yêu thương; hoa trái của yêu thương là phục vụ; hoa trái của phục vụ là bình an." Bình an, ngay cả bên cạnh những người hấp hối, ngày cả nơi những dân tộc đang có chiến tranh, ngay cả khi phải giáp mặt với những sự công phá và phê phán hằn học. Chính cầu nguyện đã đổ đầy trái tim mẹ sự bình an của chính Chúa Kitô và khiến mẹ tỏa sáng sự bình an đó cho tha nhân. 4. Một thừa sai bác ái, một thừa sai của bình an, một thừa sai của sự sống. Mẹ Têrêsa là tất cả những điều này. Mẹ luôn luôn lên tiếng bênh vực sự sống con người, ngay cả khi sứ điệp của mẹ không được hoan nghênh. Toàn thể sự hiện hữu của Mẹ Têrêsa đã là một bản thánh ca ngợi khen sự sống. Sự gặp gỡ hàng ngày của mẹ với cái thết, bệnh phong hủi, bệnh AIDS và mọi thứ đau khổ của nhân loại đã khiến mẹ trở thành một chứng nhân mạnh mẽ của Tin Mừng. Chính nụ cười của mẹ là một lời "Xin Vâng" đối với sự sống, một lời "Xin Vâng" đầy vui tươi, phát sinh từ một niềm tin và một tình yêu sâu thẳm, một lời "Xin Vâng" được thanh luyện trong thử thách của đau khổ. Mẹ canh tân lời "Xin Vâng’ đó mỗi buổi sáng, trong sự kết hợp với Mẹ Maria, ở chân Thập Giá của Chúa Kitô. "Cơn khát" của Chúa Giêsu Chịu Ðóng Ðinh đã trở thàn cơn khát của chính Mẹ Têrêsa và nguồn hứng khởi của con đường nên thánh của mẹ. 5. Mẹ Têrêsa Calcutta đã thực sự là một người mẹ. Một người mẹ đối với người nghèo và một người mẹ đối với trẻ em. Một người mẹ đối với biết bao thiếu nữ và những người trẻ đã nhận mẹ như linh hướng và chia sẻ sứ mạng của mẹ. Chúa đã làm nảy sinh từ một hạt giống nhỏ bé một cây to lớn đầy trái trăng (Mt 13:31-32). Và chính anh chị em, những người con trai con gái của Mẹ Têrêsa, là những dấu chỉ hùng hồn nhất của sự sinh hoa kết trái đầy tính ngôn sứ này. Hãy gìn giữ diệu cảm của mẹ nguyên vẹn và bước theo gương mẹ, và từ Thiên Ðàng mẹ sẽ không ngừng nâng đỡ anh chị em trong hành trình mỗi ngày của anh chị em. Tuy nhiên, hôm nay hơn bao giờ hết, sứ điệp của Mẹ Têrêsa là một lời mời đối với tất cả chúng ta. Tất cả sự hiện hữu của mẹ nhắc chúng ta nhớ rằng là Kitô hữu có nghĩa phải là chứng nhân bác ái. Ðây là điều mà Vị Tân Chân Phứớc ủy thác cho chúng ta. Tiếp lời của mẹ, tôi kêu gọi mỗi người bước theo dấu chân của người môn đệ đích thực này của Chúa Kitô một cách quảng đại và can trường. Trên con đường bác ái, Mẹ Têrêsa bước đi bên cạnh anh chị em. Tôi thương mến ban phép lành Tông Tòa cho anh chị em và những người thân yêu của anh chị em. Sau buổi hội kiến trên, Sơ Nirmala, Bề Trên Cả của Dòng Thừa Sai Bác Ái, đã dâng tặng Ðức Thánh Cha 25 chuỗi hạt Mân Côi, mỗi chuỗi tượng trưng cho một năm của giáo triều ngài. Những chuỗi hạt này được chính các tập sinh trong Dòng tại Calcutta làm để tỏ lòng yêu mến Ðức Thánh Cha. Mọi người cùng hát Kinh Kính Mừng khi dâng tặng vật để diễn tả lòng sùng kính Ðức Mẹ thẳm sâu của MẹTêrêsa (Theo Tuần Báo L’Osservatore Romano Oct. 22, 2003). Cảm tạ Chúa và Mẹ đã ban cho chúng con một Năm Mân Côi đầy ân phúc, đã cho chúng con một Vị Giáo Hoàng khả ái và thánh thiện đã giúp chúng con thêm lòng say yêu Thánh Tâm Thánh Thể Chúa Giêsu Chịu Ðóng Ðinh và Khiết Tâm Mẹ Mân Côi, và đã cho chúng con một gương mẫu thánh thiện cho thời đại hôm nay: Mẹ Têrêsa Calcutta, chứng nhân bác ái. Qua lời chuyển cầu của Mẹ Têrêsa Calcutta và của Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, xin Chúa và Mẹ cho chúng con biết nỗ lực sống thánh theo gương các ngài, mỗi ngày một thêm lòng mến Chúa, yêu Mẹ và thương người nhất là những người cùng khổ, để trở nên những Kitô hữu đích thực, những chứng nhân bác ái của ngàn năm thứ ba. Amen. (Nov. 21-25, 2003) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu |
|