TỰ THUẬT

(Kỳ 43)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

Nhỡ Nhàng

Ngày 16-7-1944.

Sáng ngày ấy con dự và rước lễ một cách sốt sắng, mừng lễ Ðức Mẹ núi Carmêlô. Con xin Ðức Mẹ giúp con sống một đời tu bền bĩ; ở đó Mẹ hãy giúp con sống một đời mật thiết với Giêsu con Mẹ, theo đúng như lời mẹ con đã dặn ngày hôm qua.

Con đến bấm chuông cửa nhà "Tu Hạnh Phúc" vào hồi 9 giờ sớm. Cha Létourneau ra tiếp rước con một cách ân tình, nhưng ngài không khỏi bỡ ngỡ vì thấy con còn bé bủn quá. Mặc dầu, người cứ vui vẻ hỏi con:

- Con có phải là người ở Hữu Bằng, mà cha đã hẹn đến không?

- Trình cha vâng ạ.

- Con bao nhiêu tuổi?

- Con đã mười sáu ạ.

Cha nghiêng ngửa đầu vài cái, rồi mỉm nói bằng một dọng đùa:

- Nếu cha không nhầm, thì con đã có một tí gì giả dối, phải không?

- Dạ, thưa cha con đâu dám thế ạ.

Cha Létourneau mở cửa nhìn ra phía trước vừa hỏi con:

- Có ai đưa con tới đây không?

- Trình cha không ạ, vì nhà con xa, lại nghèo nữa, nên không thể tiễn con đi xa được, nên con phải đi một mình.

Cha Létourneau không hỏi gì hơn nữa, người đóng cánh cửa lại, rồi đi vào mở cửa trong, và dẫn con vào nhà dòng.

Cửa tu viện xập lại, thế là con đã in trí rằng: thuyền đã đến bến.

Nào ngờ!

Cha Létourneau dẫn con lên phòng tầng trên để chào cha bề trên, khi ấy là cha Couture. Nhưng cha bề trên không có ở phòng, ngài đang phòng tạp chí với mấy cha khác. Cha Létourneau đưa con lại đó, và ở đây con lại bị chất vấn một lần nữa.

Vừa thấy con, cha bề trên cũng như mấy cha đang có mặt, không khỏi ngạc nhiên, vì thấy con còn bé quá "trop petit!"

Cha bề trên hỏi con:

- Con được mấy tuổi?

- Bẩm cha con mười sáu ạ.

Lắc đầu, người bảo:

- Có lẽ người ta đã rửa tội cho con bốn năm trước khi con sinh.

Các cha cười ồ cả lên. Con cũng phải nín cười; nhưng con cảm thấy bẽn lẽn hơn là nực cười.

Cha bề trên lại hỏi tiếp:

- Con đã có học hành gì chưa, và đã thi đến bằng nào rồi?

- Bẩm, con vẫn đi học tự nhỏ, và con đã thi bằng sơ học được bốn năm nay.

- Con có biết tiếng Pháp ít nhiều không?

- Bẩm con đã có học ít nhiều, nhưng chưa thạo lắm.

- Nếu con muốn cha sẽ gửi con vào Ðệ tử ở Huế, ở đấy con sẽ tiếp tục học, rồi sau nếu Chúa muốn con sẽ làm thầy cả?

Ðến đây, con cân nhắc những lời chị thánh Têrêsa đã nói với con hôm nào: Em sẽ không làm linh mục. Với điều kiện rộng rãi cha bề trên vừa mới cho tùy ý con lựa chọn. Trong hai điều, thế nào con cũng phải chọn một. Nếu con thưa với cha bề trên rằng: con muốn thế. Tất nhiên con đã đánh lừa ngài, vì con biết sự con đã biết. Ðàng khác, nếu con thưa: Không muốn, thì cha bề trên sẽ cho con trở lại nhà quê, và phải chịu một thời hạn khi nào con lớn khá mới được nhận.

Trong khi ấy lòng trí con như búi tơ vò, không biết sẽ tính ra làm sao. Chợt con nhìn lên con thấy tượng Chúa đóng đanh treo trên tường phòng, và khi ấy, mắt tràn lệ, nhưng con đã can đảm thưa với cha bề trên:

- Chúa không muốn con làm linh mục.

- Tại sao con dám cả quyết như thế?

- Bẩm, vì con đang đeo đuổi để đạt đến mục đích ấy, nhưng nửa đường Chúa đã tỏ cho con hay, con phải đi theo con đường khác, rồi người chỉ con tới dòng này.

- Tốt quá, nếu con đã biết tìm theo ý Chúa một cách rõ ràng như thế rồi, thì thật cha có thể liệt con vào hạng những linh hồn đã sống gần gụi Chúa lắm. Nhưng cha rất tiếc, vì không thể nhận con ngay để cho vào giúp việc được, có lẽ con sẽ không chịu đựng nổi. Nên con cứ vui lòng trở lại một thời gian nữa, cho sức vóc của con được nở nang thêm, lên một tí nữa, chứ bây giờ thì còn nhỏ quá.

- Trình cha vâng, nhưng không khí ở thế sẽ không thể làm cho con lớn thêm lên được một tí nào, mà con dám chắc, nó sẽ chỉ làm cho con ốm yếu thêm, rồi có lẽ con sẽ chết trước ngày được cha cho vào dòng. Nên con van nài cha thương nhận con; cha đừng sợ giao cho con một công việc gì, dù nặng nhọc đến đâu. Với ơn Chúa, con sẽ đảm đang được hết.

Con vừa nói xong, cha bề trên còn tỏ vẻ suy nghĩ, thì ở phía góc phòng, có một cha đang ngồi coi nhật trình buột miệng nói:

- Kìa! còn nói giọng sữa mà..., người như thế kia, không chừng không mang nổi cái cán cuốc! Thế thì đảm với đang gì được?

- Trình cha vâng ạ, song con nói: với ơn Chúa thì...

Sau này con mới biết người là cha Sirois. Cha Létourneau ngắt câu nói của con bằng một dấu hiệu bảo con đi theo người.

Người dẫn con về phòng, hỏi con về đường đất, quê quán, rồi đưa cho con 5 đồng bảo con cứ chịu khó vâng lời các đấng bề trên, rồi để Chúa lo liệu cho. Người bảo con cứ trở về nhà, tập làm ăn công việc, rồi khi nào cha bề trên ưng thuận người sẽ cho biết tin ngay.

Ðến đây, con không còn tiếc gì nước mắt nữa. Con xách bao hành lý vừa theo cha Létourneau ra nhà khách, vừa khóc hu hu như con nít.

Cha Létourneau, vừa tươi cười, và với một giọng thân mật người chúc con đi về bằng yên.

Con vừa bước chân ra khỏi nhà khách, trời liền đổ mưa rào, như để chia sẻ nỗi sầu cùng con!

Ba tháng chờ đợi

Con trở về nhà, lòng khô như ngói, chỉ có nước mắt của con là không bao giờ khô. Nếu cứ trong tình trạng ấy, con có thể sẽ không hòng sống đến ngày được phúc bước vào dòng. Nhẽ ra con không thể khóc, vì con đã nhận ra là thánh ý Chúa muốn như thế. Thế mà càng những lúc hiểu như thế nước mắt của con càng tuôn ra như thác đổ.

Buồn!...

Nhưng khi con trở về nhà, và qua đi một dạo ráo riết, nhờ có mẹ nâng đỡ, thúc đẩy, con lại được phấn chấn, và đỡ được một phần chán nản.

Rồi cũng thời gian ấy, Têrêsa cũng lên tiếng yên ủi, và thôi thúc con mạnh dạn theo ơn Chúa cho đến cùng.

Khi được tin con phải trở lại nhà, và phải chờ đợi một thời hạn lâu, thày con đã tỏ ý bất mãn, rồi quyết định lại gửi con lên cha Jos Nhã và xin người cho con tiếp tục nghề học như trước. Mẹ con, lúc đầu cũng cho thế là nên. Nhưng vài hôm sau mẹ xét lại, và nhất là thấy làm như thế thì khổ tâm cho con quá, nên mẹ can thày đừng làm thế. Rồi mẹ lo liệu cho con trở lại ngay với các cha dòng nay mai, vì sợ nếu để con ở nhà lâu, có lẽ thày sẽ đổi ý nữa thì càng thêm khó lòng.

Nhưng khi vừa gỡ xong mối khó khăn này, thì lại vương phải sự khó lòng kia.

Ma quỉ lợi dụng lúc con ngao ngán, mà đến quấy rối con. Nó đưa đến cho con một lẽ, khiến con phải tưởng rằng việc con xin vào tu trong dòng Chúa Cứu Thế là một điều viễn vông và có một phần nào do sự ích kỷ xui nên.

Duyên do là vì mấy tháng trước đây, con cùng một người bạn ra viếng đền Ðức Mẹ, và tiện dịp chúng con vào nhà khách thăm một thày dòng quen thuộc.

Vì con đã có ý định đi tu dòng Chúa Cứu Thế, nên nhân cơ hội ấy, con có hỏi thăm thày về đời sống tu, và những cách sinh hoạt của các cha dòng ra thế nào.

Nhưng thày đã trả lời đại cương như thế này: Dòng Chúa Cứu Thế thì chẳng có gì là khó cả, vấn đề sinh sống rất dễ dàng đơn giản, ăn cơm tây, làm việc vừa sức.v..v...

Khi thày nghe con cũng dự định xin và giọng thày tỏ vẻ hơi buồn, và nói như có ý đe:

- ... Tu gì được?...

Hôm ấy, con thẹn thay cho thày, vì đi tu mà chỉ bô bô nói về truyện ăn.

Ăn cơm tây!

Thường thường người ta vẫn cho "ăn cơm tây" là sang, vì họ thường thấy "cơm tây" có nhiều bơ, nhiều thịt.v..v... Nên khi con vừa nghe thày nói đến "cơm tây" mà đã cảm thấy thèn thẹn, vì đi tu gì mà lại "ăn cơm tây."

Khi về anh bạn của con kể truyện lại cho mọi người nghe: Sinh hoạt của dòng Chúa Cứu Thế, chỉ là "ăn cơm tây." Do đó mấy thày giảng và bọn cậu bé ở Hữu Bằng cứ chế con rằng: Anh sắp đi tu dòng tây, ăn cơm tây, nói truyện tây, đánh tội tây, cái gì cũng tây cả, như thế thì anh phải tập "tây" ngay tự bây giờ đi chứ!

Con phải tự thú rằng, con rất hổ thẹn vì những lời chế diễu ấy. Rồi câu truyện "Ăn cơm tây" ấy cũng lại lọt vào tai thày con. Cho nên khi thày thấy con cứ cố quyết chí đi dòng Chúa Cứu thế thôi, chứ không chịu đi dòng nào khác nữa, thày liền mắng con:

- Mày chỉ thích vào dòng Chúa Cứu Thế để ăn cơm tây thôi phỏng?

Nhưng rồi các lý lẽ của con cũng đủ đánh đổ được những lầm tưởng ấy.

Thế mà cho đến một đêm, mất ngủ vì ngao ngán, ma quỉ đã lợi dụng thì giờ nằm không ấy để thử thách con một phen nữa. Nó đem tư tưởng con trở lại với vấn đề "Ăn cơm tây" mà chế diễu con. Nhưng nó đã đã làm một cách khéo, khiến con không dè đó là một cơn cám dỗ bỏ ơn kêu gọi. Bởi vậy con cứ ngẫm nghĩ mãi đến vấn đề vào dòng, để ăn cơm tây. Rồi con phát tự thẹn; con tưởng mình như đã có một ý không ngay chính. Thế rồi con đã sửa soạn quyết định thôi, chả đi tu dòng Chúa Cứu Thế nữa, kẻo rồi lại mang tiếng là vì thích ăn cơm tây mà vào dòng.

Than ôi! trong đêm vắng lặng ấy, con đã làm liều quyết định một điều hệ trọng, mà không tìm hỏi ý Têrêsa, người chị rất quí mến thường vẫn ở kề bên con.

Nhưng may, trong lúc dại dột ấy Têrêsa đã lên tiếng vạch rõ mưu toan chước quỉ cho đứa em đau khổ của chị hay, và bảo con vứt bỏ những tư tưởng ấy đi. Chị nói chắc chắn với con thế này:

- Chị không trách em của chị hèn tin đâu, nhưng chị cũng không ngần ngại bảo cho em hay rằng: Em chị rất ngờ nghệch, điều đáng lo thì không lo, còn những cái chẳng căn cứ vào đâu cả, thì lại cứ bo bo giữ lấy mà ngẫm nghĩ cho nên bối rối. Em nghe chị đi, em cứ vứt bỏ những tư tưởng càn bậy ấy đi. Em đừng tỏ ra quá ngây thơ bằng chứng vào những lời nói của một thày dòng, không có một chút tinh thần tu sĩ nào, để kết án cho cả một dòng tu. Thày đó bảo, vào dòng sướng vì ăn cơm tây, thì mặc kệ thày ấy. Một tu sĩ chỉ tìm cái sướng trong miếng ăn mà thôi, thì chỉ là một tu sĩ bê tha, tu sĩ miệng, hay hơn nữa là một thày tu xác.

Vào dòng có phải là ăn cơm tây mới là sướng đâu? Phần đó để khi em vào dòng rồi em mới dễ bề nhận xét, xem thử bữa "cơm tây" của tu viện nó có mỹ vị bằng những món em thường dùng không. Em hãy so sánh khi em đã vào dòng. Cần nhất là sau này đừng bao giờ em đòi ăn món tây hay là món ta, của nhà dòng cho thế nào thì chịu thế, còn tây hay là ta là số định của người dọn bữa.

Em đừng nghe ma quỉ chế diễu trong tuởng tượng mà hổ thẹn. Thật ra chúng đã biết "cơm tây" của nhà dòng nó mặn nhạt hay là mỹ vị đến thế nào rồi? Nhưng chúng chỉ muốn quấy rối em, làm cho em mất an tịnh, để rồi liệu chiều đưa em đi ngược với ý Chúa. Vậy nên, em đừng e sợ, cứ nghe chị vứt bỏ cái tư tưởng ấy đi, rồi ra em sẽ được toàn thắng.

Em cũng đừng ngạc nhiên vì thấy một thày dòng chỉ biết sinh hoạt trên bàn ăn, và cũng chỉ nói về ăn thôi. Ðó mới là một, nhưng sau này em sẽ còn thấy nhiều tu sĩ khác, hễ không được ăn ngon như ý họ là họ không bao giờ có thể giữ yên lặng được. Song em cũng đừng ngạc nhiên, vì như chị đã vừa nói với em. Chúng ta hãy liệt những tu sĩ ấy vào cái hạng bê tha, tu sĩ giả cầy.v.v.. Sở dĩ Chúa làm thinh để cho những tu sĩ ấy còn lại trong nhà Chúa, là vì để luyện đức nhẫn nại cho những tu sĩ lành thánh. Tất nhiên là Chúa cũng mong cho họ thành nên những con cái tốt lành, nhưng phần đông những hạng tu sĩ cố tật như thế, có cho thấy sự lạ cũng khó cho họ chừa được. Tốt phúc thì còn có thể bào chữa, là nếu họ còn có chút ngay lành, hành động một cách vô tâm. Nhưng đã thiệt mất bao là công phúc!

Em nhỏ yêu đương của chị ơi, em cứ yên lòng đi, chị hôn em và cầu chúc em cứ mạnh dạn tiến bước. Mai em cũng cứ thành thật thưa với thày mẹ rằng, em chỉ quyết theo một con đuờng đi dòng Chúa Cứu thế mà thôi.

Sáng hôm sau, em đã làm theo y lời chị thánh dặn bảo. Không ngờ, công việc đã êm thỏa một cách mau lẹ.

Mấy hôm trước mẹ còn phân vân, nhưng sau thấy con tỏ ý cương quyết như vậy, mẹ liền nao lòng và bảo con:

- Vậy thì em cứ đi, trên hay dưới, đông hay tây, hướng nào mà Chúa muốn em đến, là mẹ cũng chỉ nhằm theo hướng ấy. Ý Chúa làm sao thì lòng mẹ cũng ngỏ chiều như vậy.

Từ đấy cho đến ngày con được gọi lên ở dòng, bữa nào con cũng được xơi cơm tây như thế. Chỉ có khác một cái, là từ những bữa sau trở đi, thì cả ông bõ và con phải xơi cơm tây chung với nhau bằng một bình xúp, trộn lẫn tất cả mọi món vào, rồi mỗi người cầm một chiếc (cùi dề tây) muỗng, xúc đưa lên miệng; cũng có khi hai người mà chỉ có một cái muỗng, thay đổi nhau mà xơi. Mỗi bữa ăn xong, chúng con thay nhau tu vài hớp nước lã, chứa trong một chiếc lọ sành. Ðó là món đét-se độc nhất của chúng con...

Ngày nay hễ cứ nghĩ đến những bữa cơm tây ấy, con lại buồn cười và rơi nước mắt. Ðã mấy lần con định viết thư về tả cho mẹ hay những bữa cơm tây của con nhưng suy đi xét lại con lại thôi, chả nói đến làm gì, sợ mẹ ở nhà lại thêm tủi.

Xơi xong bữa cơm tây ấy, con vâng lời thày Philipphê ra vườn tìm ông bõ về dọn nhà. Vườn thì tứ phía là vườn, nên con chỉ biết đi vòng quanh cái vựa thóc mà người ta vừa dẫn con vào ở. Do đó con được biết thêm, dưới cái sàn con ở là hầm than, bên cạnh là chuồng gà, phía sân trước có hai cây bàng to lớn, mà vừa rồi khi đi qua con không để ý. Con lẩn thẩn lần ra phía sau, ở đấy chỉ có một cái lạch dài, mầu nước đùng đục, và xông lên một mùi nồng nực khó chịu, do rác bẩn ở chuồng bò thải ra. Bên kia lạch thì đồng ruộng mênh mông, xa xa có làng mạc, nhưng chẳng nên thơ chút nào. Con đứng ngắm cảnh nhà một tí, rồi tự dưng lòng sầu nổi lên, con phát nhớ nhà quá và chỉ muốn trở về...

Con đang ngao ngán nghĩ ngợi vu vơ như thế, thì đột nhiên có tiếng thày Philipphê gọi giật giọng ở trên gác:

- Văn! thằng Văn nó đi đâu rồi?

- Dạ con đây ạ.

Con chạy về, thì thấy thày Philipphê đã gọi ông bõ Ấu về rồi. Khi con đã lên đến gác, thày Philipphê oai vệ chống hai tay lên nạng rồi ra công tác cho chúng con:

- Ðây, ngay bây giờ, hai đứa thu dọn cái sàn này cho sạch sẽ đi, để tối mà ngủ với nhau.

Rồi thày còn cẩn thận dặn phải để vật gì ở chỗ nào, làm sao...v.v. Rút cuộc, rồi ra chúng con chả phải dọn với dẹp gì, vì thày Philipphê đã chỉ chỗ nằm của ông bõ là ở trên cót thóc, còn con thì thày ngả một tấm cánh cửa lên trên miệng một cái thùng tắm, rồi thày chỉ, đó là giường nằm của thằng Văn nghe chưa. Còn những đồ hành lý và áo xống của con thì thày quẳng vào vựa thóc cho chuột nó khỏi cắn.

Thế là cái sàn gác khi trước nó thế nào, thì sau khi thày Philipphê bảo thu dọn, nó vẫn còn y nguyên như thế, nghĩa là không mất một cái màng nhện nào.

Ông Ấu liếc nhìn con, rồi khoanh tay thưa thày rằng:

- Bẩm thày thế thì chúng con còn cần phải dọn dẹp gì nữa?

- Ừ, thì... không cần thì thôi.

Và thày hì hì quay đi như không cần để ý đến vẻ lãnh đạm của thày đối với chúng con nữa.

Từ nẫy, con vẫn tưởng đấy là một cha, đến khi nghe ông bõ "bẩm thày" rồi con mới phân biệt đó là thày. Nhưng con vẫn chưa khi nào hết ngạc nhiên, khi nào thấy con "bẩm thày" thì thày lại dễ nghiêm nghị hơn là khi con nhầm mà nói "bẩm cha." Nói "bẩm cha" thì thày vui lắm, và xin gì cũng được.

Lúc ấy con mới nhớ lại lời chị Thánh Têrêsa đã giải thích cho con trong đêm nọ.... Sẽ thấy nhiều thày dòng ăn ở một cách "cừ khôi" lắm... ngược hẳn với tinh thần tu sĩ. Thế là chưa bước chân vào dòng con đã gặp được hai thày dòng "cừ khôi" khác nhau. Người thứ nhất thì cho việc sinh hoạt của dòng Chúa Cứu Thế là dễ, chỉ toàn là ăn cơm tây thôi. Người thứ hai thì có một tư cách như "quan lớn" và chỉ thích người ta tôn xưng mình là "cha"; khi nói truyện thì phải bẩm, lậy, thưa trình, và phải có một cử chỉ khiêm cung như kể mình là trên hết, mới lấy làm dễ chịu.

Thật là hai cái kinh nghiệm quí báu, giá Chúa không để con qua những trường hợp như "ăn cơm tây" theo cái lối con vừa kể, và phải nghe truyền lệnh bằng những câu nói cứng cỏi, ngạo ngược kia thì đời nào mà kiếm ra cho được?

Nên đối với con đó là hai ơn trong những ơn quí Chúa ban cho, và do bởi lòng thương của người có điều động cho thì mới được.

(còn tiếp)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com