Sống Thanh Khiết
trước Những Hấp Lực Ðồng Phái Tính

 Cao Tấn Tĩnh  (chuyển ngữ)

LTS: Những diễn biến mới đây tại Hoa Kỳ qua vụ Tối Cao Pháp Viện tiểu bang Massachusetts vào tháng 11 năm ngoái buộc tiểu bang này phải cho phép những người đồng tính luyến ái kết hôn với nhau và ông thị trưởng Gavin Newsom thành phố San Francisco hôm 12/2 cấp giấy hôn thú cho những cặp đồng tính đã cho thấy một lần nữa xu hướng bệnh hoạn của một số người muốn đảo ngược trật tự luân lý tự nhiên mà Thiên Chúa đặt để nơi con người. Vì thế, điều quan trọng là những người Công Giáo hãy có một sự hiểu biết rõ ràng cùng một đức tin kiên vững trước những trào lưu tội lỗi muốn làm băng hoại xã hội. Hy vọng bài viết dưới đây sẽ giúp độc giả Báo Mẹ có một nhận thức rõ ràng hơn về "cơn dịch đồng tính luyến ái" hiện đang lan tràn ở Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới.

Khi cuốn Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo vừa xuất bản bằng Anh ngữ vào giữa năm 1994, chậm mất 1 năm rưỡi, (vì cần phải dịch lại theo đúng ý Giáo Hội chứ không được dịch theo kiểu ngôn ngữ bao gồm - inclusive language), tôi đã mua đọc ngay và còn giới thiệu với một người bạn cũng rất yêu thích giáo lý. Không ngờ, có một lần, tôi đã nhận được cú điện thoại của người bạn này phê bình nặng lời về cuốn Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo này. Bởi vì, người bạn này cho rằng cuốn Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo mới này sai lầm ở chỗ bệnh vực thành phần đồng tính luyến ái. Anh đã trích lại nguyên văn lời trong Sách Giáo Lý mà anh cho rằng tỏ ra bênh vực thành phần đồng phái tính đó là câu: "họ không muốn tình trạng đồng phái tính của mình" (khoản 2358).

Tôi đã cố gắng phân tích cho anh nghe theo như tôi hiểu những chữ Giáo Lý này. Tôi nói với anh ấy rằng cần phải phân biệt "tình trạng" (condition) và "tác hành" (behavior) đồng phái tính. Về "tình trạng" đồng phái tính là những gì thuộc về tự nhiên, như những tính mê nết xấu trong con người bị nhiễm lây nguyên tội, Giáo Lý chỉ công nhận sự kiện bẩm sinh không thể chối cãi này nơi một số người thôi, thành phần mà chính họ dù không muốn cũng vẫn có những khuynh hướng bất thường này. Tuy nhiên, cho dù có những khuynh hướng bẩm sinh đồng tính này, con người vẫn không được vì thế mà sống theo hay có những tác hành theo khuynh hướng vô luân ấy. Ðó là lý do, về "tình trạng" đồng phái tính, cũng trong cùng một khoản Giáo Lý này, Giáo Hội khuyên phải tôn trọng thành phần đồng phái tính. Tuy nhiên, về tác hành đồng tính, ở khoản trước đó, 2357, Giáo Lý đã liệt kê nó vào những "tác hành tự bản chất lăng loàn" và sau đó, 2359, Giáo Lý đã kêu gọi thành phần đồng phái tính "sống thanh tịnh". Tuy nhiên, người bạn này, ngay bấy giờ vẫn không chịu lập luận của tôi, cho tới khi anh nghe thấy một vị linh mục người Mỹ giải thích giống như tôi.

Hôm Thứ Bảy 10/1/2004, trong một cuộc gặp gỡ các em Thiếu Nhi tuổi từ 14-18, ở một cộng đoàn thuộc TGP/LA, có một em gái cho tôi biết rằng, em có một người bạn (trai hay gái tôi không hỏi kỹ) sống đồng tính luyến ái, nhưng rất hối hận, thậm chí cảm thấy tội lỗi của mình quá nặng nề, đến nỗi Chúa không thể nào tha thứ cho được. Người bạn của em ấy đã thất vọng và có ý muốn tự tử. Tôi đã cho tất cả nhóm giới trẻ bấy giờ trên 40 em biết bốn điều sau đây.

Thứ nhất, về ý thức tội lỗi, người bạn được nhắc đến ấy đã công nhận tác hành (behavior) đồng tính là tội lỗi. Thứ hai, về tác hành tội lỗi, người bạn đồng tính ấy cảm thấy tác hành đồng tính của mình quá tội lỗi đi, vì có thể làvì em ấy có những hành động tính dục đồng tính và sau đó cảm thấy hành động đó thật là ghê tởm, hoàn toàn phản tự nhiên. Thứ ba, về lòng tin tưởng nơi Thiên Chúa, ở chỗ, tội lỗi của chúng ta, dù có tầy trời đến đâu chăng nữa, cũng không thể bao la vô cùng như tình thương vô biên của Thiên Chúa; nếu chúng ta không tin vào tình yêu nhân hậu của Chúa là chúng ta phạm đến Ngài nhất, phạm đến Ngài còn hơn tất cả mọi thứ tội lỗi khủng khiếp khác của chúng ta nữa. Và thứ bốn, về tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa, Thiên Chúa yêu thương mỗi một người chúng ta chứ không phải chỉ yêu chung nhân loại và chẳng biết từng người chúng ta là ai; đó là lý do Phúc Âm Thánh Luca cho chúng ta thấy Chúa đã đi tìm con chiên thứ 100 duy nhất, và Phúc Âm Thánh Gioan cũng đã cho chúng ta biết Chúa đã cố ý ngồi chờ người phụ nữ Samaritanô tội lỗi bên bờ giếng Giacóp vào giờ chị có thói quen ra kín nước vắng người để làm cho chị tin vào Người mà bỏ đường tội lỗi.

Nguyên việc người bạn đồng tính của em Thiếu Nhi Fatima hỏi tôi nhận thức được cái trầm trọng hết sức nơi tác hành vô luân của mình cũng là một tác động thần linh để em ấy trở về với Chúa chứ không phải để em ấy sợ Ngài và mất Ngài đời đời. Bởi vì, chỉ khi nào con người nhận mình có lỗi họ mới có thể cải thiện được mà thôi, như trường hợp điển hình dưới đây, một con người đã trải qua kinh nghiệm đầy mình và đã có những lời khuyên rất chí tình gửi đến thành phần đồng phái tính.

Ký giả David Morrison, ở Arlington Virginia, đã từng sống đời đồng tính nhưng đã trở về sống thanh tịnh như một người trở lại Công Giáo, và là tác giả cuốn "Beyond Gay" (Bên Trên Cuộc Ðồng Tính Nam Nhân) do Tuần San Our Sunday Visitor xuất bản, hiện là sáng lập viên và điều hành viên Mạng Ðiện Toán Can Trường. Anh đã chia sẻ cảm nghiệm của mình với màn điện toán Zenit về cách thức sống thanh tịnh đã giúp giảm bớt mức độ của những thứ hấp lực đồng phái tính sau đây.

Vấn: Anh nghĩ anh điều gì đã góp phần vào những thứ hấp lực đồng phái tính của anh?

Ðáp: Cho dù những thứ hấp lực đồng phái tính gây ra do di truyền hay yếu tố gi truyền, hoặc phát xuất từ những trục trặc về liên hệ trong cuộc sống thiếu thời cũng đều gây ra một trong những tranh luận càng gay go về khoa học hiện nay. Tiếc thay, vấn đề bàn cãi này lại có khuynh hướng đi trệch khỏi những gì thuần khoa học và đánh thẳng vào chủ đề mà là đi vào một lãnh vực văn hóa bao rộng, theo tôi nghĩ, là lãnh vực vấn đề này khó lòng có thể tránh nổi. Riêng trường hợp của mình, tôi tin rằng những trục trặc về mối liên hệ quan trọng với cả hai bố mẹ của tôi, cũng như với các thứ bạn bè của tôi, đã góp phần vào việc phát triển những thứ hấp lực đồng phái tính nơi đời sống của tôi cũng như nơi nhân cách của tôi. Tôi không trách cứ cha mẹ tôi tí nào cả; các vị trở thành con người các vị là theo như những gì các vị được dưỡng dục cũng như theo những gì các vị đã cố gắng hết sức để nuôi dưỡng tôi. Thế nhưng, về vấn đề tình cảm thì bố tôi rất xa cách trong suốt thời thơ ấu của tôi, trong khi mẹ tôi dường như lại quá dễ cảm xúc. Ngoài ra, cuộc hôn nhân của bố mẹ tôi có rất nhiều căng thẳng, không thể nào không ảnh hưởng tới đứa con. Nếu nói mạnh thì tôi có thể nói rằng có thể là tôi đã có một loại nhân cách dễ đưa đến những thứ hấp lực đồng phái tính. Thế nhưng, nói cho cùng, tôi nghĩ là có một số liên hệ cùng với những yếu tố về môi trường cũng đã thực sự góp phần vào việc phát triển những thứ hấp lực đồng phái tính này.

Vấn: Những nguồn ở bên ngoài, chẳng hạn như văn hóa truyền thông, có ảnh hưởng tới những ý nghĩ của anh về những thứ hấp lực đồng phái tính hay chăng? Nếu có thì xẩy ra như thế nào?

Ðáp: Tôi vào đời năm 1963 và có lẽ thời điểm chính đối với một thứ văn hóa có tác dụng lớn trên tôi là vào giai đoạn từ năm 1976 đến 1986. Vào khoảng năm 1976 tôi mới có nhận thức về tình dục, ở chỗ tôi bắt đầu có ước muốn về tình dục và bắt đầu thèm muốn về tình dục, mới đầu với chính mình bằng việc thủ dâm, song cũng với cả những người khác nữa, lớn tuổi hơn, những đứa con trai có thân thể, kinh nghiệm và hấp lực như thần tượng đối với tôi.

Nhìn lại, tôi có thể nói là, ở một mức độ nào đó, chúng đã lợi dụng một thằng con trai trẻ hơn theo đuổi chúng để chúng có thể thỏa mãn những thứ nhục dục căn bản. Tôi không nhớ nhiều lắm những điều diễu cợt thật là "nặng nề". Khi mà vấn đề giải phóng đồng tính luyến ái hay phong trào đồng tính nam nhân càng kéo được chú ý của toàn quốc thì tôi nhớ rằng bấy giờ đang có những thứ diễu cợt về vấn đề này cũng như về hội chứng liệt kháng AIDS.

Thế nhưng, tôi bao giờ cũng có thể che giấu được những thứ hấp lực đồng phái tính của mình, và những thằng con trai lớn tuổi hơn tôi mà tôi đôi khi làm tình với chúng hình như đã không cho việc tôi tự nguyện làm tình với chúng là những gì hoàn toàn có tính cách đồng phái tính nơi tôi.

Có lẽ ảnh hưởng về văn hóa mạnh nhất đối với những thứ hấp lực đồng phái tính nơi tôi đã xẩy ra khi tôi ở vào khoảng 19 tuổi hay đâu đó, và khó lòng mà tránh được là nếu quí vị sống với những thứ hấp lực đồng phái tính ấy, quí vị chắc chắn sẽ đi đến chỗ làm tình và tự cho mình là thành phần đồng nam tính. Chỉ có một điều chọn lựa duy nhất theo văn hóa, ở chỗ không nói với ai rằng quí vị đang sống theo những thứ hấp lực đồng phái tính, đó là điều không thể chấp nhận được vì nó là một cái vé vào sống một cuộc đời thật khốn khổ và sợ hãi.

Nghĩ kỹ, tôi đã thấy được một thứ chọn lựa về văn hóa tiến đến hai thái cực này, một là phải lén lút vì sợ rằng người ta biết được tôi đã sống theo những thứ hấp lực đồng phái tính, hoặc tự nhận mình là thành phần đồng nam tính và hiên ngang sống với khuynh hướng này.

Vấn: Vào lúc nào anh đã khám phá ra con đường sống ngược lại với những thứ hấp lực đồng phái tính của mình?

Ðáp: Tôi không tin rằng tôi đã khám phá ra một đường lối sống "ngược lại" với những thứ hấp lực đồng phái tính. Trái lại tôi nghĩ rằng tôi đã khám phá ra một cái gì đó giống như những gì bất cứ một ai muốn tiến từ một đời sống chạy theo ham muốn tạm bợ tự nhiên đến một đời sống dứt khoát tìm kiếm Chúa Kitô vậy.

Những mức độ của các chước cám dỗ chúng ta phải đương đầu thường giảm xuống khi chúng ta thôi ham hố chúng; việc tìm cách sống thanh tịnh cũng như việc làm chủ những đam mê của mình làm cho chúng suy yếu đi, và trong trường hợp của những thứ hấp lực đồng phái tính cũng thế, tôi tin rằng việc sống thanh tịnh giúp làm giảm bớt mức độ của những thứ hấp lực đồng phái tính tôi đã trải qua.

Theo nhận định này, tôi tin rằng con người nam nữ có thể làm suy yếu những thứ hấp lực đồng phái tính theo giòng thời gian và ở những mức độ khác nhau. Ðó là những gì tôi đã cảm nghiệm nơi cuộc sống của mình, mặc dù tôi chưa bao giờ tìm kiếm những thứ trị liệu để làm giảm bớt những thứ hấp lực đồng phái tính này. Cho dù tôi vẫn còn đang sống ở một mức độ của những thứ hấp lực đồng phái tính, giờ đây mức độ đó đã ít hơn trước đây 3 năm, và tôi nghĩ rằng tôi sẽ thấy nó càng ít đi hơn nữa trong ba năm tới đây.

Tôi chưa hề tìm kiếm phương pháp trị liệu để làm giảm bớt những thứ hấp lực đồng phái tính tôi trải qua, vì phương pháp trị liệu như vậy đắt đỏ về tiền bạc, thời gian và cảm lực, và theo kinh nghiệm của mình, tôi đã từng gặp nhiều trở ngại hơn trong việc trị liệu những thứ hấp lực đồng phái tính.

Vấn: Anh đã quyết định thay đổi như thế nào? Phải chăng đã xẩy ra một giây phút hối cải trong cuộc đời của anh?

Ðáp: Tôi chưa bao giờ thật sự quyết định cố gắng để đổi thay những thứ ham muốn tính dục của mình. Tôi thật sự đã trở về với niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô và tìm kiếm Người, đầu tiên nơi Anh Giáo, rồi tới Giáo Hội Công Giáo Rôma.

Tôi đến với Chúa Kitô bởi vì, như người mù bên vệ đường, tôi đã sống trong thất vọng và không còn gì để mất nữa. Không ai truyền bá phúc âm hóa cho tôi hay giúp tôi đến với Giáo Hội cả.

Vào khoảng 30 tuổi, tôi đã có được nhiều điều mà văn hóa đồng nam tính đương thời cho rằng một nam nhân có được. Tôi đã có một người tình đồng phái tính 7 năm. Tôi có việc làm ngon lành và các bạn bè đồng nghiệp coi trọng tôi. Người bạn tình của tôi và tôi đã mua chung một căn nhà và tích cực hoan hưởng một cuộc đời tình dục. Tôi là một nam nhân đồng tính công khai trong suốt cuộc đời của mình.

Thế nhưng tôi vẫn cảm thấy không có hạnh phúc. Với tất cả những gì mình có mà cuộc sống của tôi dường như cảm thấy trống rỗng. Qua một thời gian dài tôi tưởng vấn đề nằm ở một cái gì về cuộc sống của tôi, nên tôi đã cố gắng thay đổi nhiều điều khác nhau để xem kết quả ra sao.

Một ngày kia, một mình ở nhà, tự nhiên tôi nẩy lên ý tưởng cầu nguyện, và tôi đã nguyện cầu bằng Lời Kinh của Vấn Nhân cổ thời như sau: "Lạy Chúa, tôi chẳng biết Ngài có hiện hữu hay chăng, thế nhưng, nếu Ngài hiện hữu thì tôi quả thực là cần đến Ngài trong cuộc đời của tôi". Quả thực Ngài đã đi vào cuộc đời của tôi và từ đó vấn đề không còn giống như trước nữa.

Vấn: Ðức tin của anh đã đóng vai trò như thế nào trong cuộc chiến đấu để thay đổi tác hành đồng phái tính của anh?

Ðáp: Tôi vẫn không chiều theo việc sống thanh tịnh ngay lập tức. Tôi đã phải trải qua một số năm cố gắng đứng trước ngã ba đường, giữa việc sống thanh tịnh và sinh hoạt tính dục bằng việc gọi mình là một "Kitô hữu đồng tính", tức là một kẻ vừa tin vào Chúa Kitô mà lại vẫn còn sống tình dục đồng tính.

Thế nhưng, một khi tôi càng cầu nguyện và càng hiểu hơn về Chúa Giêsu Kitô, về Kitô giáo theo giòng lịch sử và về các thánh nhân, cũng như khi tôi thấy được các chứng từ phát xuất từ những người Kitô hữu trung thành khác thể hiện vai trò của Chúa Kitô trong đời sống của họ, tôi tiến đến chỗ dứt khoát là tôi không muốn là một "Kitô hữu đồng tính nam nhân" nữa.

Tôi muốn thuộc về Chúa Kitô, và nếu yêu mến Người có nghĩa là sống thanh tịnh, cũng như nếu Người muốn giúp tôi làm điều này thì đó là những gì tôi đã mong muốn và là những gì tôi đang mong muốn hôm nay đây.

Vấn: Các thứ giáo huấn của Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có giúp được gì anh không? Tại sao?

Ðáp: Tôi nghĩ Ðức Gioan Phaolô đã phục vụ Kitô hữu, thậm chí cả những người không phải là Kitô hữu nữa, bằng việc Ngài đã cẩn thận giải thích và loan truyền một thứ thần học về thân thể.

Tôi nghĩ rằng ngày nay đang xẩy ra một thứ lầm lẫn về vai trò thân thể chúng ta đóng trong đời sống tâm linh của chúng ta cũng như về tầm quan trọng của thân thể của chúng ta như là những gì chúng ta được tạo dựng nên. Ðức Gioan Phaolô II đã đặt một nền móng cho một phần rất quan trọng nơi sứ điệp của Giáo Hội thuộc những ngàn năm tới đây.

Vấn: Giáo Hội cần phải khuyến khích thành phần sống cuộc đời đồng phái tính trở thành độc thân và giữ đức thanh tịnh?

Ðáp: Giáo Hội có thể làm cho tất cả mọi người một ân huệ bằng việc khuyến khích họ, cho dù họ có đang sống theo những thứ hấp lực của đồng phái tính hay chăng, hãy đi sâu vào những mối liên hệ và tình thân hữu sâu xa hơn và mạnh mẽ hơn không dính dáng gì đến vấn đề tình dục.

Rất nhiều người ngày nay, không phải chỉ có những con người trẻ trung, bị lầm lẫn về bản chất của tình thân hữu chân thực cũng như về vấn đề cần phải có mối thân tình cảm mến trong đời sống của chúng ta.

Giáo Hội quả thực khuyên những con người nam nữ độc thân hãy sống thanh tịnh, nhưng Giáo Hội không khuyên chúng ta sống lẻ loi cô độc. Giáo Hội cần giúp cho con người hiểu rằng họ có thể sống một cuộc sống vui vẻ về cảm tình và thân tình mà không cần đến sinh hoạt tính dục.

Vấn: Anh có điều gì khuyến dụ muốn gửi đến những người sống theo những thứ hấp lực đồng phái tính hay chăng?

Ðáp: Ðừng nghĩ rằng những thứ hấp lực đồng phái tính của mình tự nó là những gì làm nên đời sống của mình. Con người là một thực thể phức hợp hết sức trọng đại để có thể bị phá sản với nhãn hiệu "tôi là một nam nhân đồng tính" hay "tôi là một nữ nhân đồng tính".

Ðặc biệt là nếu quí bạn còn trẻ và chưa nhào đầu vào sinh hoạt tình dục, thì đừng tin rằng quí bạn cần phải cảm nghiệm ở cùng một mức độ theo những thứ hấp lực đồng phái tính quí bạn đang thấy ngày nay.

Ðừng nghĩ rằng hễ quí bạn sống theo những thứ hấp lực đồng phái tính thì Thiên Chúa sẽ không yêu thương quí bạn nữa, hay quí bạn sẽ không thể tìm kiếm Người, hoặc quí bạn sẽ không thể tìm cách trở nên một thánh nhân được.


Ðaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch từ tài liệu được Zenit phổ biến ngày 9/1/2004


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com