|
LỜI CHA CHUNG THÔNG ÐIỆP NGÀY HOÀ BÌNH THẾ GIỚI 1-1-2004 MỘT SỰ CAM KẾT LUÔN ÐÚNG
LÚC: ÐTC GIOAN PHAOLÔ II
Hôm 15/12/2003, Ðức Hồng Y Renato Martino, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý & Hoà bình trong một cuộc họp báo đã trình bày Thông điệp Ngày Hoà bình Thế giới năm 2004 của ÐTC Gioan Phaolô II. Thông điệp hằng năm lần thứ 26 này của ÐTC trong ngày Tết Dương lịch cũng là Ngày Cầu nguyện cho Hoà bình Thế giới, kêu gọi cộng đồng quốc tế hãy tiếp tục gia tăng nỗ lực hoạt động cho việc kiến tạo hoà bình qua việc tôn trọng luật pháp quốc tế, đặt trên căn bản công lý, tha thứ và tình thương. Dưới đây là một số trích đoạn quan trọng của Thông điệp này. Giảng Dạy Hoà Bình 4. Trong Thông điệp của tôi cho Ngày Hoà Bình Thế Giới vào ngày 1-1-1979, tôi đã đưa ra lời mời gọi này: Ðể Ðạt Ðến Hoà Bình, Hãy Giảng Dạy Hoà Bình. Ngày nay, lời kêu gọi đó càng khẩn thiết hơn bao giờ hết bởi vì đối diện với những bi kịch vẫn tiếp tục gây đau khổ cho họ, nhân loại bị cám dỗ nhượng bộ cho số phận, như thể hoà bình là một lý tưởng không thể nào đạt tới. Giáo Hội, trái lại, hằng luôn và ngày nay vẫn tiếp tục giảng dạy một định lý hết sức đơn giản: hoà bình là có thể. Thật vậy, Giáo Hội không mệt mỏi khi lập lại hoà bình là một nghĩa vụ. Hoà bình phải được xây dựng trên bốn trụ cột đã được Chân phước Giáo Hoàng Gioan 23 chỉ ra trong Thông điệp Pacem in Terris ("Hoà Bình trên Trái Ðất") của ngài: sự thật, công lý, tình thương và tự do. Như thế, một nghĩa vụ được đặt trên tất cả những ai yêu chuộng hoà bình: nghĩa vụ giảng dạy những lý tưởng này cho các thế hệ mới hầu chuẩn bị một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân loại. Giảng Dạy Luật Lệ 5. Trong công cuộc giảng dạy hoà bình, có một nhu cầu đặc biệt khẩn cấp là hướng dẫn những cá nhân và các dân tộc biết tôn trọng trật tự quốc tế và những sự cam kết mà các nhà Cầm quyền đại diện hợp pháp chấp nhận. Hoà bình và luật pháp quốc tế liên kết chặt chẽ với nhau: luật lệ ủng hộ hoà bình. Ngay từ buổi rạng đông của nền văn minh, các cộng đồng phát triển của con người tìm cách thiết lập những thoả thuận và hiệp ước để tránh việc sử dụng tùy tiện bạo lực và giúp họ có thể tìm kiếm một giải pháp hoà bình cho bất kỳ cuộc tranh cãi nào. Cùng với những hệ thống luật lệ của các dân tộc riêng biệt, còn có một số những tiêu chuẩn được biết đến như là ius gentium ("Luật các Quốc Gia"). Theo dòng thời gian, bộ luật này dần dần mở rộng và tinh lọc theo các kinh nghiệm lịch sử của những dân tộc khác nhau. Tiến trình này đã được thúc đẩy mạnh mẽ với sự ra đời của các Nhà Nước hiện đại. Từ thế kỷ 16 trở đi, các nhà luật học, triết học và thần học đã tham gia vào việc phát triển những tiêu đề của luật quốc tế và đặt bộ luật này trên căn bản của những định đề cơ sở của luật tự nhiên. Với sự gia tăng hiệu lực, tiến trình này dẫn đến việc qui định các nguyên tắc phổ quát được đi trước và đặt lên trên luật lệ nội bộ của các Nhà Nước, cùng lưu tâm đến sự hiệp nhất cũng như ơn gọi chung của gia đình nhân loại. Trọng tâm của các nguyên tắc này rõ ràng là nguyên tắc pacta sunt servanda: những thoả thuận tự do ký kết phải được tôn trọng. Ðây là giả định cốt yếu và không miễn trừ cho mọi quan hệ giữa các thành phần ký kết có trách nhiệm. Sự vi phạm nguyên tắc này nhất thiết dẫn đến một tình trạng vô luật lệ và hậu quả là sự va chạm và tranh cãi có những tác hại kéo dài. Thật là thích hợp khi mọi người nhớ lại luật căn bản này, đặc biệt là vào những lúc con người có cám dỗ nại đến luật lệ của sức mạnh hơn là sức mạnh của luật lệ. Chắc chắn rằng một trong những thời điểm này là tấn thảm kịch mà nhân loại đã trải qua trong Ðệ Nhị Thế Chiến: hố sâu của bạo lực, sự hủy hoại và cái chết không giống như bất kỳ điều gì được biết trước đó. Tôn Trọng Luật Lệ 6. Cuộc chiến đó, với những sự kinh hoàng và các vi phạm ghê gớm phẩm giá con người đã dẫn đến một sự cải cách trong trật tự luật pháp quốc tế. Việc bảo vệ và cổ võ hoà bình được đặt ở trung tâm của một hệ thống những tiêu chuẩn và định chế được hiện đại hoá. Cùng với sự khuyến khích các nỗ lực của những Nhà Nước nhằm gìn giữ và bảo đảm các quyền lợi căn bản của nhân loại, nhiệm vụ canh giữ hoà bình và an ninh toàn cầu, đã được các chính phủ giao phó cho một tổ chức được thiết lập cho mục đích này - Liên Hiệp Quốc - với một Hội Ðồng Bảo An có quyền hành rộng rãi. Cốt yếu cho hệ thống này là sự ngăn cấm sử dụng vũ lực. Theo Chương 7 được mọi người biết rõ trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, sự ngăn cấm này là điều khoản với hai ngoại lệ mà thôi. Ngoại lệ thứ nhất khẳng định quyền bảo vệ hợp pháp tự nhiên, được thực hiện theo các cách thức cụ thể và trong khuôn khổ của Liên Hiệp Quốc và như thế cũng nằm trong những giới hạn truyền thống của sự cần thiết và tính cách cân đối [khi sử dụng sức mạnh]. Ngoại lệ khác được tiêu biểu bởi hệ thống an ninh tập thể, cho phép Hội Ðồng Bảo An có khả năng và trách nhiệm gìn giữ hoà bình, với quyền quyết định và hành động rộng rãi. Hệ thống được phát triển trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc có ý "cứu những thế hệ kế tiếp khỏi sự trừng phạt của chiến tranh, mà đã hai lần trong cuộc đời chúng ta, đưa lại nỗi đau buồn khôn tả cho nhân loại" (Lời Mở Ðầu Hiến Chương LHQ). Tuy nhiên, trong các thập niên tiếp theo, sự phân chia cộng đồng quốc tế thành những khối đối nghịch nhau, cuộc Chiến Tranh Lạnh ở một phần của thế giới, sự bùng nổ xung đột bạo lực ở các vùng khác và hiện tượng khủng bố, đã sản sinh ra một sự tách rời càng gia tăng khỏi những ý tưởng và mong đợi của thời kỳ hậu Thế Chiến ngay sau đó. Một Trật Tự Quốc Tế Mới Dẫu vậy, người ta phải nhìn nhận rằng, Tổ Chức Liên Hiệp Quốc, ngay cả với những giới hạn và trì trệ mà phần lớn là do thất bại của các nước thành viên, đã góp phần đáng kể vào việc cổ võ sự tôn trọng nhân phẩm, tự do của các dân tộc, và những yêu cầu phát triển, như thế chuẩn bị mảnh đất văn hoá và cơ chế sẵn sàng cho việc xây dựng hoà bình. Hoạt động của các Chính phủ quốc gia sẽ được khích lệ rất nhiều do nhận thức rằng những lý tưởng của Liên Hiệp Quốc sẽ thấm nhập sâu, đặc biệt qua các hoạt động thực tiễn cổ võ sự liên đới và hoà bình do nhiều cá nhân thực hiện trong các Tổ chức Phi Chính phủ (NGOs) và ở những Phong trào bênh vực nhân quyền. Ðiều này tiêu biểu cho một sáng kiến có ý nghĩa về một cuộc cải cách giúp cho Tổ chức Liên Hiệp Quốc có thể hoạt động hiệu quả nhằm theo đuổi những mục đích đề ra mà hiện vẫn còn có giá trị: "Nhân loại ngày nay đang trong một giai đoạn mới mẻ và nhiều khó khăn hơn trong công cuộc phát triển đích thực. Nhân loại cần có một mức độ trật tự quốc tế lớn lao hơn" (Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis). Các Nhà Nước phải xem mục tiêu này như là một bổn phận luân lý và chính trị rõ rệt với sự đòi hỏi hãy cẩn trọng và cương quyết. Ở đây, tôi muốn lập lại những lời cổ võ tôi đã phát biểu vào năm 1995: "Tổ chức Liên Hiệp Quốc cần vượt lên trên hơn nữa tình trạng của một định chế hành chánh lạnh lùng và trở thành một trung tâm luân lý, nơi mọi quốc gia trên thế giới cảm thấy gần gũi và phát triển cùng một ý thức tất cả là một gia đình nhân loại" (Diễn từ tại Ðại Hội Ðồng LHQ khóa 50, New York, 5-10-1995). Tai Hoạ Khủng Bố Chết Người 8. Ngày nay luật quốc tế được nhấn mạnh để cung ứng các giải pháp cho những tình trạng xung đột phát sinh từ bối cảnh thay đổi của thế giới hiện đại. Những tình hình xung đột này thường dính líu đến các nhân tố không phải là Nhà Nước nhưng thực ra là các thực thể phát sinh từ sự sụp đổ Nhà Nước, hay có quan hệ với những phong trào đòi hỏi độc lập, hoặc liên kết với những tổ chức tội phạm được huấn luyện. Một hệ thống luật pháp hình thành từ những tiêu chuẩn được thiết lập qua nhiều thế kỷ như một phương tiện để qui xử các quan hệ giữa những Nhà nước có chủ quyền giờ thấy thật khó để giải quyết những xung đột có dính líu đến các thực thể không thể được xem là Nhà Nước theo nghĩa truyền thống. Ðây là trường hợp đặc biệt của các nhóm khủng bố. Trong những năm gần đây, tai hoạ khủng bố càng lúc càng trở nên độc dữ hơn và đã sản sinh các cuộc tàn sát dã man cùng tạo ra những trở ngại càng lớn lao hơn trên con đường đối thoại và thương thảo, làm gia tăng các sự căng thẳng và làm vấn đề trầm trọng hơn, đặc biệt là ở vùng Trung Ðông. Ngay cả thế, nếu muốn thắng hoạ khủng bố, cuộc chiến chống khủng bố không thể bị hạn định duy nhất ở những chiến dịch đàn áp và trừng phạt. Ðiều căn bản là việc sử dụng sức mạnh, ngay cả khi cần thiết, phải được đi kèm với một cuộc phân tích can đảm và rõ ràng các lý do đằng sau những cuộc tấn công khủng bố. Cuộc chiến chống khủng bố cũng phải được tiến hành ở mức độ chính trị và giáo dục: một mặt bằng cách loại trừ những nguyên nhân đằng sau các tình trạng bất công mà thường lôi cuốn con người đến những hành động tuyệt vọng và bạo động; và mặt khác, bằng cách nhấn mạnh một nền giáo dục được cảm hứng từ việc biết tôn trọng sự sống con người ở mọi tình cảnh: sự hiệp nhất của nhân loại là một thực tế mạnh mẽ hơn bấy kỳ sự chia rẽ ngẫu nhiên nào ngăn cách các cá nhân và dân tộc. Trong cuộc chiến cần thiết chống nạn khủng bố, người ta phải nhờ đến luật quốc tế để phát triển các công cụ luật lệ với những biện pháp có hiệu quả trong việc ngăn ngừa, theo dõi và đè bẹp tội ác. Dù sao đi nữa, các chính phủ dân chủ biết rõ việc sử dụng sức mạnh chống khủng bố không thể biện minh cho một sự từ bỏ các nguyên tắc luật lệ. Những quyết định chính trị không thể chấp nhận được nếu muốn tìm kiếm sự thành công mà không đoái hoài đến các nhân quyền cơ bản, bởi vì cứu cánh không bao giờ biện minh cho phương tiện. Ðóng Góp của Giáo Hội 9. "Phúc cho những ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con cái Thiên Chúa" (Mt 5:9). Như là một lời hiệu triệu mọi người hãy hoạt động trong lãnh vực hoà bình rộng lớn, làm sao câu dạy trên có thể tìm thấy một tiếng dội mạnh mẽ trong tâm hồn con người nếu nó không đáp trả cho một sự khát khao và niềm hy vọng không thể đè bẹp được trong chúng ta? Và tại sao những người kiến tạo hoà bình được gọi là con cái Thiên Chúa được, nếu không phải bởi vì Thiên Chúa tự bản chất là Thiên Chúa của bình an? Chính vì lý do này, trong sứ điệp cứu độ mà Giáo Hội công bố khắp cùng thế giới, có yếu tố tín lý mang tầm quan trọng căn bản cho sự phát triển các nguyên tắc cần thiết cho sự cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia. Lịch sử dạy rằng việc xây dựng hoà bình không thể cắt đứt khỏi sự tôn trọng trật tự đạo đức và luật lệ, theo châm ngôn ngày xưa: "Serva ordinem et ordo servabit te" (giữ luật thì luật sẽ giữ bạn). Luật quốc tế phải bảo đảm sao cho luật của kẻ mạnh hơn không được lấn lướt. Mục đích căn bản của luật quốc tế là thay thế "sức mạnh vật chất của vũ trang bằng sức mạnh của luật luân lý" (ÐTC Bênêđictô XV, Lời Kêu Gọi các Nhà Lãnh Ðạo của Những Nước Lâm Chiến, 1-8-1917), cung cấp các biện pháp chế tài thích đáng cho những kẻ xâm phạm và bồi thường chính đáng cho các nạn nhân. Ðiều này cũng phải được áp dụng cho những nhà lãnh đạo chính phủ chà đạp phẩm giá và quyền lợi con người mà không bị phạt trong khi che dấu đằng sau cái cớ không thể chấp nhận được, đó là vấn đề nội bộ của Nhà nước. Trong một Diễn từ cho Ngoại giao đoàn được ủy nhiệm bên cạnh Toà Thánh vào ngày 13.1.1997, tôi có nhận xét rằng luật quốc tế là một phương tiện đầu tiên để theo đuổi nền hoà bình: "Trong một thời gian dài, luật quốc tế là luật của chiến tranh và hoà bình. Tôi tin rằng luật này càng ngày càng có thể được gọi là luật của hoà bình mà thôi, được cưu mang trong nền công lý và tình liên đới. Và trong bối cảnh này, luân lý phải gây hứng cho luật lệ; luân lý có thể ngay cả đảm nhiệm vai trò dự bị trong việc làm ra luật, đến mức độ nó chỉ cho thấy con đường thiện hảo và sự đúng đắn." Qua bao thế kỷ, giáo huấn của Hội Thánh được rút ra từ suy tư triết học và thần học của nhiều nhà tư tưởng Kitô giáo, đã đóng góp đáng kể vào việc hướng dẫn luật quốc tế đến lợi ích chung của toàn thể gia đình nhân loại. Ðặc biệt trong những thời gian gần đây, các vị Giáo hoàng đã không do dự khi nhấn mạnh tầm quan trọng của luật quốc tế như là một lời cam kết cho hoà bình, với niềm xác tín rằng "hoa quả công chính được gieo vãi trong an bình cho người gầy dựng bình an" (Gc 3:18). Bằng cách sử dụng các phương tiện thích hợp, đây là con đường Giáo Hội cam kết đi theo trong ánh sáng vĩnh cửu của Phúc Âm và với sự trợ giúp không thể nào thiếu của lời cầu nguyện. Nền Văn Minh Tình Thương 10. Kết thúc những nhận định này, tôi cảm thấy thật cần thiết khi lập lại rằng, để thiết lập nền hoà bình thực sự trên thế giới, nền công lý phải được thực hiện trong sự bác ái. Chắc chắn luật lệ là con đường đầu tiên dẫn đến hoà bình, và người ta cần được giáo huấn biết tôn trọng luật đó. Tuy nhiên, họ không đi đến cuối đường trừ phi công lý được bổ túc bởi tình thương. Công lý và tình thương dường như đôi khi là những lực lượng đối nghịch nhau. Thật ra chúng chỉ là hai mặt của một thực tế, hai chiều kích của sự sống con người cần được kết hợp hỗ tương. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy điều này là đúng. Nó cho thấy công lý thường không thể nào tự thoát ra khỏi mối hiềm thù, ganh ghét, và ngay cả độc ác. Tự nó, công lý không đủ. Thật vậy, công lý có thể ngay cả bội phản chính nó, trừ phi công lý mở ra cho sức mạnh sâu xa hơn là tình thương. Vì lý do này, tôi thường nhắc nhở các Kitô hữu và mọi người có thiện chí rằng sự tha thứ thật cần cho việc giải quyết những vấn đề cá nhân và các dân tộc. Không thể nào có hoà bình mà không có sự tha thứ! Tôi nói lại lần nữa ở đây, khi tư tưởng của tôi đặc biệt hướng về cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục tại Palestine và Trung Ðông: một giải pháp cho những vấn đề trầm trọng mà từ lâu nay đã gây ra đau khổ cho những dân tộc trong vùng, sẽ không tìm thấy cho đến khi nào có một quyết định vượt lên trên luận lý của một sự công lý đơn giản và mở ra cho luận lý của tha thứ. Những người Kitô hữu biết rằng tình thương là lý do khiến Thiên Chúa đi vào trong quan hệ với con người. Và chính sự thương yêu mà Thiên Chúa chờ đợi nơi sự đáp trả của con người. Do đó, tình thương cũng là một hình thức tuyệt vời và cao thượng nhất trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Như thế tình thương phải khơi động mọi phần của cuộc sống con người và trải dài trong trật tự quốc tế. Chỉ có nhân loại nơi "văn minh tình thương" ngự trị, sẽ có thể vui hưởng nền hoà bình đích thật và trường cửu. Vào đầu Năm Mới, tôi muốn lập lại cho mọi người thuộc mọi ngôn ngữ, tôn giáo và văn hoá câu ngạn ngữ cổ: "Omnia vincit amor" (Tình yêu chinh phục tất cả). Ðúng thế, Anh Chị Em thân mến khắp thế giới, cuối cùng ra tình yêu sẽ chiến thắng! Mọi người hãy dấn thân để thực hiện mau chóng cuộc chiến thắng này. Vì đó là niềm hy vọng sâu xa nhất của tâm hồn con người. Làm tại Vatican, ngày 8 tháng 12 năm 2003. Gioan Phaolô II
|