|
ÐẠO TÔN KÍNH TỔ TIÊN Nguyễn Quang Tuyến
Giáo Hội Công giáo Việt Nam đã từ trong phôi thai đến bước trưởng thành. Nhưng ngay từ những thế kỷ đầu của việc hội nhập văn hóa trong công cuộc rao giảng Phúc âm, Giáo Hội Việt Nam đã phải đương đầu với một vấn đề hết sức quan trọng là việc "Phụng thờ Tổ Tiên." Từ "Phụng Thờ" hay "Thờ Phượng" (adoration), ngôn ngữ thần học gọi là culte de latrie (Tôn thờ), đặc biệt dành cho việc thờ phượng Thiên chúa mà thôi. Vì căn cứ vào Kinh Mười Ðiều Răn: "Thứ nhất thờ phượng một Ðức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.".., các vị Thừa sai đã không chấp nhận từ Phụng thờ tổ tiên, vì các ngài cho rằng ông bà cha mẹ ta cũng là những tạo vật do Thiên Chúa dựng nên, nên không thể dùng từ "Phụng Thờ." Trong bài phát biểu cảm tưởng tại Thượng Hội Ðồng Giám Mục Á châu tổ chức tại Rôma năm 1998, Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể, Tổng Giám Mục Giáo Tỉnh Huế đã phải thay từ "Phụng Thờ" bằng từ "Tôn Kính" để có một phân biệt rõ ràng trên bình diện thần học (qui chiếu các số 7 và 45 của văn kiện tài liệu làm việc). Bài phát biểu của Ðức TGM Nguyễn Như Thể có ba điểm chính: 1/ Việc Tôn kính Tổ Tiên trong văn hóa Việt Nam. 2/ Việc Tôn kính Tổ Tiên trong cuộc tranh luận về các nghi thức của việc phụng thờ Tổ Tiên. 3/ Việc Tôn kính Tổ tiên là yếu tố văn hóa và luân lý. Tiếp theo là các điểm nêu bật về việc tôn kính Tổ Tiên tại Trung Quốc và Việt Nam đã được lưu ý hơn. Tất cả các vị Thừa sai đã đến truyền giáo và sống ở Việt Nam đều có thể nhận thấy rất dễ dàng trong việc "Tôn Kính Tổ Tiên" là tôn giáo chính ở Việt Nam tức "Ðạo thờ Ông Bà," cũng là yếu tố thiết yếu nhất của việc phụng thờ các thần linh. Những tôn giáo khác như Khổng giáo, Phật giáo và Lão giáo, cả ba đều đến từ Trung Quốc hay nước ngoài, họ cũng phải thú nhận những yếu tố thiết yếu từ các tư tưởng bình dân để được dân chúng chấp nhận.
Tại Trung Quốc, phải chờ Huấn thị công bố ngày 8-12-1939 để rút lại lệnh cấm. Tại Việt Nam cũng phải đợi đến năm 1964, lần đầu Hội Ðồng Giám Mục Việt nam mới cho phép tín hữu vài hình thức phụng thờ dành riêng cho ông bà tổ tiên, vừa loại bỏ điều gì coi như là dị đoan. NHỮNG THÁCH ÐỐ XƯA VÀ NAY Riêng đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam (GHCGVN) còn hệ thuộc trong hai tổ chức: "Phần đạo" và "Phần đời" (Thần quyền và thế quyền). Ngày Xưa * Phần đời: Theo tín ngưỡng bản địa, đạo "thờ kính tổ tiên" là một điểm son đối với Việt tộc. Lịch sử hình thành của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam trong hai thế kỷ đầu không quan hệ hay gắn bó gì với sự bành trướng của thực dân Pháp tại Ðông Nam Á. Theo 4 đợt truyền giáo tại Dinh Cát và những năm tháng sau này, ảnh hưởng Công Giáo đã lan rộng vào tận cung đình Chúa Nguyễn. Ðiều này thể hiện rõ qua Lễ Giáng Sinh 1643. Giáo Sĩ Ðắc Lộ về Roma, đến ngày 11-09-1652 thì về Balê cùng với một số linh mục Dòng Tên cùng các nhà quí phái Pháp lập ra Hội Thừa Sai Balê (MEP = Mission Étrangère de Paris). "Dòng Tên cũng đến Việt Nam sau các Dòng Phanxicô và Ða Minh. "Năm 1583, các giáo sĩ Ða Minh như Diego Doropesa, Bartholomeo Ruiz, Petro Ortiz đến Ðàng Ngoài từ Phi Luật Tân. "Năm 1550, Giáo Sĩ Ða Minh Gasper de Santa Cruz đến xứ Ðàng Trong không kém Dòng Tên sau này. "Tuy nhiên vì kinh nghiệm ‘Phi Luật Tân’ với sự theo đạo khá dễ dàng và tập thể, các giáo sĩ Ða Minh đem áp dụng tại Việt Nam đã gặp phải sự đối kháng mãnh liệt từ hàng Nho sĩ và Tăng lữ. Giáo sĩ Ða Minh phạm một lầm lỗi nghiêm trọng tại Việt Nam và Trung Hoa là đã độc đoán năn cấm tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên ông bà, đoạn tuyệt cả với những tập tục truyền thống nên đã gây nên cuộc đụng độ mãnh liệt giữa văn hóa và tín ngưỡng Ðông Phương với Công Giáo qua cách thế và quan niệm một chiều rất khắt khe của dòng Ða Minh nên đã tạo ra một hố thẳm giữa Lương và Giáo, giữa Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và Dân tộc Việt Nam mà từ đầu đã không có hố thẳm ngăn cách như thế" ("Công Giáo Việt Nam Trong Dòng Sinh Mệnh Dân Tộc," Cao Thế Dung, tr. 46-47). * Phần đạo: "Ðầu thế kỷ 18, công cuộc truyền giáo đang gặp nhiều khó khăn thì lại xẩy ra cuộc tranh chấp ‘nảy lửa’ giữa ba nhóm Thừa sai Dòng Tên, Dòng Phanxicô và Hội Thừa Sai Balê. Một trong những điểm tranh chấp là Dòng Tên và Dòng Phanxicô chủ trương để cho giáo dân thờ cúng tổ tiên và theo phong tục nghi lễ bản xứ. Hội Thừa Sai quyết liệt chống lại. Ðức Giáo Hoàng phải cử Ðặc Sứ là Ðức Cha Delabaume qua Ðàng Trong điều giải với kết quả là phân vùng ảnh hưởng: * Giáo sĩ Dòng Tên hoạt động tại miền Bắc, nửa tỉnh Thừa Thiên, nửa tỉnh Quảng Nam, toàn tỉnh Quảng Ngãi và một phần Ðồng Nai. * Dòng Phanxicô hoạt động tại phần đất Ðồng Nai và xứ Cao Miên. *Hội Truyền giáo Balê hoạt động tại một nửa tỉnh Thừa Thiên, nửa tỉnh Quảng Nam và từ Phú Yên, Bình Ðịnh, Khánh Hòa trở vào. "Chính nhờ sự khôn khéo và viễn kiến của các giáo sĩ Dòng Tên nên các giáo xứ ở Ðàng Ngoài cũng như từ bắc Quảng Trị ra tới Quảng Bình vẫn còn giữ được một số nghi lễ và tập tục truyền thống kể cả cách kiến trúc và trang trí trong nhà thờ. Trong khi Hội Thừa Sai MEP làm ngược lại, cấm đoán giáo dân nhiều điều rất phi lý như ‘cấm không được ăn giỗ của người bên Lương vì ma quỉ’. Vai trò của Dòng Tên dần dần bị lu mờ. Thế lực của Hội Thừa Sai mỗi ngày nột lớn. Cuối cùng Dòng Tên chẳng những bị đánh bật ra khỏi Việt Nam mà còn bị giải tán do áp lực của Pháp và Tây Ban Nha. Từ khi Dòng Tên bị bãi bỏ, Ðức Giáo Hoàng đau buồn vì việc này lâm bệnh từ trần. Các Thừa sai Pháp được La Mã cho đảm đang tất cả các giáo khu trên toàn cõi Việt Nam." (sđd, CGVNTDSMDT, t. 48-49). Ngày Nay: Ðạo kính Tổ Tiên, điểm gặp gỡ chung cho tín ngưỡng Việt Linh mục Trần Cao Tường có nhắc đến việc "Viện Triết Thần Việt Nam" có tổ chức tại Catholic University of America (Ðại học Công Giáo Hoa Kỳ) ở thủ đô Washington DC và một khóa tại Orange County, CA, với đề tài "Sự Chết và Ðời Sống Vĩnh Cửu." Ðặc biệt tại California, Viện dành một ngày thuyết trình về "Ðối thoại tín ngưỡng Việt Nam" với sự góp mặt của những đại diện tôn giáo như: Phật Giáo, Cao Ðài, Hòa Hảo, Tin Lành và Công Giáo. Theo tác giả, mỗi tôn giáo đều mang những nét đặc thù quí báu đến từ nhiều hướng khác biệt, nhưng đối với người Việt, tụ điểm mà các tôn giáo có thể gặp gỡ chung được là Ðạo kính Tổ Tiên tức Ðạo Ông Bà vì đây là niềm tin tưởng chung của dân Việt qua bao thế hệ. Ông cũng nhắc đến nhà huyền-thoại-học có thế giá vào bậc nhất là Joseph Campbell đã từng đưa ra nhận xét rằng gốc rễ mỗi tôn giáo đều phát sinh từ hình ảnh đứa con đang nằm trong vòng tay mẹ: nó ngước mắt nhìn mẹ với tất cả vẻ triều mến, và người mẹ nhìn nó với đầy vẻ yêu thương. Chính thái độ đó là Ðạo, là đường, là cuống nhau, vượt qua cái xác thân nhỏ bé của mình mà nối lại vào lòng mẹ. Ðạo đã bắt đầu từ cảm quan xác thân dẫn đến tâm linh. Nhà nhân chủng học Le Debleu gọi là "tham dự vào huyền nhiệm." Ðây mới là điểm riêng biệt của Ðạo Kính tổ Tiên nơi người Việt. Tác giả cũng nêu lên ý kiến vì nếu giữ hiếu với cha mẹ chỉ vì cha mẹ sinh thành dưỡng dục thì một con vật cũng có thái độ đó, một cành cây cũng có hiếu là gắn liền với thân cây mới tươi tốt được. Vậy điều kiện lõi cốt nơi Ðạo Ông Bà của người Việt Nam ở chỗ niềm tin vào nhân tính hồn thiêng bất tử từ một cõi linh thiêng, vì con người là tụ đức của trời đất (thiên địa chi đức), vượt qua hộp vuông xác thân không thời mà tham dự vào thiên tính. Vì vậy việc xếp bài vị cũng bắt đầu từ thể lý bốn đời là cao, tằng, nỉ, tổ. * Ðạo Hiếu: Ðạo là đường, hiếu là hiếu nghĩa, hiếu thảo, biết ăn ở trọn làm con. Trong ca dao Việt Nam có những câu đã diễn tả rất đậm đà về đạo hiếu mà từ những vị quân tử đến cả những người thứ dân ai ai cũng thuộc nằm lòng: "Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con." hay: ."..Người ta nguồn gốc từ đâu, Gốc từ tiên tổ rồi sau có mình. Công tiên tổ tác thành từ trước, Con cháu sau mới được hiển vinh. Ta nên giỗ tết kính thành, Trông nom phần mộ tỏ tình nhớ ơn." Ðối với Việt tộc, Ðạo hiếu chính là cái rễ nối vào cội nguồn sức sống để cây đời có thể tươi nở. "Giờ chết" được gọi là "Sinh thì": sinh là sống; thì là thì giờ chứ không phải là "tự tận" (chết là hết). Con cháu thường chỉ nhớ ngày giỗ, ngày kỵ để tảo mộ, cầu kinh, chứ có ai nhớ ngày sinh, ngày mở mắt chào đời như kiểu của người Âu Mỹ. Ông bà, tổ tiên dù đã chết nhưng hồn vẫn sống nơi cội nguồn sức sống, cội nguồn này được giới bình dân gọi là Ông Trời, vẫn luôn luôn bên cạnh con cái để độ trì cho họ được mạnh khỏe, làm ăn tấn phát. Hằng năm cứ tới lễ Vu Lan, tới ngày Rằm tháng Bảy, con cái và cả thân tộc đều nhớ đến ông bà, cha mẹ để tổ chức cúng giỗ cho trọn niềm hiếu thảo. Cách xếp bài vị cũng được bắt đầu từ thế lý bốn đời: cao, tằng, nỉ tổ, nhưng ở giữa là văn tổ là nguồn thiêng chuyển nước xuống cá mạch. * Ðạo Trời: Trong bộ truyện của Việt tộc có rất nhiều truyện để tỏ lòng kính tôn, hiếu để. Nhưng chúng tôi chỉ nêu bật hai truyện về đạo Ông Bà liên hệ trực tiếp với Ðạo Trời. 1/ Truyện Bánh Chưng, Bánh Dầy Sau khi Vua Hùng Vương đã phá được giặc Ân, trong nước thái bình, vua liền cho hộâi hai mươi hai vị Hoàng tử lại mà bảo rằng: "Ta muốn truyền ngôi cho con nào làm vừa lòng ta là đến cuối năm biết đem trân châu Mỹ vị đến dâng cúng Tiên vương để tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho." Các công tử nghe Vua cha nói liền đi tìm đủ mọi thứ ngon vạt lạ để tiến cho Vương. Riêng hoàng tử thứ 9 Lang Liêu, vì sống một mình, cảnh gia đình túng quẫn nên đã thao thức ăn không ngon. Bỗng mộng thấy thần linh hiện ra bảo rằng: "Trong trời đất không có gì quí bằng gạo, vì gạo là của để nuôi dân, ăn mãi không chán. Nếu lấy gạo nếp rồi gói làm hình tròn để tượng "trời," hoặc gói vuông để tượng "đất," ở trong làm nhân cho thật ngon, bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, như thế lòng cha sẽ vui, tôn vi chắc được." Lang Liêu tỉnh dậy mừng thầm, ông liền đi chọn lựa những hột nếp trắng tinh đem vò cho sạch, rồi lấy lá xanh gói thành hình vuông, bỏ nhân ngon vào giữa gọi là "bánh chưng" rồi đem nấu chín. Lại lấy nếp nấu xôi đem quết cho thật nhuyễn, nắn thành hình tròn gọi là "bánh dầy." Ðúng kỳ, Lang Liêu đem bánh chưng, bánh dầy đến dâng vua cha. Hùng Vương lấy làm lạ hỏi lại, Lang Liêu trình bày như lời thân linh đã bảo. Vua cha thân hành nếm thử thì thấy vị ngon vừa miệng ăn không chán. Vua khen ngợi rồi cho Lang Liêu "giải nhất," đoạn vương dùng hai thứ bánh này dâng lên Tiên Miếu để dâng cúng cha mẹ. Dân gian bắt chước truyền cho đến bây giờ và ngày Tết dĩ nhiên không bao giờ thấy thiếu bánh chưng. Tên của Lang Liêu được đổi thành Tiết Liệu. 2/ Dưa Hấu An Tiêm phải lưu lạc ra sống ở ngoài hòn đảo một mình, lại thêm cảnh nghèo túng, không biết làm gì để kiếm ra tiền chi tiêu hàng ngày và giúp đỡ gia đình. Nhưng "Trời sinh Trời dưỡng," ông được chim trời bay đến từng đàn chỗ ông ở và cho ông thật nhiều "hạt dưa hấu." Ông đem trồng và gắng sức chăm bón, chẳng bao lâu đến mùa dưa nổ nụ, đâm bông và sau đã trở thành một thứ quả xanh, bên trong ruột đỏ, có những hạt đen, nên ông đã thu hoạch được rất nhiều tiền của. Ông cũng dùng dưa hấu để dâng cúng trên bàn thờ tổ tiên nhất là trong ba ngày Tết. Việc dâng cúng này nói lên lòng biết ơn ân đức của tổ tiên và tạ ơn Trời. Vậy nên người đời thường nói: "Dù ai nói ngược nói xuôi, Ta đây vẫn giữ Ðạo Trời khăng khăng" hay: "Khó giầu muôn sự tại Trời Nhân sinh ai cũng kiếp người mà thôi." Người con yêu của Ðạo Hiếu và Ðạo Trời: Thầy Giảng Anrê Phú Yên Anrê Phú Yên, giáo dân giáo lý viên, sinh khoảng năm 1925 (XVII), tại tỉnh RanRan (Răn Răn là Ðà Răng, ngày nay là Giáo xứ Màng Lăng, Huyện Tuy An, Phú Yên) bên bờ sông cái Phú Yên, thời đạo Công Giáo mới nhập vào Việt Nam khoảng 10 năm. Ở với mẹ từ nhỏ với đạo hiếu rất đáng khen. Khi lên 16 tuổi, ông và mẹ được chịu phép Thánh Tẩy bởi cha Ðắc Lộ vào năm 1641 và nhận thánh hiệu Anrê. Hai năm sau ông dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa, quyết chí tu hành và được cha Ðắc Lộ nhận vào trong số thầy giảng để truyền bá Phúc Âm. Bị bắt ngày 25-06-1644 lúc 19 tuổi, ông đã hi sinh vì Ðạo chúa cách anh dũng và thánh thiện để làm chứng cho Ðạo Trời tại quảng trường Caciam (Kẻ Chàm hiện là Giáo xứ Vĩnh điện, huyện Ðiên Bàn, Quảng Nam) Phú Yên vào ngày 16 tháng Bảy năm 1644. Trong gần 500 năm (1533-2000), lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam gồm biết bao nhiều người hi sinh mạng sống, có cả tính mạng của các vị Thừa Sai truyền giáo, nhưng chúng ta cũng phải nghĩ ngay đến các Thầy Giảng, các nữ tu Mến Thánh Giá, hàng ngàn hàng vạn giáo dân trong đó có thầy Anrê Phú Yên, đã tiêu biểu cho đoàn hùng binh khoảng 130,000 vị là những người chỉ vì Ðạo Trời mà không màng chi mạng sống mình. Anrê đã tuyên xưng Ðức Tin một cách phi thường và còn mãnh liệt tuyên bố: "Ước chi có được ngàn mạng sống của tôi để hiến dâng tất cả cho Chúa hầu đền đáp ơn Ngài." Ba thế kỷ rưỡi đã trôi qua (1644-2000), kể từ ngày Anrê hy sinh mạng sống vì người mình yêu là Ðức giêsu Kitô. Chúng ta hãy cùng dâng lời cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho Anrê Phú Yên, người được mệnh danh là " Người Chứng Thứ Nhất" hay "Vị Tử Ðạo Tiên Khởi" tại miền Nam Việt Nam nói riêng (Ðàng Trong) hay Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nói chung, vì được Giáo Hội hoàn vũ tôn phong lên bậc Chân Phước vào ngày 5/3/2000 tại Ðền thờ Thánh Phêrô ở thành Rôma (nước Ý). Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |