|
NHỮNG CƠN MƯA CUỐI MÙA LM. NGUYỄN ÐỨC THÔNG, C.Ss.R.
Sài-gòn cuối thu, nắng gay gắt, khí ngột ngạt, xe cộ như nêm. Tiếng xe ba gác phành phạch cao vút cùng với các loại xe hơi, xe tải, và xe hai bánh khác tạo nên một thứ âm thanh hỗn độn, nhức nhối. Tuyết Lan, một cô gái đã ngoài ba mươi, mặt bơ phờ, tóc rối bù, áo quần lếch thếch, đang mất hút trong giòng xe cộ dài như vô tận trên đường từ An Sương về thành phố. Lan phóng như người mất hồn. Ðầu óc vẫn đang quay cuồng với trăm nghìn trăn trở về Tứ Lai, một bệnh nhân AIDS đang thoi thóp dưới gầm cầu vượt ngã tư An Sương. Gần 10 năm nay, lang thang hết công viên này tới gầm cầu khác, chăm sóc cho không biết bao nhiêu người mắc chứng bệnh thế kỷ, chưa một người nào để lại trong Lan một nỗi buồn da diết như chuyện của Tứ Lai. Lan nhắm chặt mắt như cố cảm thông với nỗi căm thù xã hội của Tứ Lai. "Rầm," Lan mất thăng bằng, đầu chúi về phía trước, môi đập vào ghi-đông xe, đau điếng, may mà không té. "Này, cô có muốn chết không đấy! Ðèn đỏ mà cô không thấy à?," một người đàn ông, tuổi đã xế bóng, nhìn Lan thông cảm, nói đùa. Lan thấy môi sưng vù, máu tràn vào miệng vừa tanh vừa mặn. Người đàn ông vội vàng dựng xe, chạy tới, đỡ lấy hai vai Lan: "Cô có thấy sao không? Máu ra khá nhiều đấy! Tắp vào lề nghỉ đã!" Người qua đường, kẻ nhìn Lan hờ hững, kẻ thì bảo: "Nhà giàu đứt tay ấy mà!", kẻ khác bảo: "Phóng chi cho cố, đáng kiếp!", người khác lại chế diễu: "Môi anh đây không hôn, hôn ghi đông xe chi cho khổ!" Lan lén nhìn người đàn ông, cố mỉm cười, tỏ lòng biết ơn nói: "Chắc không sao đâu. Cầm máu rồi thì phải!" Người đàn ông rút khăn mùi-xoa chậm nhẹ lên những giọt máu vương vãi trên cằm Lan. Hơi đàn ông thoang thoảng làm Lan ngượng ngùng. Lan khẽ gạt tay ông ra, nói: "Thôi chết! Ðèn xe chú bị bể rồi kìa!"
"Ê Lan! Sao cậu lại sớ rớ ở đây? Ông ấy là ai đấy? Môi cậu bị sao vậy?" Lan bừng tỉnh. Phượng Linh vẫn ngồi trên chiếc Citi màu huyết dụ, nhìn Lan ái ngại. Lan nuốt ngụm máu còn trong miệng, nói: "Không sao. Hôn đít xe người ta mà không sao, chỉ bị téc môi một chút thôi. Tớ đi tìm người giải tội cho Tứ Lai. Nó sắp chết rồi." - "Cậu tính tìm ai?" - "Tìm mấy ông cha quen Dòng Chúa Cứu Thế." "Tin, tin... Này có đi không thì bảo! Không đi thì lên lề mà nói chuyện cho người ta đi chứ!" Có tiếng người đi xe phía sau quát tháo vì hai cô gái đang gây nghẽn đường. "Thôi cậu đi đi! Tớ cũng phải đi kẻo trễ." Lan nhét vội tấm danh thiếp vào túi, leo lên xe, và chìm dần vào trong giòng xe xuôi ngược. Lan lại phóng như bay, sợ hết giờ gặp khách. Tới nơi, đã quá 11 giờ, may mà phòng khách còn mở cửa. Bấm chuông tới tấp mà vẫn chẳng thấy cha Thịnh đâu. Lan đi ra ngoài, nhìn quanh, thất vọng. Mấy cây dầu cao vút trước cửa, trông thật ngạo nghễ, vẫn cúi đầu, ủ rũ, cam chịu mặt trời tước mất vẻ tươi tắn cố hữu. "Ai bấm chuông cha Thịnh đấy?" Nghe có người hỏi, Lan mừng húm, chạy vội vào: "Dạ, tôi ạ!" - "Chị tìm cha Thịnh có chuyện gì không?" - "Có chuyện quan trọng lắm, mà ngài có nhà không?" - "Ðáng lẽ giờ này ngài phải có ở nhà rồi. Mà sao vẫn chưa thấy ngài đâu. Chị có cần gặp ngài gấp không?" - "Gấp lắm. Tôi xin ngài đi giải tội cho một người ở An Sương." - "Ở An Sương thì tìm cha An Sương chứ, sao lại tìm cha Thịnh?" Lan im lặng bước ra phòng ngoài, mệt mỏi, ngồi phịch xuống ghế, đợi chờ. "Ai vậy Minh?" Bình hỏi. "Một bà xin cha Thịnh đi giải tội ở tận An Sương lận." Bình nhìn qua khe cửa thấy Lan vẫn lơ đễnh nhìn lung vào cỏ cây đang héo đi trong nắng. "Chị này trông quen lắm, Minh ạ! Ðể tớ nhớ lại xem đã gặp chị ở đâu." Bình lại nhìn qua khe cửa, rồi kéo tay Minh, nói nhỏ: "Chị Tuyết Lan, từng tu ở Dòng Ða-minh, quê ở Bình Giã, gần nhà mình chứ ai." - "Thế cậu quen chị ta à?" - "Chỉ biết thôi chứ không quen. Hồi còn là Tu Sĩ, chị làm việc tại Hội Chữ Thập Ðỏ xã Ngãi Giao. Một buổi sáng nọ, đi làm sớm, thấy ai bỏ một bó khăn lông trước cửa, kiến bu đầy, mở ra thấy một bé trai mới sinh, bị kiến đốt sưng vù, chị cứu sống, nhận làm con nuôi, đặt tên là cu Lượm. Khi còn nhỏ, cộng đoàn ai cũng quí mến cu Lượm. Nhưng lớn lên cu cậu phá chưa từng thấy." Ngưng lại một lát, Bình tiếp: "Cộng đoàn nuôi dê lấy sữa, vừa để bồi dưỡng, vừa để kiếm sống, thỉnh thoảng cũng trồng bông bán. Một dịp tết nọ, cả một vười vạn thọ mơn mởn, ngút ngàn, toàn nụ là nụ, sắp tới ngày thu hoạch. Hàng rào kiên cố. Thấy không ai coi, cu Lượm lén mở cửa, lùa dê vào, rồi đứng ngoài cổng la hét, khoái chí. Khi các soeurs chạy tới, thì vườn bông đã bị phá tanh banh, chỉ còn lơ thơ vài cây siêu vẹo, rụt rè trong nắng. Cu Lượm bị một trận nên thân, sưng vù cả chân tay. Ði làm về, thấy mắt cu Lượm sưng húp, xót con, chị Lan lôi cu Lượm đến chị Bề Trên, cự xối xả..." Minh hỏi: "Lúc đó nó bao nhiêu tuổi mà phá dữ thế?" - "Không biết, mình chỉ nghe kể vậy thôi." Trời bắt đầu kéo mấy đen, xám xịt. Gió lạnh. Quất phành phạch vào chiếc phên trước hành lang, thổi bay hết mọi thứ giấy tờ trên bàn. Bình nhìn qua cửa sổ: "Trời lại chuyển mưa nữa. Năm nay sao mưa dai thế không biết!" Minh như đồng cảm: "Ðây chắc là cơn mưa cuối mùa, Bình ạ!" Im lặng một lúc, Minh hỏi: "Thế bây giờ cu Lượm bây giờ ở đâu?" Bình lại kể tiếp câu chuyện: Thằng cu Lượm còn ở lại cộng đoàn thêm một thời gian nữa. người ta kể, có lần nhân bổn mạng dì nhất. Cỗ bàn đã chuẩn bị tươm tất. Các soeur đang đọc kinh trưa trong nhà nguyện, thì lại nghe cu Lượm la hét. Các chị ùa ra, chạy vội vào phòng cơm, thì ôi thôi, dê đầy cả phòng. Có con còn leo cả lên bàn. Thịt, cá, rau, quả, đất, cát, cùng với phân dê vung vãi khắp cả phòng. Chị Phó Bề Trên bực bội, mím chặt môi, mặt đỏ bừng, nắm tay cu Lượm lôi xềnh xệch vào phòng khách, rút cây chổi lông gà, quất túi bụi lên đầu, lên cổ Lượm. Tuyết Lan từ xa lao tới, giựt lấy cây chổi, chống nạnh, nhìn chị Phó, nói: "Chị lấy quyền gì mà hành hung con người ta như thế? Tôi cấm chị từ nay không được đụng vào nó!" Cu Lượm nép sát vào mình Lan, hai tay ôm lấy đùi Lan, bật khóc nức nở. Chị Bề Trên đứng như trời trồng trước cửa. Từ ngày ấy, chị em trong cộng đoàn bắt đầu xào xáo, chia rẽ. Tuyết Lan không dám để cu Lượm ở nhà nữa, đi đâu cũng dắt theo. Bổn đạo bắt đầu đàm tiếu. Có lần khi đi ngang qua đám thanh niên, Lan nghe rõ có người nói: "Soeur ơi soeur, soeur đẹp quá, soeur cho em làm cu Lượm của soeur đi!" Người khác thì bảo: "Soeur có muốn cu Lượm thứ hai không, em xin biếu không!" Trong cộng đoàn cũng không thiếu những lời cay độc. Có người bảo: cu Lượm là ác quỉ hiện hình, đêm đêm hay đi lại, đánh đu trên mái nhà. Người khác lại bảo, đêm nào cũng thấy nó lang thang ngoài nghĩa trang. Người khác nữa còn độc mồm độc miệng hơn, bảo đêm nào cũng thấy nó vào phòng Lan: Ở ngoài nó là đứa con nít, vào tới phòng, nò là một thanh niên vạm vỡ. Hai người làm gì trong ấy, chỉ có trời biết! Bề trên chịu hết nổi những lời ấy, kêu Tuyết Lan tới, nói: - Chị nghe quá nhiều chuyện về cu Lượm, chị không còn chịu nổi nữa rồi. Em có nghe người ta xì xào nói những gì không? - Có, nhưng cây ngay sợ gì chết đứng, thưa chị! Vả lại, thời buổi này mà không bấp chấp dư luận, làm sao mà sống cho nổi! - Dư luận chị không sợ, chị chỉ sợ cu Lượm làm em lo ra, lơ là trong đời tu thôi. Bây giờ em phải quyết định hoặc gửi cu Lượm vào trại cô nhi hoặc đem cho một người khác nuôi. Còn nếu... em muốn sống với cu Lượm, em phải ra khỏi cộng đoàn! - Nhưng em biết gửi nó đi đâu bây giờ? Mình đã Rửa Tội cho nó, mình phải có trách nhiệm giáo dục Ðức Tin cho nó chứ! - Tu Viện là nơi để người ta tu, chứ không phải là cô nhi viện. Hơn nữa, một bà soeur lúc nào cũng kè kè một đứa con nít, ai mà coi cho được. Em suy nghĩ kỹ đi, rồi báo cho chị biết. Suốt đêm ấy Tuyết Lan trằn trọc mãi, không sao ngủ được. Vì sao người ta lại độc ác đến thế? Sinh con ra, đem vứt ngoài đường, người khác lượm về cộng đoàn lại cấm không cho nuôi. Ði tu là để yêu thương như Ðức Ki-tô, yêu cho đến sẵn sàng chết cho cả những kẻ đóng đinh Ngài, để họ được sống và sống dồi dào. Thế mà sao lại có những con người, bên trong chiếc áo nhà tu, vẫn còn là lòng lang, dạ thú như thế? Ta sẽ kiên quyết giữ vững lập trường. Nhưng bây giờ không tu nữa, mình sẽ ở đâu? Ðưa nó về với mẹ mình, liệu mẹ có chịu nổi không? Sáng hôm sau, Lan nói với chị Bề Trên: "Thưa chị, em muốn chu toàn trách nhiệm của người đã cứu sống cu Lượm. Em xin ra khỏi cộng đoàn.".. Minh ngắt ngang câu chuyện, hỏi Bình: - Sao chị ấy dại thế? Ðời tu phải hơn thằng con nít chứ. Vả lại, mình có bỏ nó đâu, mình gửi nó cho người khác nuôi mà! - Ðời không đơn giản như mình nghĩ, Minh ạ! ...Nghe tin chị Tuyết Lan xuất tu, các chị trong cộng đoàn bắt đầu xôn xao, có chị nói: "Tôi nói có sai đâu, chỉ có ác quỉ mới hớp hồn được con Lan thôi, chứ mười cu Lượm đối với nó có ăn thua gì!" Nghe vậy, chị Bề Trên nạt ngay: "Chị đừng có xét đoán vô căn cứ như thế chứ! Hãy cứ để mặc Lan với lương tâm chị ấy trước mặt Chúa, việc của ta không phải là xét đoán mà là cầu nguyện cho chị ấy được bình an."
Khi đến tuổi đi học, tên khai sinh là Trần Thiên Ân, nhưng chẳng ai gọi nó là Ân cả. Bạn bè vẫn cứ gọi nó là cu Lượm, khi tức giận lại còn tru tréo rủa xả: "Ðồ con rơi, đồ không cha, không mẹ!" Thế là đánh nhau. Ngày nào Lượm đi học về, áo quần cũng đỏ lòm, nhầu nát, có hôm lại còn tét đầu, sứt trán. Bà cụ cứ bị người ta mắng vốn, buồn, bắt đầu bàn với người con trai duy nhất của bà: "Thằng bé này làm khổ mẹ quá, con đưa nó vào trại mồ côi đi. Nhớ, đừng để con Lan biết." Một buổi chiều nọ, đi làm về, không thấy Lượm đâu, Lan hỏi: - Hôm nay Lượm có đi học không mẹ? - Có, nó đi từ sáng. Mọi ngày khi nào nó cũng về trước Kinh Truyền Tin, sao hôm nay chẳng thấy nó về gì cả, mẹ cứ ngỡ nó ra chỗ con làm. - Không, có đâu. Vậy nó đi đâu? Chả lẽ nó lại vào chơi trong Nhà Dòng? Nói xong, Lan bỏ đi, đi đâu không biết mãi tới thật khuya mới về. Lan ở nhà được ít bữa, rồi cũng đi luôn, từ đó không thấy về nữa. Dân làng ai cũng tưởng cô đã chết... * * * Gió lại thổi ào ào, vặn vẹo, uốn éo hàng cây trước mặt. Minh và Bình cùng im lặng. Mưa bắt đầu lốp đốp trên mái, nhưng chỉ được vài hạt lại thôi. Thấy cha Thịnh vừa đi, vừa đọc sách, Minh chạy vội lại, nói: - Thưa cha, có chị Lan nào đó đang chờ cha ngoài phòng khách. - Vậy hả? Có chuyện gì không? - Chị ấy xin cha đi giải tội hay xức dầu cho ai đó ở An Sương! - Thôi rồi, lại mấy đứa SIDA, cám ơn cậu! Lan vẫn suy nghĩ miên man, rất nhiều cha mẹ đang đẩy con cái vào chỗ chết mà không biết. Cha Thịnh bước ra phòng khách: - Chào Lan, có chuyện gì thế? Lan đứng choàng dậy: - Trời ơi! Cha đi đâu mà lâu thế? Con chờ cha cả tiếng rồi đấy. Thằng Tứ Lai muốn xưng tội lần đầu. - Vậy hả? Bây giờ nó ở đâu? - Dạ, ở gầm cầu vượt An Sương. Ở đó đỡ hơn công viên Văn Lang nhiều. - Mà... môi chị bị làm sao thế? - Ðèn đỏ con thắng không kịp, đâm vào xe người ta, môi đập vào ghi-đông. Nói tới đây, Lan cố hình dung ra khuôn mặt người đã đưa cho mình tấm danh thiếp, nhưng vẫn không sao nhớ được. Lan móc tấm danh thiếp ra, đưa cho cha Thịnh hỏi: - Cha có biết ông này không? - Ông nào? Vừa nói, cha vừa cầm tấm danh thiếp đọc: "Hoàng Ngọc Bảo, giáo sư Anh Văn... không biết có phải ông Bảo đã có ba đời vợ, hiện vẫn cô đơn không? Ðưa tôi xem lại xem ông ấy ở đâu nào!" - Dạ, 115 đường Nguyễn Phi Khanh. - Chắc đúng rồi đó. Ông này quảng đại lắm, cần quan tài cứ tới. Nhưng hình như ông vẫn có một nỗi u uẩn nào đó thì phải. - Vậy khi nào cha đi được? - Trời mưa, nắng thất thường thế này, đi xa quá, không biết có sao không. Mà thôi, Lan cứ về đi, tôi đi ngay. Trời bắt đầu đen nghịt. Sấm chớp liên hồi. Gió lạnh quất phần phật, làm run bắn cả người. Mưa bắt đầu lác đác... Cha Thịnh hỏi Bình: - Cậu có áo mưa không? - Có, cha có cần mặc áo mưa không? - Cần chứ! Dừng lại mặc áo đã, kẻo ướt. Qua cầu Tham Lương một chút là trời bắt đầu mưa như trút. Mưa quất vào mặt, vào trán đau như bị đánh. Gió thổi mạnh, khiến Bình có lúc không còn vững tay lái. Gầm cầu An Sương chật cứng người trú mưa... Cha Thịnh len lỏi vào tận trong góc thấp, Lan vẫn đang quỳ bên Tứ Lai, ghé sát tai, như đang nghe ngóng chuyện gì. Tứ Lai chỉ còn da bọc xương. Trán nhô cao, mắt sâu hoăm hoắm, da đen xạm, xần xùi hệt như da cóc. Mình mặc mỗi bộ quần áo cũ xì, cáu bẩn, tay chân khẳng khiu, khô đét, đang nằm trên tấm ni-lông co quắp, quay mặt ra phía ngoài. Tấm ni-lông bắt bụi mưa, bị đạp lên, nhớp nhúa. Một mùi khó chịu hệt như mùi cóc chết theo gió thốc vào mũi cha Thịnh làm ngài họ sặc sụa. - Con đã chuẩn bị mọi sự xong rồi. Lan nói. Cha Thịnh quỳ xuống, rồi ngồi lên hai gót chân, ghe sát tai vào mặt Tứ Lai. Tứ Lai thều thào, phả vào cha một mùi khó chịu. Bên ngoài mưa vẫn như trút, nước lênh láng, ngập hết cả đường. Cha Thịnh nắm lấy bàn tay Tứ Lai, nhẹ nhàng nói: - Anh Lai nè, Chúa Giê-su yêu thương hết mọi người trong đó có cả anh. Chúa còn thương cả những người chỉ vì ghen tức mà đã đóng đinh Ngài vào thập giá. Thánh Lu-ca kể là: khi Chúa Giê-su chịu đóng đinh, có hai người khác cũng cùng chịu đóng đinh với Ngài. Họ là kẻ tội lỗi, Ngài thì không. Một người bị đóng đinh nhục mạ Ngài: "Ông không phải là Ðức Ki-tô sao? Hãy cứu mình và cứu cả chúng tôi với! Nhưng người kia mắng nó: mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa mày cũng không sợ. Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm, chứ ông này đâu có làm gì trái. Rồi anh ta thưa với Chúa Giê-su:ông Giê-su ơi, khi nào ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi. Và Chúa Giê-su đáp: tôi bảo thật anh, ngay hôm nay, anh sẽ được ở trên thiên đàng với tôi" (Lc 23, 39 - 43). Anh có tin Chúa thương anh không? Tứ Lai gật đầu. Cha Thịnh tiếp:
Lai lại khẽ gật đầu. Mắt dán chặt vào cây Thánh Giá nhỏ trong tay cha Thịnh. - Vậy anh hãy thưa với Ngài: "Lạy Chúa Giê-su khi vào Nước Ngài, xin nhớ đến con." Tứ Lai mấp máy đôi môi. Cha Thịnh tiếp: - Bây giờ tôi cho anh Rước Lễ nha. Chúa Giê-su đã nói: "Tôi là Bánh Hằng Sống từ Trời xuống, ai đến với Tôi sẽ không hề đói. Ai tin vào Tôi sẽ không khát bao giờ." Ngài lại còn bảo: "Ai ăn Tôi thì ở trong Tôi và Tôi ở trong kẻ ấy." Và để cụ thể hoá những gì Ngài nói, vào lúc cuối đời, Chúa Giê-su đã cầm lấy bánh và nói: "Anh em hãy cầm lấy mà ăn, này là mình Thầy, hy sinh vì anh em." Cha Thịnh giơ Mình Thánh lên, nói tiếp: - Anh Lai mến, đây là Chúa Giê-su, Ðấng đã chết và đã sống lại cho anh. Khi anh đón nhận Ngài, anh sẽ được ở trong Ngài, anh sẽ chết, nhưng chắc chắn anh cũng sẽ sống lại với Ngài. Anh có muốn đón nhận Ngài để được sống mãi với Ngài không? Lai lại gật đầu. Rước Lễ xong, Lai cố gượng dậy nhưng không còn sức. Anh thì thào: - Cám ơn cha, xin cha cầu nguyện cho con. Một vài người đứng gần đó trông thấy Mình Thánh, liền giơ tay làm dấu Thánh Giá, nhưng vẫn đứng xa xa, sợ không dám đến gần, vì ai cũng biết, vì sao người ta phải nằm trong xó tối ấy. Mưa vẫn rất nặng hạt. Mọi thứ, nếu không bị ướt, thì cũng thấm hơi nước. Lan nắm tay cha Thịnh: - Mưa thế này cha về thế nào được! - Chiều nay cũng chẳng có gì phải làm gấp cả, thôi chờ tạnh mưa rồi về cũng được. - Hay đấy, con cũng đang muốn nói chuyện với cha. - Ừ, Lan cứ nói đi! - Con trằn trọc mãi về chuyện Tứ Lai cha ạ! Nó mới kể cho con hôm qua, sau khi đã đồng ý Xưng Tội, nhưng con phải nói cho cha chuyện này trước đã: nó có một người bạn tên Lượm, không biết đó có phải là thằng cu Lượm nhà con ngày xưa không... - Thằng Lượm nhà chị không chơi với những người như thế đâu! Chị cứ yên tâm. - Cha lúc nào cũng bảo con an tâm, hơn chục năm nay, không biết nó ra sao thì an thế nào được mà an không biết? Lan im lặng, nhìn bầu trời xám xịt, cùng màn mưa dầy đặc đang trút xuống như thể không bao giờ dứt, tiếp: - Bây giờ con đã biết vì sao Tứ Lai căm thù sự tàn ác, phi nhân của đàn ông và sự vụng dại, ngu ngốc của đàn bà rồi. Mẹ nó là cấp dưỡng của một trường trung học ngoài Bà Rịa, không có học nhưng dễ coi. Trong trường có một ông thầy dạy Văn, đang say đắm một cô giáo cùng trường. Hai người đang chuẩn bị đám cưới thì bồ cô ta du học Pháp được về quê nghỉ phép, lo cho cô ấy đi. Thế là cô ta bỏ ông thầy giáo, ông ôm mối hận tình, vừa quê mặt với bạn bè, vừa thấy mình thua kém người ta. Ông như người mất hồn, rượu chè be bét, đến giờ lên lớp rồi mà vẫn còn nghiêng ngả. Mẹ nó thấy vậy thì tội nghiệp, an ủi rồi dính luôn. Quen nhau chẳng được bao lâu thì cưới. Hai người khá hạnh phúc, chỉ mỗi tội nghèo. Họ có được hai đứa con gái. Hai vợ chồng, hai đứa con sống trong ngôi nhà lá lụp xụp, tồi tàn, gần một nghĩa trang, xa cách mọi người. Ông muốn thoát cảnh nghèo, nên đề nghị: "Có lẽ em phải hy sinh một thời gian, anh lên thành phố học, lấy cử nhân Anh Văn, may ra mới thoát được cảnh đời đen tối này." - "Em sẵn sàng thôi, nhưng lấy tiền đâu ra mà học chứ?" Ông thầy giáo im lặng, thấy một cái gì đó đắng cay, tê tái đè nặng trên ngực. Ông ta buông tiếng thở dài, rồi lăn kềnh ra ghế, nằm vắt tay lên trán, tư lự. Bà đến bên ông vỗ về: "Thôi, anh cứ yên tâm, em đã có cách." Ông ngồi bật dậy, nhìn bà âu yếm hỏi: "Cách gì vậy, nói anh nghe coi nào!" Bà giơ tay ôm lấy ông: "Anh đừng hỏi, miễn là có tiền cho anh ăn học là được rồi. Mấy ông dạy Anh Văn trong trường, tiền vào như nước, thấy mà ham." Nói xong, bà ngồi xuống bên cạnh chồng, sung sướng nhìn ngọn đèn dầu leo lét đang tí tách, bập bùng, vẫn không đủ in bóng hai người lên vách lá. Bên ngoài, trời tối đen như mực. Gió rì rào. Một vài con đom đóm lập loè trước ngõ. Con cú ăn đêm thỉnh thoảng lại buông những tiếng u uất, não nuột. "Anh tính bao giờ mới đi?" - "Tuần tới, lãnh lương xong, anh sẽ đi, anh đăng ký rồi." Ông khăn gói lên đường. Ðể lại cho bà một nách hai con dại. Tháng nào bà cũng chu cấp cho ông đầy đủ, có khi lại còn dư giả nữa là khác. Ông vẫn không biết tiền ở đâu ra, cho đến một hôm, ông về, thấy bụng bà khang khác. Ông cay đắng, tủi nhục, nhìn bà căm phẫn hỏi: "Bà lang chạ với thằng nào?" Bà không nói, chỉ rấm rứt khóc. Ông túm lấy tóc bà, kéo xuống bếp, lấy con dao phay, kề lên cổ bà hỏi: "Bà ăn nằm với thằng nào, nói mau, không tôi cho một dao bây giờ!" - "Chỉ vì ông, tôi đã dại dột bán thân, nên bây giờ mới ra nông nỗi này. Ông có giết thì giết!" Ông ném con dao xuống đất, buông bà ra, bước vào nhà, vò đầu, vò cổ: "Trời ơi là trời, sao vợ tôi lại ngu ngốc đến thế! Sao nó lại bán đi cái thuộc quyền của tôi, để lấy tiền nuôi tôi đi học cơ chứ?" Bà ngồi phịch xuống đất, ôm chặt lấy cột bếp, mắt nhắm nghiền, tủi nhục, chỉ mong ông cho một dao, rảnh nợ đời. Bên ngoài, trời vẫn tối đen. Gió vẫn rì rào. Tiếng côn trùng ai oán. Sáng hôm sau, thức dậy, bà không thấy ông đâu, chỉ thấy mỗi mảnh giấy nhỏ, chữ nghuệch ngoạc dưới chân đèn. "Cám ơn bà đã hy sinh cho tôi. Tôi không còn xứng với sự hy sinh của bà nữa. Tạm biệt." Bà cầm lấy mảnh giấy, châm vào đèn. Nước mắt ráo hoảnh. Bà buông lời cay đắng: "Mẹ kiếp, quân đểu cáng, đồ phản bội." Cha Thịnh lắc đầu, nhăn mặt, tiếc cho một quyết định cuồng dại. Cha nuốt cay đắng hỏi Lan: - Bà ấy tên là gì? - Con không hỏi, hình như tên ông ấy là Bảnh hay Bảy gì đó. Mưa bắt đầu nhẹ hạt. Người ta từ trong hầm cầu ùn ùn kéo ra, đông như ong vỡ tổ. Tiếng động cơ các loại, tiếng nước bì bõm, tiếng gọi nhau ơi ới, như đang làm sống dậy một góc trời. Áo mưa đủ màu lượn lờ trên nước. Lan nhìn cha Thịnh tiếp: - Bà ta sinh được một bé trai kháu khỉnh, đứa thứ tư này gọi theo kiểu miền Nam, trông lại giống như lai, nên bà gọi nó là Tư Lai. Hàng xóm nghe không rõ, gọi nó là Tứ Lai. Tứ Lai sinh được một tuần, thì chị Ba nó té giếng chết. Chôn cất bé Ba xong, mẹ con bồng bế lên thành phố. Bà ngoại cho một căn nhà nhỏ, ở tạm. Tứ Lai được đi học đàng hoàng, chỉ mỗi tội nhà lúc nào cũng lạnh tanh như nghĩa trang. Mẹ nó đi mãi tới khuya thật khuya, khi nó đã đi ngủ từ lâu, mới về. Sáng nó thức dậy, thì bà còn đang ngủ, nhưng bao giờ cũng để sẵn tiền cho nó trên bàn. Ngày nào cũng thế, tan học, nó tắp vào quán cơm trước mặt, ăn xong mới về, tối lại ra quán cơm trước ngõ. Lang thang riết cũng chán. Bạn bè cùng lớp thấy tội nghiệp, rủ nó về nhà chơi, nhưng nó chỉ dám tới một lần, không bao giờ dám tới nữa, vì tủi phận. Bạn bè lúc nào cũng có cha mẹ bên cạnh, còn nó, cha là ai, nó không biết. Mẹ thì có cũng như không... Khi Tứ Lai học gần hết tiểu học, thì cũng là lúc mẹ nó bắt đầu đau yếu. Có hôm, bà ho suốt đêm. Có hôm, bà trùm mền cả ngày, hỏi bà cũng chẳng thèm nói. Bà luôn nhìn nó bằng ánh mắt xa lạ, hờ hững. Rồi một hôm, nó đang chơi, thì thấy mẹ và chị hai nó về. Nó theo vào nhà, thấy chị Hai mang chiếc quần jean ra ướm thử. Nó đến bên mẹ, nắm tay bà nhõng nhẽo: "Mẹ ơi, mua cho con một cái giống như của chị Hai đi mẹ!" Bà gạt phăng nó ra, nhìn trừng trừng vào mắt nó: "Mua cái con khỉ. Ði chỗ khác! Vì mày mà bây giờ tao mới phải khổ thế này." Nó thui thủi bỏ ra ngoài, lang thang vô định, đến trạm xe buýt, chợt nhớ tới bà ngoại, nó leo lên xe. Tới nhà ngoại, nó không dám vào, ngồi bó gối trước cửa, đã khoá từ lâu. Nó nghe rõ ngoại nói với cậu Tám: "Con mẹ thằng Tư Lai lại bắt đầu giở quẻ. Tao chưa hề thấy con mụ đàn bà nào ngu như nó. Có ai lại đi làm đĩ nuôi chồng bao giờ. Mà nếu có thì thấy mình có thai là phải phá ngay chứ, để lòi ra cái thằng Lai này làm gì, để bây giờ nó khổ, mình cũng khổ lây. Chiều nay nó mới tới xin cho thằng Lai ở đỡ ít tháng, để nó bán nhà kiếm chỗ khác." - "Thế má nói sao với chị ấy?" - "Tao bảo không. Chứa chấp cái thằng không có bố ấy mang tiếng, tao không chứa." - "Dẫu sao nó cũng là máu mủ nhà mình, má làm thế là bất nhân." - "Bất gì thì bất, tao chịu, nhưng không đời nào tao để cho cái thằng không có bố ấy sống trong nhà tao." Tứ Lai nghe lùng bùng lỗ tai. Nó đứng bật dậy, ôm mặt vừa chạy, vừa khóc. Vậy là mẹ nó làm đĩ, đẻ ra nó. Trời đã khuya, nó vẫn cứ cắm đầu, cắm cổ đi như người mất hồn. Ðến trạm xe buýt, mệt quá, nó nằm vật xuống đất, thiếp đi... Ðời nó bắt đầu sang trang từ đó, lây lất đầu đường xó chợ, cho tới ngày rơi vào tay mấy tay đồng tính luyến ái. Nó được o bế, nuông chiều, được nghe những lời ngọt bùi suốt đời nó chưa hề được nghe, cho đến khi mấy người kia chết, nó mới bị ném vào công viên Văn Lang và bây giờ thoi thóp ở đây... Ngưng lại một lát, Lan kể tiếp cho cha Thịnh: - Tứ Lai là một người tốt, chưa hề biết ăn cắp của ai, không rượu chè xì-ke. Chỉ vì bị gia đình ruồng rẫy, mới rơi vào tay dân đồng tính, nên mới ra nông nỗi này. Sao người lại có thể đối xử với người như thế được nhỉ? Nếu hôm nay Chúa Giê-su còn sống, con tin chắc rằng Ngài sẽ lặn lội đó đây, tìm cho ra những con người như cu Lượm, Tứ Lai để trả lại cho chúng quyền được làm một người đàng hoàng trong xã hội. Hết mưa rồi, cha về đi, con đi lo quan tài, hẹm gặp cha sau nghe. Bình vẫn đứng xa xa, thỉnh thoảng lại nhìn Tứ Lai, cau mày suy nghĩ. Cha Thịnh bước tới gọi: "Về Bình ơi!" Trời đã hết mưa từ lâu, nhưng đường phố có chỗ vẫn bị ngập nước. Xe cộ ách tắc. Bánh xe cuốn nước, bắn tung tóe vào đầu vào cổ mọi người. Bình tò mò hỏi cha Thịnh: - Chị ấy có phải là chị Lan, không cha? - Ừ! Tuyết Lan. - Sao cha biết chị ấy vậy? - Tôi dạy cổ khi cổ còn là tập sinh Dòng Ða-minh. Sau này cổ về Bình Giã, nhặt được một em bé, muốn giữ lại nuôi, cộng đoàn không chịu, nghỉ tu, về ở với mẹ cổ, bà lại gửi thằng bé vào trại mồ côi. Vậy là cổ bỏ nhà đi tìm con, tìm hoài chằng thấy. Rồi tới hồi cổ thấy mấy người bị SIDA, tội họ quá, ra tay nghĩa hiệp, riết rồi thành chuyên viên. - Thằng nhỏ đó tên là cu Lượm, phải không cha? - Ừ, sao cậu biết? - Nhà con ở gần nhà chị ấy. Cha Thịnh vừa về đến Nhà Dòng thì Minh đã hớt ha, hớt hải chạy tới, tay cầm điện thoại: "Cha có điện thoại của chị Lan." - A-lô, cha Thịnh nghe đây. - Thưa cha, nguy to rồi. Có mỗi chiếc quan tài mà tới hai đứa chết, tính sao bây giờ? - Ai nữa? - Con H’kit, người dân tộc, cha mới Xức Dầu hôm qua đó. - Liên lạc với Phượng Linh thử xem. - Rồi, vô phương cha ơi. - Chỉ còn một chỗ thôi. - Chỗ nào vậy cha? - 115 Nguyễn Phi Khanh đó. - Ông Bảo hả cha? - Ừ! Chắc chắn có. Chôn cất Tứ Lai xong, Tuyết Lan trở lại cám ơn ông Bảo. Ông ta nhìn Tuyết Lan, mỉm cười hỏi: - Môi Lan sao rồi? - Cám ơn chú, đỡ rồi. - Gọi chú chi cho xa lạ, gọi anh cho gần gũi. Này anh hỏi thật, em có gia đình chưa? - Chưa. Nhưng em chưa nghĩ tới. Em có đứa con nuôi thất lạc, em phải tìm cho ra nó đã, rồi tính gì thì tính. - Ði lạc ở đâu? - Người ta vứt nó bên đường, em mang về nuôi. Nó phá quá, mẹ em gửi nó vào cô nhi, không cho em biết. Em tìm hết các cô nhi, bốn năm sau mới biết nó ở cô nhi Xóm Gà, nhưng tới nơi nó đã bỏ đi rồi, giờ không biết nó ở đâu... Ông Bảo tư lự nhìn Lan thông cảm hỏi: - Bây giờ nhà em ở đâu? - Dạ, ở tuốt Bình Giã. - Làng mấy? - Dạ, làng một, ủa, mà sao anh Bảo rành vậy? - À, thì anh có dạy học ở Bà Rịa một thời gian, rồi sau này mới chuyển về Sài-gòn. Chuyện Tứ Lai hiện về trong trí Lan. Cô đau buồn kể: - Anh Bảo biết không, thằng bé Tứ Lai SIDA chết hôm qua, anh cho quan tài chôn đó, cũng ở Bà Rịa. Lan lắc đầu, đau buồn, tiếc nuối tiếp: - Chuyện thương tâm lắm anh ạ. Nhà nghèo, mẹ em phải bán thân nuôi chồng đi học mà chồng không biết, không ngờ có thai. Khi biết vợ bán thân nuôi mình, ông chồng đã hậm hực bỏ đi. Mẹ nó sinh ra nó, nuôi nó đến năm 12 tuổi, đã chỉ mặt nó bảo: "Vì mày mà bây giờ tao mới khổ thế này." Thế là nó bỏ nhà đi, rơi vào tay mấy người đồng tính, chết khi tuổi vừa mới hai mươi. Công nhận, đàn ông nhiều tên đểu thật. Em mà gặp được thằng cha đó, em vặn cổ cho chết. Cả người ông Bảo nóng bừng như đang ngồi trên lửa, bàng hoàng hỏi: - Mẹ nó tên là gì? - Em không biết, chỉ biết chồng bả tên là Bảnh hay Bảy gì đó. Ông Bảo chết lặng. Thôi đúng là Ánh Hồng rồi. Ông vò đầu, vò cổ, tự nhủ: hai mươi năm rồi, lúc nào lương tâm ông cũng cắn xé ông. Ông đểu thật. Nếu vợ ông không hy sinh, dù đó là một sự hy sinh, dại dột, ngu xuẩn, thì bây giờ làm gì ông được thế này? Thế mà... Ông Bảo cố lấy lại bình tĩnh, hỏi:: - Nhà nó có mấy người Lan có biết không? - Có ba chị em, nhưng chị Ba nó hồi nhỏ té giếng chết rồi. Ông Bảo không còn bình tĩnh nổi nữa, đứng bật dậy, la lớn: - Hả! Một đứa té giếng chết sao? - Dạ, con nhỏ té giếng chết, mẹ con Tứ Lai mới bỏ nhà, kéo nhau lên thành phố. - Bây giờ bả ở đâu? - Em không biết nữa, chỉ biết là Tứ Lai căm thù sự gian ác của đàn ông và sự ngu xuẩn của đàn bà suốt đời cho tới trước khi chết. Ông Bảo không còn chịu đựng được nữa. Ông như một tên tội phạm đang bị điệu ra trước vành móng ngựa của chính lương tâm ông. Ông gục mặt xuống bàn, khóc hồi lâu, mới ngẩng mặt lên, cuồng dại nhìn Lan: "Em hãy đi ra khỏi đây, mau. Hãy tránh xa tôi. Tôi chính là thằng đàn ông đểu cáng đó!" Nói xong, ông đập đầu thật mạnh xuống bàn. Tuyết Lan đứng bật dậy, ù chạy, như cố tránh một thứ kinh tởm nhất trên đời. Ðầu óc quay cuồng... * * * - A-lô, a-lô, tôi là Phượng Linh, xin cho tôi được nói chuyện với cha Thịnh ạ! - Xin chị chờ một lát. Cha Thịnh vẫn đang ngồi đọc báo. Minh nhẹ nhàng nói: "Cha có điện thoại của chị Phượng Linh, chị có bộ hốt hoảng lắm!" Cha Thịnh đứng bật dậy, vội vã đi tới phòng điện thoại, hồi hộp, đợi chờ: - Vâng, cha Thịnh đây! - Cha ơi, Tuyết Lan chết rồi! - Hả? Cái gì? Không có tiếng trả lời, cha Thịnh chỉ nghe tiếng nức nở ở đầu dây bên kia. Chờ cho Phương Linh khóc xong, cha hỏi: "Mà sao Lan lại chết?" - "Nó bị xe tông ngay trước cửa nhà ông Bảo." Trong lễ tang Tuyết Lan, cha Thịnh nói với cộng đoàn: "Hôm nay ta họp nhau nơi đây để chia sẻ một sự bình an với chị Tuyết Lan, một người suốt đời chăm lo cho sự sống, nhất là sự sống nơi những con người bị xã hội ruồng bỏ. Bao nhiêu anh chị em SIDA đã an giấc trong vòng tay yêu thương của chị. Chỉ tiếc có một điều thôi, chị ra đi khi ước nguyện chưa thành. Chị có một người con nuôi, tên là Trần Thiên Ân, dân làng vẫn gọi là cu Lượm. Khi còn nhỏ, Thiên Ân rất nghịch phá, nên bà ngoại đã gửi vào cô nhi Xóm Gà mà không cho chị biết. Chị bỏ tu, bỏ nghề, lao đao vất vả tìm con, giờ vẫn chưa thấy. Chị bảo, bao giờ tìm được con, thì muốn tính gì mới tính được... Hôm nay, khi những trăn trở không còn nữa, hy vọng và cầu xin chị sẽ tìm được những gì đã mất..." "Thưa cha, con là Thiên Ân đây!" Từ hàng ghế giữa Nhà Thờ, một thanh niên mạnh khỏe, nước mắt dầm dề, chạy vội tới, quỳ sụp xuống trước linh cữu chị Lan hồi lâu. Cả Nhà Thờ sụt sùi, rấm rứt. Thiên Ân đứng lên, nói lớn: "Mẹ," rồi lại nghẹn ngào: "Con tưởng mẹ đã quên con, không ngờ... ngày nào con cũng đi Lễ ở đây, sao hôm nay con mới gặp được mẹ." Ân lại nghẹn ngào. "Mẹ, tất cả những gì mẹ đang làm, con xin hứa sẽ làm. Xin mẹ hãy an lòng." Ðắp mộ xong, Thiên Ân thắp nhang cho me. Mọi người đã về hết, mà vẫn Ân chưa chịu về. Trời bắt đầu đổ mưa, cơn mưa cuối mùa năm ấy... (trích Ephata 139 & 140) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |