Tiến Sĩ Thần Học Luân Lý

Trong việc chọn lọc những câu hỏi, chúng tôi cố gắng lưu ý đến nhiều phương diện khác nhau của ‘lẽ đạo’, nhất là những vấn nạn liên quan đến luân lý, là phương diện bức xúc nhất trong đời sống Kitô hữu ngày nay. Ðể trả lời những thắc mắc, quan điểm của chúng tôi được đặt trên căn bản là Lời Chúa, Truyền Thống và Huấn Quyền của Giáo Hội. Quan điểm ấy cũng cố gắng kết hợp giữa suy tư thần học và thực tế mục vụ.

Ðương nhiên, trong khuôn khổ nhất định của đề mục này, những giải đáp của chúng tôi không thể bao gồm tường tận mọi chi tiết. Vì thế, ngoài mục đích chính là cống hiến những hiểu biết căn bản để giải tỏa những băn khoăn, hy vọng những giải đáp này cũng gợi ý và động viên sựï chú tâm tìm hiểu kỹ càng những bài nghiên cứu hệ thống hơn.

Mục ‘Hiểu Ðạo - Sống Ðạo’ mong ước được trở nên người bạn đồng hành để chia sẻ với Quý Ðọc Giả những băn khoăn trong hành trình Ðức Tin hằng ngày. Mọi thắc mắc liên quan đến việc tìm hiểu để sống đạo, xin Quý Vị vui lòng gởi về cho chúng tôi quađịa chỉ email Dominiquebao@hotmail.com hay tòa soạn ÐMHCG.


Tại sao gọi các linh mục là ‘cha’?

Hỏi: a) Thưa cha, con thắc mắc là tại sao Ðức Mẹ được lên trời cả hồn và xác. Trong Kinh thánh không nói gì về việc này?

b) Tại sao phải gọi các linh mục là ‘cha’. Kinh thánh có nói: chỉ có một mình Thiên Chúa là cha mà thôi. Có phải ‘cha’ chỉ là một nick name (tên phụ riêng, tên khôi hài) của các linh mục mà thôi?

N. Han, Chicago

Ðáp: Liên quan đến câu hỏi (a), xin bạn vui lòng xem lại số báo tháng 4/2003.

b) Tại sao phải gọi các linh mục là ‘cha’? Cũng như bạn, nhiều anh em Tin lành, và ngay cả Công giáo, thường đặt vấn đề về việc này. Họ dựa trên lời Chúa rằng: "Các con đừng gọi ai dưới đất là cha, vì các con chỉ có một Cha trên trời" (Mt. 23:8). Ðể giải tỏa vấn nạn, trước hết, cần phải đặt câu Phúc âm này trong bối cảnh và tìm hiểu ý nghĩa nguyên thủy. Trong Phúc âm Thánh Mathêu, chương 23 là chương quy tụ những lời của Chúa Giêsu liên quan đến việc tranh luận giữa cộng đoàn Kitô hữu và Do thái giáo thời ấy, do nhóm Pharisiêu lãnh đạo. Ở đây, thánh sử Mathêu ghi lại tư tưởng giáo huấn của Chúa Giêsu cho các môn đệ của Ngài. Ngài yêu cầu các môn đệ phải tránh não trạng và cách hành xử của nhóm Pharisiêu. Các kinh sư và Pharisiêu là những người hay tự phụ, thích danh tiếng và chuộng hình thức bề ngoài. "Họ làm việc cốt để khoe khoang. Họ ưa ngồi chỗ nhất, muốn người ta chào hỏi nơi công cộng và gọi mình là Rabbi (Thưa Thầy!)" (Mt. 23:5-7). Ðể tránh cung cách Pharisiêu ấy cách cụ thể, Chúa truyền cho các môn đệ rằng "đừng để ai gọi mình là ‘Rabbi’..., đừng gọi ai dưới đất là ‘cha’..., đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo" (Mt. 23:8-10). Như thế, ý nghĩa chính của câu Phúc âm Chúa nói trên trên đây nhằm vào việc đề phòng một thái độ của tâm hồn (thái độ tự tôn, ham danh), chứ không nhằm vào việc phi bác một từ ngữ bên ngoài mà thôi. Không nên hiểu Lời Chúa cách giới hạn, theo nghĩa đen.

Trong Giáo Hội, có những người được Chúa trao ban thừa tác vụ dạy dỗ, huấn luyện đức tin. Ðó là những giám mục, linh mục. Họ thi hành sứ vụ ấy với tinh thần phục vụ tông đồ. Qua việc rao giảng Lời Chúa để truyền đạt chân lý đức tin, và cử hành các bí tích để nuôi dưỡng linh hồn tín hữu, họ là những tác nhân của đời sống tâm linh.

Theo truyền thống Giáo Hội Công giáo từ rất xa xưa, khi các tín hữu nhận thức ra vai trò của những mục tử linh hồn, họ đã gọi các vị ấy bằng danh xưng ‘cha’. Cách gọi ấy thật ra cũng chính đáng, xét theo sứ vụ thiêng liêng của các mục tử. Danh xưng này tự nó không thành vấn đề. Chỉ thành vấn đề đối với ai hay câu nệ, mặc cảm hoặc thích ‘vẽ’ nghĩa để phi bác. Từ ngữ này tuy có ‘đồng âm’ nhưng dĩ nhiên không ‘đồng nghĩa’ với ‘ba, bố’ ở đời. Càng không phải là ‘cha chú’, ‘bố già’ theo nghĩa nickname nào đó.


Luật Hôn phối Công giáo quá khắt khe?

Hỏi: Thưa cha, so với các đạo khác, luật hôn phối Công giáo có khắt khe và vô lý quá không? Khi hai vợ chồng không còn thương nhau nữa và cuộc sống chung chạ chỉ là sự đầy đọa, làm khổ nhau thì tại sao không cho người ta hủy bỏ phép hôn phối và lấy người khác họ yêu? Luật pháp đời cũng phải tôn trọng quyền tự do cá nhân này mà?

Nguyễn T. Phương - Denver, CA

Ðáp: Hôn nhân là một thực tại tự nhiên và là sự thiện ích cần thiết trong đời sống nhân loại. Nó hiện hữu trước cả những cơ chế luật pháp, xã hội con người. Vì thế, hôn nhân với đặc tính tự nhiên của nó là chung thủy (fidelity), trường kỳ (permanence) mang giá trị cao cả hơn là những luật pháp con người. Giá trị ấy phải được luật pháp tôn trọng, cổ võ, bảo vệ, hầu xã hội con người ngày càng vượt xa khỏi thế giới loài vật và trở nên văn minh hơn, ‘người’ hơn.

Ðiều mâu thuẫn đáng tiếc là, ngày nay, nhân danh đủ mọi lý do, những người làm luật có khuynh hướng đưa xã hội loài người đi lùi trên con đường văn minh đích thực. Những lề luật cho phép tự do luyến ái, dễ dàng ly dị, kết hôn đồng phái tính, ngăn ngừa truyền sinh, giết hại sự sống, v.v., tuy mang tiếng là bảo vệ nhân quyền và tự do cá nhân, nhưng thật ra đang đưa xã hội loài người trở về tình trạng hỗn mang, sơ khai, giống như đời sống cầm thú. Loài vật không cần kết hôn, và càng không bị ràng buộc bởi yêu cầu chung thủy trong hôn ước. Ðó là xét về mặt luân thường (Luật tự nhiên - Natural law).

Xét về mặt đạo lý (Luật Thiên chúa - Divine law), hôn nhân còn mang tính cách thánh thiêng, vì do chính Thiên Chúa thiết lập. Lề luật liên quan đến yếu tính (essential properties) của hôn nhân (Duy nhất một vợ một chồng, và Chung thủy) là do chính Thiên Chúa thiết định. Nó mang một giá trị cao cả, thiêng liêng hơn quyền hạn của con người và Giáo Hội. Vì thế, Kinh thánh ghi: "Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly" (Mt. 19:6). Do đó, Giáo Hội thật sự không có quyền ‘veto’ luật Chúa và cho phép ly dị, phá đổ một giao ước hôn nhân đã thành bí tích.

Trong khi vâng lệnh Thiên Chúa và bảo vệ sự trường tồn của bí tích hôn phối, không phải là Giáo Hội không thấu hiểu và trắc ẩn trước sự đau khổ của những người thất bại trong đời hôn nhân, gia đình. Giáo Hội quan tâm nhiều đến tình trạng ngày càng phổ cập của những gia đình ly dị. Các vị mục tử, các thần học gia trong Giáo Hội hiện tại đang băn khoăn tìm kiếm một đường lối mục vụ bác ái thích ứng đối với những tín hữu ly dị tái hôn. Gần đây, cố linh mục và nhà luân lý Bernard Haering, DCCT, là một trong những người đã gióng lên tiếng chuông về vấn đề bác ái thiêng liêng rất bức xúc này (xc. Haering B. ‘No Way Out’).

Một trong những biểu tỏ cảm thông cụ thể của Giáo Hội đối với những cảnh đời hôn nhân đau khổ và thất bại là phép rộng trong việc cho sống riêng biệt (quen gọi là ly thân). Dĩ nhiên, điều mà Giáo Hội nhắm đến trong phép này không phải là một hình thức ‘ly dị không ký giấy’. Theo lương tâm luân lý, chỉ được ‘sống riêng’ khi hội những yếu tố như: vì sự an ninh mạng sống, bảo toàn sức khỏe căn bản phần xác và sự an nghi tinh thần, bảo vệ đời sống tâm linh và đức tin, tạo hiệu quả trị liệu tâm lý cần thiết để giúp thăng tiến tương quan vợ chồng, mang tính cách tạm thời và phải nhắm đến sự giải hòa lại, và nhất là không được ăn ở hay tái hôn với người khác.

Dĩ nhiên, luật cấm ly dị của Giáo Hội xem ra có vẻ khó khăn, hay gây lâm lụy, lưỡng nan. Chính vì thế mà những người sống đời hôn nhân cần phải thủ đắc ‘khuôn vàng thước ngọc’ của ông bà ta: trước hôn nhân hãy mở thật to đôi mắt để tìm hiểu, suy nghĩ, và quyết định cho đúng; khi đã đi vào hôn nhân thì ngược lại, phải nhắm chặt mắt lại để sống vị tha và hạnh phúc với nhau.

Hơn nữa, phải công bằng nhìn nhận rằng luật hôn phối Công giáo tuy có làm cho một số cặp vợ chồng khó xử, nhưng thật ra chính nhờ đó mà đa số các cặp vợ chồng khác đã cố gắng nhường nhịn để kiên trì tìm hiểu nhau hơn, gắn bó trung thành với nhau để yêu thương nhau hơn. Gia đình họ vì thế mà được bảo vệ chắc chắn hơn. An nghi của con cái họ do vậy mà được bảo đảm hơn.

Tóm lại, lề luật ‘hôn nhân bất ly gián’ là một thành trì kiên cố giữ vững hạnh phúc gia đình và bảo vệ thiện ích chung xã hội loài người. Quyền lợi chung bao giờ cũng phải được tôn trọng hơn tư lợi, nhu cầu cá nhân. Không thể nào vì giải tỏa hoàn cảnh đau thương của một số người mà châm chước lề luật ấy để đưa đến hậu quả là sự tang thương lớn hơn cho cả xã hội.


Tại sao ăn chay?

Hỏi: Thưa cha, con người ta sống là phải ăn uống, hưởng dùng. Vậy tại sao theo đạo thì phải ăn chay, ý nghĩa việc ăn chay trong đạo Công giáo là gì? Tại sao Giáo Hội buộc ăn chay kiêng thịt trong ngày thứ Tư và thứ Sáu mà không vào ngày khác?

Lê Xuân - Alberta, Canada

Ðáp: Người tín hữu có bổn phận phải giữ gìn, bảo vệ sức khỏe để chu toàn nghĩa vụ khi còn sống ở trần gian, để phụng sự Chúa. Vì thế, xét theo luân lý Công giáo, coi thường hay phung phí sức khỏe (ăn chơi, hút sách, nhậu nhẹt vô độ) cũng là một thiếu sót. Ðó là lỗi phạm đến Thiên Chúa qua chính mình.

Tuy nhiên, theo tu đức Kitô giáo, chúng ta cũng biết rằng cuộc sống trần gian chỉ là thứ yếu so với cuộc sống vĩnh hằng. Sức khỏe thể xác chỉ có một giá trị tương đối so với sự an mạnh linh hồn. Thánh Phaolô nhắn nhủ các tín hữu Kitô: "Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn, chuyện uống. Vậy thì ta hãy lo theo đuổi sự bình an, lợi ích tinh thần" (Rom. 14:17-19). Ðể thực hiện việc ấy, chủ yếu là phải sống điều độ, tiết chế. "Ngày đã gần kề! Chúng ta hãy sống xứng đáng, đoan trang... đừng chè chén say sưa, trong dâm dật và phóng đãng" (Rom. 13:12-13). Tóm lại, ý nghĩa của việc chay tịnh trong đạo Công giáo mang ý nghĩa chế ngự dục lực phần xác để phát huy sức mạnh tâm linh. Vì thế, chay tịnh thường đi kèm với cầu nguyện và việc bác ái.

Theo luật Maisen, người Do thái chỉ ăn chay mỗi năm một lần, vào dịp lễ Ðền Tội (Qippoeur). Theo lời phân trần của người Pharisiêu tự phụ trong Phúc âm: "Tôi ăn chay mỗi tuần hai lần" (Lc. 18:12), ta biết nhóm Biệt phái ăn chay mỗi tuần hai lần. Thường là vào ngày thứ Hai và thứ Năm.

Khi các môn đệ bắt đầu ăn chay, các ngài chọn ngày thứ Tư và thứ Sáu. Mục đích nguyên thủy của việc chọn hai ngày này chỉ đơn thuần là để tách biệt với người Pharisiêu giả hình. Sách Didache, sách giáo huấn và luân lý của Giáo Hội tiên khởi có viết: "Ðừng ăn chay như phường kiêu ngạo. Chúng ăn chay ngày thứ Hai và thứ Năm. Anh em hãy ăn chay ngày thứ Tư và thứ Sáu" (Chương VIII, câu 1).

Ngoài ra, ngày thứ Sáu còn là ngày tưởng nhớ cuộc thương khó của Chúa. Cho nên, truyền thống Giáo Hội chọn kiêng khem, chay tịnh trong ngày ấy thật chính đáng. Ăn chay trong ngày này nói lên việc cùng chết với Chúa trong thân xác để cùng vượt qua với Ngài cho đến sự sống mới. Việc ấy cũng là ý niệm chủ lực của cả Mùa Chay dài 40 ngày trước lễ Phục sinh.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com