|
NGƯỜI CÔNG GIÁO
IRAQ Quang Việt
Tin hàng đầu của tháng 12 năm 2003 là về sự sa lưới của Saddam Hussein, cựu Tổng thống Iraq. Ðối với hai nhà lãnh đạo Anh Mỹ, mặc dầu còn dè dặt nhưng tỏ ra hết sức phấn khởi. Ðích thân hai ông Tony Blair và Goerge W. Bush thông báo cho dân của mình về thành quả bắt giữ được Hussein. Và đối với Tây phương, tội ác của Saddam trên toàn dân Iraq đã quá nhiều và được phô bầy đầy đủ. Thân Phận Người Công Giáo Iraq Họ là 500.000 người thuộc nhiều nghi lễ khác nhau bị đàn áp kinh hoàng trong suốt thời kỳ Saddam cai trị mà vẫn phải làm ra vẻ bình thản, được một chính quyền "dân sự che chở." Vì thế, đối với thế giới bên ngoài, Saddam là một Chính quyền "dân sự," không dựa vào Ðạo Hồi như tại Iran, Saud Arabia hay Sudan. Chúng ta phải nghe các nhân chứng kể lại sự đán áp tinh vi của chế độ Saddam. Trong cuộc phỏng vấn giành cho hãng tin Asia News, với ký giả Pierre Balanian ngày 2-12-2003, Ðức Cha Rabban, Giám mục địa phận Amadiyah, một vùng đất cực bắc Iraq, tiếp giáp với Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), nhân dịp về Roma bầu chọn một vị Tổng Giám Mục Công Giáo Chaldê cho Toà Babylon đã cho biết: Giáo phận của ngài có khoảng 500 gia đình công giáo. Từ 1960 chế độ cũ đã mở chiến dịch càn quét người Kurd. Nhiều làng mạc bị bỏ hoang vì chính quyền bắt người Chalde và Kurd tản cư về thủ đô Baghdad. Từ 1978, Chính quyền của Saddam bắt tất cả dân làng tại vùng biên giới Thổ tản cư. Họ bị lùa vào những làng "cộng đồng" của chính phủ, mất hết tự do, mất cả các tên không hợp với Hồi giáo và điều kiện sống trong những làng này rất tồi tệ, điện nước được cung cấp giới hạn; ngược lại với ngày nay khi điện nước luôn được cung cấp đầy đủ 24 giờ một ngày và thực phẩm dễ mua. Ngày 15-12- 03, đang nằm trong nhà thương vì phải mổ để gắp nhiều mảnh mìn còn nằm trong người, được phỏng vấn bởi Bernado Cervellera của Asia News, Ðức cha Rabban, người gốc Kurdish phát biểu về việc Saddam bị bắt: "Cuối cùng thì đầu con rắn đã bị đập dập. Bây giờ chúng tôi có thể yêu bình xây dựng lại xứ sở chúng tôi" "Trong chế độ Saddam, toàn dân Iraq bị đau khổ." "Dưới chế độ độc tài, tất cả chúng tôi bị bách hại. Kitô hữu, giáo phái Shutis, người gốc Arập, người Kurd và người Chaldê gốc Syria cùng đều bị đàn áp cả. Dưới thời Saddam 85% dân chúng bị bóp nghẹt." Một phát hiện thật ghê gớm đối với sự áp chế của Saddam trên tôn giáo khi Ðức Giám mục Jean Benjamin Sleiman của Toà Tổng giám mục Công giáo nghi lễ Latinh Baghdad cho ký giả Lorenzo Fazzini của bản tin Asia News biết: "Tareq Aziz là một người Công giáo làm Phó Thủ tướng cho Saddam không phải vì ông này là một Kitô hữu, nhưng vì ông này là một bạn thân thiết từ thưở thiếu thời với Saddam. Ngay trong những năm đầu cùng làm việc, họ đã cùng thực hiện những cuộc tàn sát tập thể. Aziz được cất nhắc lên có vai vế chính trị chỉ vì là bạn của Saddam. Tôi cũng phải nói trắng ra rằng là thành phần cộng đồng Kitô giáo chúng tôi có nhận được sự nhân nhượng nào nơi chính quyền thì không phải do Aziz mà lại do một thành phần Hồi giáo trong chính quyền. Ví dụ, khi chúng tôi phản đối một cuốn sách giáo khoa có nội dung chống Kitô giáo. Aziz chẳng làm gì giúp đỡ khi chúng tôi phản kháng. Cuối cùng thì một bộ trưởng người Hồi giáo đã bỏ cuốn sách ra khỏi kệ sách nhà trường. Hơn nữa thái độ kênh kiệu của Tarek Aziz khi gặp Ðức Thánh Cha trước cuộc chiến là một điều gây gương xấu nơi người Công giáo. Ðó là câu trả lời khi được hỏi: ‘Tareq Aziz là người Công giáo làm Phó Thủ tướng thì phải chăng chế độ Saddam rất tích cực đối với Kitô giáo’." Thế mới biết 25 năm ròng rã trải qua bao cay đắng, người Kitô giáo ngậm bồ hòn làm ngọt để yêu thương và tha thứ nơi một xã hội đầy hận thù áp bức này. Tham Vọng Của Các Lãnh Tụ Chính Trị Hồi Giáo
Rồi những nhà truyền giảng kinh Koran được sai đến từ những xứ dầu hoả (Saudi Arabia, Iran, Iraq, Libya). Họ gieo rắc những ý thức hệ cay độc về cộng đoàn Kitô giáo. Họ nói về sức mạnh kinh tế, kỹ thuật của người Kitô giáo với tư tưởng "vô thần" của Tây phương và thực tế sa đoạ như đang đe doạ niềm tin căn bản vào Ðức Allah (Thượng đế) và nếp sống theo đường lối Hồi giáo của họ. Họ nói rằng phải phát động thánh chiến để đánh bại lối sống "ngoại đạo" của thời đại này. Họ nói đến những xứ Hồi giáo giầu có ở Trung đông đang tài trợ cho những trường Hồi giáo (Madrassas) và các đền thờ Hồi giáo. Nói chung họ chẳng dạy gì về kinh Koran, nhưng toàn là những ý thức hệ chống tây phương, huấn luyện truyền thông đại chúng xuất bản sách báo, giáo dục cấp cao và mở các học viện văn hoá để quảng bá "lời" (dạy) theo viễn kiến của họ. Vào giữa thập niên 1980, chính quyền Indonesia (dưới thời tổng thống Suharto) cấm mọi người ngoại quốc xin phép thường trú để định cư tại Indonesia hầu ngăn bọn người quá khích làm đảo lộn trật tự xã hội và tôn giáo. Ở bất cứ mức độ nào thì bầu khí văn hoá và chính trị của Indonesia hết sức thuận lợi cho đạo Hồi. Chính quyền thuộc phần đời, tôn trọng mọi tôn giáo, nhưng thường có nhiều biến cố thiếu nhân nhượng tôn giáo, nhất là tại những đảo có nhiều người Kitô giáo (như Sulawesi và Moluccas). Từ 1995 đến nay (sau khi Suharto bị hạ bệ) hơn 500 nhà thờ địa phương đã bị đốt tan tành. Cha Gheddo cũng nhận xét rằng ngay tại Suamatra, một đảo tiêu biểu của Hồi giáo nhất tại Indonesia, số người Kitô giáo chỉ là 2-3% dân số, nhưng dấu hiệu cấm cách cũng rất rõ: nhiều nguyện đường tại vùng quê bị đốt mà chính quyền không cho giấy phép xây dựng lại, người Kitô hữu luôn luôn bị tố cáo tội chiêu dụ tín đồ. Ðang khi đó, nếu có một người bỏ đạo Chúa theo Hồi giáo thì các cơ quan truyền thông rầm rộ nêu cao như một thắng lợi quốc gia. Tại Tây phương một số nhà báo đã đặt vấn đề: Phải chăng Âu châu là một tỉnh của Hồi giáo khi chấp nhận điều nguy hiểm của cái được gọi là "được che chở" (Dhimmitude), một ý niệm trong giáo lý Hồi giáo. Người được đề cao nhất là Bat ye’or (biệt hiệu của tác giả, không muốn ra mặt), một sử gia Hồi giáo. Tác giả sinh tại Ai cập, quốc tịch Anh và đang sống tại Thuỵ Sĩ. Loạt bài bình luận của bà xuất hiện tại Pháp và Hoa kỳ. Bà đã dùng tiêu chuẩn hiện đại để tái lập lý thuyết và thực hành- từ nguyên thuỷ cho đến hiện đại- của ý niệm thánh chiến Hồi giáo (Jihad) và trên hết là ý niệm về "dhimmitude"(kẻ được bảo veä) theo lời dạy của Hồi giáo đối với người Kitô hữu và người Do thái. Ký giả Oriana Fallaci cho rằng: người Kitô hữu Âu châu, trong chủ trương ủng hộ Hồi giáo, đang đi tìm sự bảo trợ của Hồi giáo. Họ đang sống như thể họ cảm nhận mình đã là những kẻ được Hồi giáo bảo hộ. Nhà báo Enzo Bettiza thêm rằng cảm nghiệm về thân phận được Hồi giáo che chở là một cái bẫy dương ra do nhóm canh tân ưu tú của Hồi giáo để chinh phục thế giới và Âu châu. Chiếc bẫy này đã làm việc hữu hiệu: nhiều người Âu châu, dù muốn dù không, vô tình hay hữu ý đã có lần đóng góp vào việc biến chuyển mình thành kẻ được "bảo hộ." Bettza có kể ra bài lập trường của Bat ye’or xuất bản trên tờ Commentaire xuất bản tại Paris do nhóm đồ đệ của nhà xã hội học gốc Do thái Raymond Aron. Bài báo có tựa đề: Do thái và Kitô hữu dưới bóng Ðạo Hồi. Tác giả chứng minh rằng trong thế kỷ 13 làm thế nào người Hồi giáo đã áp đặt chế độ bảo hộ/phục tùng trên những người mà họ gọi là bọn bất tín (infidel) mà ngày nay vẫn còn những vết tích rất sâu đậm trong cách thế quan hệ giữa người Âu châu đương đại với người Hồi giáo. Một trong những hiện tượng chấp nhận "được sự bảo hộ ngấm ngầm" của Hồi giáo là sự lỏng lẻo của Âu châu đối với người Hồi giáo nhập cư. Ở Châu Âu đã xẩy ra sự bao dung về chủ trương tách biệt văn hoá ngay trên lãnh thổ của mình cũng như sự nhượng bộ trong việc cứu trợ tài chánh cho cả những xứ Hồi giáo thù nghịch khét tiếng đối với Tây phương. Cũng có hiện tượng chế nhạo quốc gia Do thái. Có sự cảm thông với bọn khủng bố Palestine và Hồi giáo. Có chuyện mấy thầy dòng Phanxicô làm bia đỡ đạn cho bọn du kích Ảrập trú ẩn trong Vương cung Thánh đường Bêlem. Ðó là những thu góp của ký giả Sandro Magister từ tờ Wall Street Journal ngày 13-3-03 và tờ "Corriere della Sera" chỉ một ngày sau tại Ý. Trong thập niên 1950, sau khi lãnh tụ Nasser của Ai cập quốc hữu hoá kinh đào Suez, người dân trong toàn khối Hồi giáo coi ông như vị lãnh tụ vĩ đại nhất, xem ông như là biểu tượng của sức mạnh Hồi giáo. Mọi người đều muốn thống nhất thành môt khối Hồi giáo để đương đầu với khối Kitô giáo Tây phương, họ nghĩ như vậy. Ðến khi Nasser qua đi, các tay lãnh tụ hạng hai nhảy ra hòng thay thế ngôi sao vừa tắt như Anwar Sadat (Ai cập), Khadafi (Lybia), Assad (Syria) và Saddam (Iraq). (Ông đạo Hồi giáo Khomeni của Iran thuộc hệ phái thiểu số Shiite-không đáng kể và chỉ xuất hiện trên chính trường từ 1999.) Hiểu như vậy chúng ta mới tìm ra mau mối hận thù giữa hai nhà lãnh đạo Syria (Assad) và Iraq (Saddam) vì cả hai, mặc dù thuộc hai quốc gia khác nhau nhưng cũng thuộc đảng Baath, một đảng hy vọng đến một thế giới Ảrập vinh quang. Thế nên Saddam từng định ám hại Assad để thống lãnh quyền lực. Và biết được những tham vọng đó chúng ta mới hiểu được lời than của ông Yasser Arafat, người cầm đầu tổ chức Palestine: "Nếu quý vị thực tình giúp chúng tôi thì chúng tôi đã được độc lập [từ Do Thái] lâu rồi." Sau này người ta thấy Saddam có phần lấn át những lãnh tụ khác vì rất hung hăng đương đầu với khối Tây phương. Chính vì thế Saddam đã cùng với Vương quốc Ảrập Saudi tài trợ cho các nhóm rao giảng kinh Koran như đã được Cha Gheddo mô tả chuyện xẩy ra tại Indonesia làm tiêu biểu. Ngày Hoà bình Thế Giới 1-1-2004 Ngày Hoà bình Thế giới bắt đầu với lời kêu gọi của Ðức Cố Giáo Hoàng Phaolô VI. Như thế, đến nay đã có 39 lời kêu gọi hoà bình đọc trong ngày đầu năm dương lịch mỗi năm. Phải chăng Ðức Thánh Cha không biết đến những âm mưu chiếm đoạt thế giới Kitô giáo của các lãnh tụ chính trị và đạo giáo thuộc khối người Hồi? Nếu vậy sao ngài chỉ biết kêu gọi Hoà bình? Ðức Thánh Cha biết rất rõ hiểm hoạ của Hồi giáo như trong một bài viết của Ðức Cha Bùi Tuần (Giám mục Long Xuyên đã về hưu) khi nhắc lại kỷ niệm gặp gỡ với Ðức Thánh Cha trong đầu thập niên 1980. Ðức Thánh Cha đã hỏi Ðức Cha Bùi Tuần: "Theo Ðức Cha, điều gì là nguy cơ lớn nhất sẽ xẩy đến cho thế giới?" Ðức Cha Bùi Tuần suy nghĩ và nói: "Có lẽ là khuynh hướng theo tự nhiên, hưởng thụ." Ðức Thánh Cha trầm ngâm và phát biểu: "Hồi giáo." Quả đúng như vậy. Người ta đang nhân danh Hồi giáo mà chém giết. Ðức Thánh Cha cũng biết từng chi tiết đang xẩy ra cho con chiên của mình và cho nhân loại nói chung. Ngài cũng biết tại nước Ý từ ngày 21 đến 25 tháng 11-2003, nhân dịp lễ Ramadan của Hồi giáo, tại 6 đền thờ đông người tham dự nhất, các đạo sỹ đã kêu gọi thánh chiến và ca ngợi thành quả khủng bố tại Nassiriya (Iraq) hôm 12-11-03 và ở thủ đô Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) ngày 15 và 20-11-03. (Hiện tại Ý có khoảng 2 triệu người theo Hồi giáo. Con số này mỗi ngày gia tăng do sinh xuất và di dân. Hiện tượng Dhimmi xẩy ra tại Ý rất rõ ràng trong hai trường hợp: một ông hiệu trưởng tự động bỏ cây thánh giá treo trên tường lớp học xuống để khỏi xúc phạm khi thấy mấy học sinh Hồi giáo đến ghi tên theo học rồi một quan toà ra lệnh cho các trường học trong vùng hạ thánh giá xuống vì có người Hồi giáo đâm đơn yêu cầu, ông toà này không cần biết có bao nhiêu học sinh Hồi giáo tại trường, tại lớp nào!) Ðức Thánh Cha sẽ làm gì để đem lại Hoà bình trật tự cho thế giới? Mở lại thánh chiến như thời Trung cổ chăng? Thánh chiến không đem hoà bình, nhưng chỉ thêm hận thù. Lời Chúa dạy là đem yêu thương vậy kêu gọi hoà bình là thực thi ý Thiên Chúa, là nhiệm vụ cao cả của Ðức Thánh Cha, đấng đại diện tối cao của Thiên Chúa ở trần gian. Chúng ta có bổn phận tiếp tay với Giáo hội đem ra thực hành ý niệm và nguyện vọng Hoà bình của Thiên Chúa cho thế giới này. Ngày Hoà bình Thế giới 1-1-2004 chúng ta cầu nguyện cho anh chị em đạo Chúa cũng như đạo Hồi được hưởng bình an đích thực. Nhưng điều quan trọng là chúng ta học tập thông điệp Hoà bình của Ðức Thánh Cha và đem ra thi hành, đó là "Lời dạy Hoà bình." Muốn có Hoà bình phải tôn trọng luật pháp, phải đưa ra một trật tự mới cho thế giới và Giáo hội đã tích cực đóng góp cho hoà bình. Cuối cùng, mọi người hãy thực thi nền văn minh tình thương. Mỗi khi Chúa gặp các tông đồ, lời chào của Chúa: Bình an cho anh em. Lạy Chúa, xin cho nhân loại, anh em của chúng con bình an của Chúa. BẠN BIẾT GÌ VỀ NGƯỜI KITÔ HỮU IRAQ? Iraq có khoảng 700,000 đến 850,000 người Kitô hữu (tức 3-4% dân số trong một đất nước mà đa sôá theo Hồi giáo trong đó 60% theo hệ phái Hồi giáo Shiite). Những người Kitô hữu này thuộc các nghi lễ Kitô giáo khác nhau: Assyrian, Armenian, Syrian, và Latinh cùng một số nhỏ theo Chính thống giáo và Tin Lành. Nhóm Kitô hữu đông nhất là Giáo hội Công giáo theo nghi lễ Ðông phương Chalđê với khoảng 600,000 người. Theo các học giả, người Chalđê là dân Ảrập có mặt trong vùng phụ cận Babylon 900 năm trước khi Chúa Giêsu sinh ra. Ngày nay, là một thành phần Kitô hữu chiếm đa số tại Iraq, người Công giáo Chalđê còn có mặt tại một số quốc gia khác như Hoa Kỳ (khoảng 150,000 người). Tại Iraq, sau khi Saddam Hussein bị hạ bệ, mặc dầu người Kitô hữu rất hy vọng cho một tương lai xán lạn hơn nhưng tình hình an ninh hiện nay rất kém. Nhiều người không dám đi đến nhà thờ nhất là khi có các thánh lễ đêm. Ðồng thời, có những dấu hiệu cho thấy các nhóm Hồi giáo cực đoan bắt đầu quấy phá, khủng bố và sát hại những người Kitô hữu.
LỜI DẠY HOÀ BÌNH ". Trong công cuộc giảng dạy hoà bình, có một nhu cầu đặc biệt khẩn cấp là hướng dẫn những cá nhân và các dân tộc biết tôn trọng trật tự quốc tế và những sự cam kết mà các nhà Cầm quyền đại diện hợp pháp chấp nhận. Hoà bình và luật pháp quốc tế liên kết chặt chẽ với nhau: luật lệ ủng hộ hoà bình." "Trong cuộc chiến cần thiết chống nạn khủng bố, người ta phải nhờ đến luật quốc tế để phát triển các công cụ luật lệ với những biện pháp có hiệu quả trong việc ngăn ngừa, theo dõi và đè bẹp tội ác. Dù sao đi nữa, các chính phủ dân chủ biết rõ việc sử dụng sức mạnh chống khủng bố không thể biện minh cho một sự từ bỏ các nguyên tắc luật lệ. Những quyết định chính trị không thể chấp nhận được nếu người ta muốn tìm kiếm sự thành công mà không đoái hoài đến các nhân quyền cơ bản, bởi vì cứu cánh không bao giờ biện minh cho phương tiện." "Những người Kitô hữu biết rằng tình thương là lý do khiến Thiên Chúa đi vào trong quan hệ với con người. Và chính sự thương yêu mà Thiên Chúa chờ đợi nơi sự đáp trả của con người. Do đó, tình thương cũng là một hình thức tuyệt vời và cao thượng nhất trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Như thế tình thương phải khơi động mọi phần của cuộc sống con người và trải dài trong trật tự quốc tế. Chỉ có nhân loại nơi ‘văn minh tình thương’ ngự trị, sẽ có thể vui hưởng nền hoà bình đích thật và trường cửu." (Trích trong Thông điệp "Ngày Hoà Bình Thế Giới 2004" của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |