|
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ NƯỚC ÐỘC TÀI Á CHÂU Quang Việt
Vào đầu năm nay, nhiều người Việt Nam ở hải ngoại tỏ vẻ bực tức, phản đối việc Cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ của Việt Nam Cộng Hoà về thăm quê hương và tuyên bố nhiều câu ủng hộ đường lối độc tài của Nhà nước CSVN hiện nay. Ông cho rằng chế độ độc đảng CS trong giai đoạn hiện tại ở Việt Nam là có thể chấp nhận được vì như thế xã hội mới "ổn định" (!) để phát triển kinh tế. Ông còn đem trường hợp các nước Singapore, Thái Lan, Ðại Hàn và Ðài Loan như là ví dụ điển hình cho lập luận của ông. Thật ra, những câu nói vớ vẩn của ông Kỳ cho thấy ông chẳng biết gì về chính trường quốc tế và chỉ nhai lại luận điệu về độc tài và phát triển đã được nhà nước Cộng Sản Việt Nam nêu lên từ lâu như một biện minh cho đường lối cai trị của mình. Giới cầm quyền CSVN hay nói đến sự phát triển của Singapore, Ðài Loan và Ðại Hàn như là khuôn mẫu cho họ. Rồi họ còn nhờ ông Lý Quang Diệu, thủ tướng đầu tiên của Singapore làm minh sư nhưng sự thật ra sao? Trong cuốn hồi ký "From Third World to First: The Singapore Story 1965-2000" (Từ Thế Giới Thứ Ba Thành Thế Giới Thứ Nhất: Câu Chuyện Singapore 1965-2000) của Nhà Xuất bản Harper Collins in tại New York 2000, ông Lý Quang Diệu kể lại việc đó như sau: Vào năm 1990 tại diễn Ðàn kinh tế thế giới thành phố Davos (Thụy sĩ) Võ Văn Kiệt lúc đó là đệ nhất phó thủ tướng Việt Nam xin gặp tôi nói rằng có thể bỏ qua những bất đồng và cùng nhau hợp tác. Kiệt cũng nói rằng đang có những cơ may cho việc làm ăn: Chính quyền Việt Nam đã sẵn sàng cấp ra 100 môn bài cho các hàng ngoại quốc muốn đầu tư. Ông Diệu cho Kiệt biết, có cấp đến 1000 môn bài cũng vậy thôi. Kinh tế Việt Nam chỉ có thể ngóc đầu lên được khi nào Hoa Kỳ cho phép Ngân Hàng Thế Giới cho Việt Nam vay tiền tái thiết và những đại ngân Hhàng Hoa Kỳ chấp nhận Việt Nam là nơi làm ăn được. Tháng 10-1991 Việt Nam và các nước ký vào hiệp định Balê để rút quân khỏi Campuchia. Chỉ một tuần sau, Kiệt, lúc đó đã lên Thủ Tướng sang thăm Singapore và mời Lý Quang Diệu, đã từ chức Thủ Tướng, đang giữ chân bộ trưởng lão thành trong chính phủ, làm cố vấn cho Việt Nam. Sau hai bức thư tha thiết mời của Võ Văn Kiệt, Lý Quang Diệu mới sang thăm Việt Nam và đưa ra nhiều lời cố vấn cho các tay đầu sỏ lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Một trong những khuyến cáo của Lý Quang Diệu cho Kiệt là hãy mời các nhà kinh doanh Việt Nam tỵ nạn trở về làm ăn và phát triển đất nước. Các lãnh tụ cộng sản vẫn sợ CIA cho người cài vào những nhóm Việt kiều đem vốn, đem tài về, nhưng cũng phải theo lời khuyên của ông Lý. Chính vì thế, họ luôn luôn tìm người này, người kia hâm nóng sự xóa bỏ hận thù, kêu gọi Việt kiều đưa vốn, đưa tài về giúp nước. Họ đã đưa Singapore, Ðài Loan, Nam Hàn ra làm điển hình. Ðộc tài chính trị vẫn phát triển kinh tế được, vì 3 nước Châu Á độc tài kia đều là 3 con rồng nhỏ của Châu Á về kinh tế. Như vậy, Cộng sản Hà nội đã có ý nói rằng nước độc tài nào cũng như nhau: Cá mè một lứa hết. Thưa không! Họ khác Việt Nam muôn phần. Trường Hợp Singapore
Ðây là những điều tóm tắt: - Singapore có đạo luật An ninh nội chính (Intenal Security Act: ISA) cho phép chính phủ cầm giữ một công dân mà không cần đem ra xét xử. - Tất cả các phương tiện truyền thông nhật báo, TV, Radio đều là của nhà nước. - Các nghiệp đoàn đều nằm trong quyền điều khiển của một bộ trưởng dưới tổ chức được gọi là National Trade Union Congress. - Tòa án luôn luôn về phe chính phủ, đưa ra những số tiền phạt khổng lồ khiến cho những người đối lập bị chính quyền kiện không thể nộp được mà phải khai phá sản, hết phương tiện hoạt động chống đối về tài chánh. Lý Quang Diệu bị tố cáo giữ chức chủ tịch đầu tư của chính phủ có quyền điều hành quỹ dự trữ quốc gia và có thể đem tiền ra ngoài đầu tư trên toàn thế giới. Con của Diệu là Lý Hồng Long có thể sẽ là thủ tướng tương lai đang giữ chức Chủ Tịch Ngân Khố của Singapore và là Bộ Trưởng Tài Chánh, cô vợ là người kiểm soát nhóm công ty lớn nhất của nhà nước. Trước những công kích về lối cai trị độc tài ở Singapore từ một số người từng ở Singapore như trường hợp Bác sĩ Chee Soon Juan nêu trên, ông Lý Quang Diệu trong cuốn hồi ký đã trích dẫn, nói rõ về đường lối cai trị của ông. Ông tự nhận mình là một người theo chủ thuyết xã hội, muốn có một xã hội công bằng chứ không phải một xã hội ăn bám vào tiền trợ cấp của chính phủ. "Ðiều bận tâm trước hết của tôi là mọi công dân đều được dự phần vào trong với đất nước và cho tương lai của họ. Tôi muốn một xã hội mỗi người làm chủ căn nhà của mình. Tôi đã nhìn thấy cảnh sống trái ngược của những người sống trong các chung cư nghèo nàn, không săn sóc với những khu nhà có chủ riêng hãnh diện về tài sản của mình." Bởi vậy ông không chấp nhận tình cảnh của một xã hội ai thắng người đó hưởng như một xã hội Hồng Kông thập niên 1960. Khi có ước vọng tạo dựng một xã hội công bằng (không có người nghèo) như thế, ông cũng nhận thấy rằng người dân ở những vùng thủ đô thường hay có thái độ chống báng đường lối và chính sách của nhà nước do sự hướng dẫn của các cơ quan truyền thông và như vậy xứ sở không có sự ổn định chính trị cần thiết. Do đó, ông quyết định chính phủ phải đảm trách tài chánh, đầu tư, truyền thông. Ông cho biết chương trình gia cư của ông thành công một cách cụ thể: Năm 1967 chỉ có 3000 đơn xin mua gia cư, đến năm 1996 có tới 70000 dơn vị gia cư được bán ra. Ông cũng chủ trương rằng phải có một chính phủ sạch, do đó ông sử dụng các con, dâu của ông vào những chức vụ quan trọng vì họ là những người ông biết rõ khả năng và ông có thể kiểm soát được. Tất nhiên người ta không thể nói về tham nhũng tại Singapore vì thực sự chính quyền đã làm việc về công ích. Về điểm này, Việt Nam Cộng Sản không thể đem mình mà so sánh với Singapore được. Từ một chính phủ sạch đến một nền kỷ luật nghiêm minh thì đó là một ưu điểm chứ không thể gọi là độc tài. Tại Việt Nam, tham nhũng, hối lộ chỉ bị trừng trị khi một cán bộ cộng sản không có người quyền thế đỡ đầu. Bọn cán bộ Thừa Thiên chiếm đất của tu viện Thiên An. Có ai phân xử mặc dầu tu viện này có đủ giấy tờ chứng minh chủ quyền? Ðất của khu thánh địa La Vang Quảng Trị cũng bị chúng lấn chiếm. Hành động tàn ác như vậy mà Cộng Sản Việt Nam tự xếp hạng mình với chính quyền Singapore sao được. Phải chăng Cộng Sản Việt Nam muốn đem những hành động này gọi là "quyền hành" để so sánh với lệnh của tòa án Singapore đánh đòn một tên học sinh Mỹ từ tiểu bang Ohio dùng sơn vẽ bậy lên xe của người khác trên bãi đậu xe tại Singapore đều là nghiêm minh như nhau? Không thể lẫn lộn đàn áp và nghiêm minh được Ðiều quan trọng nhất của nền Dân chủ là bầu cử tự do. Các nhà phê bình khó tính của Tây phương không thể bắt bẻ về sự trong sáng trong các cuộc bầu cử tại Singapore. Ðại đa số người Hoa (85% dân số) cũng bỏ phiếu cho chính quyền của Lý Quang Diệu để họ có một chính quyền nghiêm minh biết lo cho dân thì sao lại gọi chính quyền này là độc tài? Nói thế là cố tình đem những điều thi hành nghiêm minh luật pháp gán ghép và đánh lận với những hà hiếp, cửa quyền của một chính quyền chỉ biết đến quyền lợi của phe nhóm, đảng viên của mình mà thôi. Trường hợp Ðài Loan Ðài Loan là một trường hợp xâm lăng của người Hán đối với người địa phương. Chính sách cai trị của giới cầm quyền thay đổi tùy theo tình hình. Thời nhà Thanh, Ðài Loan không mấy được chú trọng. Một điểm xứ này có liên hệ với người Việt Nam chúng ta, đó là ông Lưu Vĩnh Phúc, chủ tướng nhóm giặc Cờ Ðen giúp ta chống Pháp ở Bắc Kỳ. Sau khi nhà Thanh ký kết với Pháp để rút lui ảnh hưởng ra khỏi Việt Nam thì Lưu Vĩnh Phước được sai sang làm quan tại Ðài Loan. Khi Nhật Bản thực hiện chính sách bành trướng, năm 1895 Ðài Loan bị Nhật chiếm cứ và đồng hóa với chính quốc về nhiều phương diện. Bởi vậy Tổng Thống Trần Thủy Biển đương thời của Ðài Loan nói tiếng Nhật giỏi hơn tiếng Quan thoại. Khi Thế Chiến 2 sắp sửa chấm dứt, tại Hội Nghị Cairo 1943 của phe đồng minh, do lời yêu cầu của chính quyền Quốc Dân Ðảng Tưởng Giới Thạch, Trung Hoa được "tạm thời" cai trị đảo Ðài Loan. Từ đó Trung Hoa mới lại có chủ quyền trên phần đất này nhưng người dân Ðài Loan coi người Hán là những kẻ xâm lăng. Quả thực trong giai đoạn đầu, người của Tưởng Giới Thạch từ lục địa ra cai trị một cách tàn bạo. Biến cố ngày 28-2-1947 là một bằng chứng. Một người đàn bà Ðài Loan bán thuốc lá cho quân đội Quốc Dân Ðảng bị quân cảnh Tàu tố cáo là bán thuốc lá giả hiệu và bắn chết. Dân chúng tràn ra đường biểu tình phản đối. Quân đội Tưởng Giới Thạch thẳng tay đàn áp. Tất cả trí thức của Ðài Loan đều bị tàn sát. Những nhà tranh đấu cho Ðài Loan độc lập cho rằng con số bị giết lên đến 20.000 người. Ðến năm 1949, Trung Hoa Quốc Dân Ðảng bị quân Cộng Sản Mao Trạch Ðông đánh bại, kéo nhau chạy hết ra Ðài Loan. Khi tới đảo, Tưởng Giới Thạch phải củng cố nội bộ, tận diệt tham nhũng. Từ đó chính quyền nâng đỡ người dân để cùng phát triển. Khi có sự phấn khởi trong quần chúng, kinh tế phát triển mau lẹ. Từ thập niên 60 người nông dân Ðài Loan ra đồng làm ruộng với máy móc, đi ủng, đeo găng, không phải chân lấm tay bùn như người dân Việt của thế kỷ 21 dù đã hòa bình gần 30 năm rồi mà vẫn con trâu đi trước, cái cày đi sau, nông dân vẫn xơ xác đói khổ. Thiết tưởng ta cũng hiểu được Ðài Loan bị mang tiếng độc tài vì đường lối chống cộng bắt buộc của họ. Tất cả những hoạt động có lợi cho Cộng Sản đều bị nghiêm cấm và triệt hạ. Nếu ai không liên hệ gì đến Cộng Sản, họ được tự do phát triển và hưởng thụ. Ngày 30.1.2004, khi Ðức Gioan Phaolô II tiếp đón ông Tân Ðại Sứ Chou Seng Tou của Ðài Loan bên cạnh Tòa Thánh, ÐTC ca ngợi tình trạng tự do tôn giáo của Ðài Loan và ngài mong xứ sở này là tấm gương cho các nước Châu Á về tinh thần bao dung tôn giáo. Tại Việt Nam thì sao? Chính vì người dân Ðài Loan được hưởng sự bảo đảm của chính quyền về tự do phát triển nên nền kinh tế của họ đang vững mạnh và họ thoát được cuộc khủng hoảng tài chánh Á Châu 1997. Hiện nay mậu dịch thặng dư của xứ này với Hoa Kỳ là 84 tỷ Mỹ Kim, hơn hẳn Nhật Bản. Chúng ta lưu ý rằng Trung Cộng cùng đang trên đà phát triển, nhưng tất cả đều nằm trong tay kiểm soát của các đảng viên Cộng Sản. Họ dám giết tù, cắt lấy các bộ phận đem bán đi lấy tiền. Ðó là loại phát triển quỷ ma, đâu phải con người. Chúng ta cũng lưu ý rằng biến cố Cao Hùng năm 1979 được coi là khúc quanh của Ðài Loan cho nền dân chủ mà ngày nay họ hưởng được. Từ tháng 10-1979, người dân Ðài Loan không thua bất cứ nước dân chủ tây phương nào về mặt nhân quyền. Ðời sống người dân Ðài Loan thăng hoa về mọi mặt chứ không phải chỉ có kinh tế. Trường Hợp Ðại Hàn Dân Quốc Khi Lý Thừa Vãn, người từng có công trong việc xây dựng độc lập của Nam Hàn, làm Tổng Thống từ 1948-1960 thì tình trạng tham nhũng mỗi ngày một gia tăng. Thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm (1954-1963) còn cai trị Việt Nam Cộng Hòa, ông cử phái đoàn sang thăm Hàn Quốc. Phái đoàn tham dự khánh thành ngôi trường tiểu học do viện trợ Mỹ cung cấp tài chánh. Một ngày sau đi qua ngôi trường mới khánh thành hôm trước, phái đoàn Việt Nam thấy ngôi nhà chỉ còn lại cái sườn và tường chung quanh. Mái và cửa đã bị người ta lấy đi mất. Ðầu thập niên 60, Nam Hàn đã đi đến tình trạng hỗn loạn và biểu tình khắp nơi đến nỗi Tổng Thống Lý Thừa Vãn phải từ chức. Một thời gian ngắn chuyển tiếp của giới cầm quyền dân sự tiếp theo (1960-1961) nhưng cũng không cứu vãn nổi tình hình để rồi phe quân nhân do Tướng Phác Chính Hi cầm đầu cuộc đảo chánh năm 1961 với sự ủng hộ của dân chúng lên đến 78.8% trong cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 10/1962. Một hiến pháp mới ra đời trao hầu hết quyền hành cho tổng thống. Nhưng Phác Chính Hi, một vị tướng 4 sao của quân lực giữ chức quyền tổng thống từ tháng 3-1962, khi ra tranh cử chức tổng thống vào tháng 10-1963, cũng chỉ thắng đối thủ được 1.5% số phiếu. (Phác Chính Hi thuộc Ðảng Dân chủ Cộng hòa được 46.6% phiếu; Yun Po-Son của Ðảng Tân Dân Chủ được 45.1% số phiếu). Trong Quốc Hội, phe chính quyền Phác Chính Hi chiếm được 110 ghế trên tổng số 175 ghế. Các nhà phê bình chính trị nhận xét trong giai đoạn từ 1963 đến 1971 Ðại Hàn vẫn còn được cởi mở. Các nhóm đối lập vẫn có quyền phê bình nhà nước, các cơ quan ngôn luận, báo chí riêng, có quyền tổ chức hoạt động. Bởi vậy trong năm 1965, chính quyền Ðại Hàn bình thường hóa ngoại giao với Nhật Bản và gởi 45,000 quân sang chiến đấu ở Việt Nam để lấy đô la của Mỹ về xây dựng kinh tế đã bị sinh viên biểu tình chống đối mạnh. Tuy nhiên không có thiệt hại gì đáng kể. Chính trong giai đoạn này, Phác Chính Hi đã xây dựng được một tinh thần phục vụ cao độ cho tổ quốc trong quân đội và trong quần chúng ông dùng tinh thần võ thuật Tae-Kwan-do để hun đúc tinh thần quốc gia cho thanh thiếu niên. Chúng ta nhìn thấy những người tranh tài thể thao, nhất là võ thuật, xông vào đối thủ, mặc dù nguy hiểm, để đem chiến thắng về cho mình và làm vinh dự tổ quốc. Có người đã bỏ mạng chính là từ phong trào này. Bằng việc tham chiến tại Việt Nam, người Nam Hàn đã lãnh lương của Hoa Kỳ và cũng cũng chia phần tài nguyên của Việt Nam để làm giầu cho tổ quốc. Trên bờ biển Việt Nam, mỗi tầu đánh cá Ðại Hàn có 1 kỹ sư ngư nghiệp Việt Nam đi theo. Báo cáo của các kỹ sư này cho biết họ không hề đụng đến 1 con cá tươi kéo từ lưới lên nấu ăn. Họ chỉ ăn lương khô, đồ hộp. Họ nói rõ mục tiêu là làm giầu cho đất nước. Kết quả của tinh thần quốc gia làm cho họ trở thành con rồng tại Châu Á. Từ hiện tượng trường học xây xong thì tôn bị rỡ, cửa bị tháo, xảy ra vào năm 1962 cho đến hơn một thập kỷ sau đó, chúng ta thấy tinh thần yêu nước (cụ thể) của người Ðại Hàn đã nâng sự phát triển lên mau lẹ chứ không phải bởi "tinh thần yêu xã hội chủ nghĩa" như tại Việt Nam hiện nay. Ðây là một vài con số để chúng ta so sánh sự phát triển của Ðại Hàn. Về số dân làm ruộng, đánh cá, tỉ lệ này là 58.7% (1970) rồi giảm xuống còn 50.4% (1970) và 38.4% (1978). Trong khi đó, tỉ lệ những người làm trong ngành thủ công nghệ là 10.3% (1965) tăng lên 35.2% (1970) rồi 38.4% (1978) Về mặt giáo dục, có 33% trẻ em theo học cấp 2 (1960) và tăng lên 53% (1970) rồi 74% (1975). Kết luận Ba nước được các nhà cộng sản Việt Nam đem ra ví von, coi như giống mình, thì cả 3 nước đều phát triển với những điểm không thể có ở xã hội Việt Nam đương đại. Cả 3 nước đều sạch tham nhũng. Cả 3 nước đều lấy phúc lợi của dân làm chủ đích. Ngược lại tại Việt Nam lấy việc phục vụ đảng là chính. Tiền dân đóng thuế, mua xe cho cán bộ đảng. Tiền nhà nước, xây trụ sở cho cán bộ đảng. Gần 30 năm hòa bình rồi, đảng đã thúc đẩy giáo dục đến đâu? Tại Ðài Loan với dân số gần bằng ¼ của Việt Nam, số sinh viên ra trường thống kê là: Cao học - Năm 1990 có 17,935 tân khoa và năm 1998 có 43,025 tân khoa. Tiến sĩ - Năm 1990 có 4437 tân khoa và năm 1998 có 10,845 tân khoa. Và đây là con đường giáo dục của Ðại Hàn đạt được khi nhìn đến tỷ lệ học sinh có bằng cấp Ðại học 4 năm: 1970 1980 1990 1998 31.9% 44.0 46.0 83.7 Như thế, đại học 4 năm được coi là tiêu chuẩn tối thiểu cho toàn thể học sinh, sinh viên Ðại Hàn. Trong lúc đó, sĩ số sinh viên du học riêng tại Hoa Kỳ của Ðài Loan năm 2001 là 28,000 người. Mỗi năm trung bình có 12,000 tân sinh viên Ðài Loan tới Hoa Kỳ. Tiêu chuẩn giáo dục của Singapore còn cao hơn nữa. Năm vừa qua, cựu thống đốc Gray Davis của California bỏ vào ngân sách tiểu bang 500 triệu Mỹ kim để các trường công lo phát triển computer trong chương trình học. Tại Singapore, chính quyền xứ này bỏ ra 11 tỷ Mỹ kim để lo phát triển chương trình này mặc dầu Singapore có ít học sinh hơn California nhiều. Việt Nam xuất cảng đa phần là sản phẩm từ canh nông, chài lưới. Ngược lại, 3 xứ nói trên xuất cảng máy móc, thiết bị với kỹ thuật cao. Việt Nam phải bán 1 tấn gạo để mua một máy ảnh trung bình hiện đại của người ta. Xem thế, giới cầm quyền CS Việt Nam nhận mình độc tài, nhưng chưa thể theo được gót phát triển kinh tế của những nước Châu Á kia đâu bao lâu mà giới cầm quyền dùng chế độ độc tài đảng trị không phải để lo cho dân, cho nước mà mà để tham nhũng, hối lộ và bòn rút tài sản quốc gia để mặc cho người dân đói khổ. THU NHẬP BÌNH QUÂN ÐẦU NGƯỜI HÀNG NĂM Singapore: 36,979 Mỹ kim (1999) Ðài Loan: 13,248 Mỹ kim (2000) Nam Hàn: 9,511 Mỹ kim (1997) Việt Nam: 320 Mỹ kim (1997)
Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |