TỰ THUẬT

(Kỳ 44)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

 

Ðêm hôm ấy, con vâng lời thày Philipphê, mà nằm trên thanh cửa gồ ghề ấy. Mặc dầu ông Ấu cứ khuyên nài con đừng nằm ở trên gác, lắm chuột lắm, đêm nó đùa mình không ngủ được đâu. Còn ông, thì ông vác chiếu xuống ngủ ở chân thang. Ðấy cũng là một gian nhà, nhưng chỉ để làm gạo.

Con không chịu nghe ông Ấu, vì con muốn thi hành đức vâng lời triệt để.

Nhưng ông Ấu đã nói làm sao thì cả đêm con phải chịu y như làm vậy. Suốt cả đêm con không ngủ được vì chuột. Ban chiều thì chẳng thấy con nào, thế mà mặt trời vừa xuống khỏi rặng tre một cái, là các chú thím chuột nhẩy ra đăng-xinh. Chúng nô đùa và chạy rầm rầm cả đêm. Thằng nào không đăng-xinh thì chạy đi kiếm ăn. Hôm ấy chắc hẳn cả làng chuột phải lấy làm bỡ ngỡ, vì không biết tự đâu mà lại thấy nhét vào cho chúng một con mồi to bằng thằng người? Nên chúng thi nhau đến nếm thử. Ôi chao! mà tội nghiệp cho con mồi làm sao! Nó vừa co cái chân lại vì bị chuột cắn, thì nó lại phải ngóc cái đầu lên, vì bị chuột cào tai; vừa nhổm đầu dậy, thì một chú chuột chạy ngang trên bụng, anh khác bíu lấy áo đằng sau lưng, leo lên đầu, lấy đuôi quết vào mặt, rồi chuồn đi đâu mất!...

Ôi chao, lậy Chúa! Thật là rùng rợn! Cho đến nỗi con phải cầu cứu đến tên Giêsu, tên Ðức Mẹ, và xin thiên thần bản mạnh can thiệp hộ, mới thấy được êm ả một tí, nhưng thực sự cả đêm điều mất ngủ.

Hôm sau, con bẩm với "thày cai" Philíp, rồi xin thày ban lệnh khác. Nhưng vì con sơ ý "bẩm thày" trước mất rồi, nên lời yêu cầu của con chỉ được thày Philíp trả lời bằng một cái nhìn chòng chọc, và một câu nói:

- Không ngủ ở đấy được thì đi đâu thì đi.

- Bẩm vâng, nếu thày đã ban phép cho con thế thì để con liệu.

Thày Philíp, chả nói gì hơn nữa, lừ lừ bước chân đi, và miệng thì càu nhàu những gì chả rõ.

Bởi vậy, từ đêm thứ hai trở đi, đêm đêm con cũng phải theo ông Ấu xuống nằm bên cối gạo.

Tuy nhiên, ngủ được cũng không phải là dễ, vì hết được nạn chuột, thì lại đến nạn muỗi. Nhưng con chỉ có thể chống chọi được với muỗi trong những lúc thao thức, hay không ngủ được mà thôi, chứ khi đã kiệt lực rồi thì muỗi đốt thế nào con cũng cứ ngủ ngon như thường. Nếu có đau thì ngày hôm sau mới cảm thấy đau thôi. Mặt mũi con hồi ấy coi như người bị bệnh phung, sần cả lên vì muỗi đốt. Thế mà lạ! Con vẫn sống, hơn nữa con cũng chả bị sốt rét sốt nóng gì cả, và vẫn vui vẻ được như thường.

Một đôi khi vì bị rẻ rúng, hay bị phê bình một cách quá chặt chẽ, con có buồn tủi tưởng nhớ đến gia đình, nhưng những lúc ấy con lại được chị thánh Têrêsa an ủi, nên con được an lòng, vui sống với những ngày ảm đạm sầu thương ấy.

Như con đã vừa nói, sự bị rẻ rúng vẫn làm con liên tưởng đến gia đình và chỉ mong ước được về đấy, vì tuy cảnh gia đình con có nghèo thật, nhưng ở đấy vẫn sẵn một tình yêu ấm nóng của người mẹ. Ở đây, trong thời gian hai tháng rưỡi, tuy rằng được sống ở bên cạnh nhà dòng đấy, được lui tới với các cha các thày đấy, nhưng nào đâu có bao giờ con nghe được lời nói nhẹ, hay một cử chỉ thương yêu, để chứng thật rằng trong tu viện cũng có một tình yêu chân chính và dào dạt. Nếu có, thì chỉ độ một tuần đôi ba lần, con gặp được nụ cười của cha coi việc, cha Létourneau đến hỏi han, còn ngoài ra chỉ có những cái làm cho lòng con thêm chua xót, và mắt con thêm mờ lệ...

Lúc mới bước chân vào cái vựa thóc, con đã phải rùng mình, vì thấy cái cảnh nó khó sống làm sao? Ðã có phút con hoang mang và tự hỏi: không biết rồi mình có chịu đựng nổi không đây? Nhưng rồi tất cả những cái khó khăn về vật chất ấy, con đã thắng được một cách dễ dàng. Một tuần lễ sau, con không còn cảm thấy khó chịu vì những mùi hôi tanh, ẩm thấp, và bẩn thỉu ở chung quanh và trong cái vựa thóc ấy nữa. Con đã quen được rồi. Cái khó nhất cho con chỉ là do mấy thày dòng con không dám bảo là hết hay là một số đông, mà con chỉ xin thưa là mấy thày mà thôi, luôn luôn, gặp con bao giờ cũng chỉ là, chỉ chích, ngăm đe, và đầy thù ghét, làm cho con đã buồn tủi vì số phận long đong, lại còn thêm hoảng sợ, bồi hồi, rồi phải tưởng: chắc rồi con không thể nào vào tu trong dòng Chúa Cứu Thế được nữa, nếu Chúa có thương, con sẽ xin đi dòng khác.

Những lúc ấy, Têrêsa phải lên tiếng khích lệ con triệt để, mới làm cho con giữ vững ơn kêu gọi được cho đến nay. Tuy nhiên, không ngày nào là ngày con không khóc. Thường thường con rất hay e ngại tỏ những nỗi buồn thảm ra cho ai hay, hơn nữa là con còn cố giấu. Bởi vậy, con chẳng dám đến nói sự thể tâm hồn mình ra cho cha Bề trên, hay là cha coi việc. Con cứ cam tâm chịu đựng với mình. Rồi ngày chủ nhật nếu con có được lên nhà kín thì con đem ra tâm sự với Têrêsa, mà cũng chỉ có Têrêsa là người để con tâm sự được mà thôi.

* * * *

Một Phép Lạ - Thuyền Cập Bến

Hai tháng rưỡi trời đằng đẵng, thử thách cứ dồn dập tiến tới như trăm làn sóng vật xô con thuyền con ra xa bến! Hai tháng rưỡi vật lộn với gió mưa, lòng con như đã lặng chìm trong vũng lầy! Ngày cũng như đêm, nước mắt là hương vị của đời sống con! Con đã sống trong nước mắt, và cũng chỉ vui trong nước mắt!

Cảnh thảm thương ấy, khiến Chúa phải thương tình, mà rút ngắn thời chờ đợi lại cho con. Nhưng muốn được vào dòng, cần phải có một ơn riêng đặc biệt. Ơn riêng ấy con đã được, và con đã kể như là một phép lạ.

Khi cha bề trên bảo con trở lại thế gian, người đã nói với con rằng:

- Ít nhất là hai năm nữa, cha mới có thể nhận con được.

Thế mà từ khi người ra điều kiện ấy cho đến lúc người nhận con vào dòng, thời gian chỉ rút ngắn lại có trên ba tháng. Ba tháng thì đã lớn lao gì? Thế mà rồi con cũng được vào dòng? Nếu đó chẳng phải là một ơn đặc biệt, hay có thể nói là một phép lạ, thì làm sao mà đổi được ý bề trên một cách dễ dàng thế? Nhưng để cha rõ thì con xin thuật cái phép lạ ấy ra làm sao cho cha hay.

Sang tháng 10-1944, con được nghe tin sửa soạn mừng lễ Thánh Giêrađô, bổn mạng của các thày Trợ sĩ của dòng Chúa Cứu Thế. Con cũng cảm thấy một sức lôi cuốn nào làm cho con hăm hở dọn mừng lễ Người. Ðối với Thánh Giêrađô, xưa nay dường như con chỉ biết được một đôi tí bằng đôi ba mẫu truyện người ta đã viết trong tạp chí Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhưng con cũng chẳng lưu tâm, và cũng không cầu xin cùng người ơn gì bao giờ. Vì từ khi có Têrêsa, con không còn biết giao thiệp với thánh nào ngoài một người chị thánh yêu dấu ấy. Xin ơn, hay bất luận cần thiết một việc gì, con chỉ biết đến với Têrêsa, và mọi sự cũng điều với Têrêsa mà hành động.

Nhưng Têrêsa thì lại muốn cho con giao thiệp vối bất cứ một thánh nào, chị muốn con tin tưởng vào từng thánh, và cầu xin ơn với các ngài, như con đã tỏ ra cách thân mật với chị. Nhưng con vẫn có một cái e ngại làm sao, nên chỉ biết bíu vào Têrêsa, và cậy nhờ Têrêsa trong hết mọi việc.

Vậy nên trong dịp đau khổ này, Têrêsa một hôm bảo con rằng:

- Em biết, việc nhận em vào dòng, theo điều kiện của cha bề trên thì em còn phải chịu đợi 21 tháng nữa cơ. Nhưng nếu em muốn cho thời hạn ấy rút ngắn lại bằng nay mai, chị khuyên em không gì hơn là chạy đến với anh thánh Giêrađô Majella, xin người lo liệu làm sao cho cha bề trên đổi ý, mà nhận em vào dòng sớm đi. Nay lễ anh Thánh đã gần rồi, em hãy dọn mừng lễ người cho sốt sắng, và nài van người cho một ơn như chị vừa dặn. Em đừng e ngại gì, cứ chắc chắn rằng: xin là sẽ được. Các thánh thường dễ cảm động lắm, nên chẳng bao giờ từ chối những ơn người ta xin. Nhất là lại với một vị thánh mai ngày sẽ là một người anh thực thụ của em. Một vị thánh sẽ có em làm em, có người để cầu phúc cho, thì ngại ngùng gì mà người anh thánh ấy chẳng mau mắn lo cho em sớm được vào dòng? Em cứ ngày ngày đến nói với Giêrađô những nỗi niềm làm em đau khổ, những lý do em đang chờ đợi, rồi cứ thành thật xin người ủng hộ cho, như em vẫn thường xin với chị. Trên thiên đàng có phải chỉ có một mình Têrêsa của em mới là một vị thánh biết cầu ơn đâu? Biết bao nhiêu là vị có thần thế, mà tiếc vì nhỏ Văn của chị không chạy lại mà xin thôi.

Không mấy chốc ngày 16-10 đến.

Nhưng nó đến cách hời hợt làm sao! Con mong mãi đến ngày hôm nay để được phép lạ của anh thánh Giêrađô, mà... tuyệt nhiên, chả thấy gì hết. Thế có phải là buồn không? Hôm ấy các cha các thày, nhất là các anh em trợ sĩ vui cười không thể nói. Còn con thì cũng thèm vui quá, mà đợi mãi chả thấy cha bề trên xuống để cho con vào dòng, như ơn con đã cầu với thánh Giêrađô. Thành thử thay vì vui con đã để rơi nước mắt. Bữa tiệc trưa của con với ông Ấu cũng vì thế mà bớt phần thú vị. Têrêsa cũng chẳng buồn nói năng gì đến con cả. Chỉ những... thất bại là thất bại! Hỏng! chắc là mình đã có tội gì đây? Nhưng mà tội gì thì tội chứ, mình đã thành thật đến thế rồi còn gì?

Con cứ vớ vẩn nghĩ đi nghĩ lại mãi như thế, mà buồn vẫn cứ chịu buồn.

Mãi cho đến giờ con sắp sửa ra nhà thờ chầu phép lành, Têrêsa mới chịu lên tiếng nói với con; chị vui đùa nói với con thế này:

- A! Em Văn của chị, chị chúc lễ em đấy nhé: Sao mà hôm nay em có vẻ buồn, và mặt cứ bệu xuống như muốn sa nước mắt mãi như thế? Tội nghiệp em chị quá đi mất thôi. Giận chị hử? Sáng hôm nay chị đã định báo tin mừng cho em cơ đấy, nhưng mà còn mắc phải đi mừng lễ anh thánh Giêrađô, thành thử, chị không thể nói cho em hay được.

Xem ra em đã muốn nản lòng rồi phải không? Nản làm gì vội thế? Còn những tám ngày sau nữa cơ mà? Với lại sáng hôm nay anh thánh Giêrađô bận lắm, nên không làm phép lạ cho em ngay được, nhưng bây giờ thì có thể làm được. Vậy khi đi chầu phép lành, em đừng quên nhắc lại ơn em đã xin với anh thánh nhá. Nói thế nào tùy em, miễn là không quên là được rồi.

Con làm y như chị thánh đã dặn, chỉ có cái là con đã đe anh thánh Giêrađô nhiều hơn là xin. Con đe thế này:

- Nếu anh không mau mắn đưa con thuyền em vào bến, nếu em chẳng được thấy phép lạ của anh như em cầu mong, em... có lẽ sẽ đến phải bỏ ơn kêu gọi mất, mà lỗi ấy em sẽ đổ là tự anh.

Có lẽ Giêrađô không sợ vì lời ngăm đe đơn thật ấy, nhưng đã thảm hại, và làm cho con được thỏa nguyền.

Ngày 17-10.

Ngày lặng lẽ trôi đi như ngày hôm qua. Nhưng cũng đến giờ con sửa soạn ra nhà thờ chầu phép lành, thì chị thánh Têrêsa lên tiếng bảo con:

- Hôm nay, em nhớ đừng sợ, lên nhà khách xin gặp cha bề trên chúc lễ, rồi em xin người nhận em vào dòng nhá. Em biết mai nhà dòng mừng lễ cha chứ.

- Vâng, nhưng mà... lại còn phải xin cha nhận vào dòng ý à? Ôi chao! khiếp lắm! Em xin chịu thôi đấy, tuần trước em xin đã bị người "hừ" cho một mẻ rồi... bây giờ mà lên xin nữa thì... chết!

- Ố! sao em lại khiếp? Việc gì mà khiếp với sợ cơ chứ.

- Thế chị nói hộ em đi.

- Em muốn được phép lạ thì em phải nói chứ... Phép lạ đấy chốc. Anh thánh Giêrađô đã làm phép lạ xong rồi đấy, bây giờ chỉ có việc em đến thưa với cha bề trên vài tiếng là được phép lạ thôi.

- Nhưng mà phải nói thế nào được bây giờ, hở chị?

- Lại còn phải nói thế nào? Ban đầu em hãy cứ lấy cái tư cách là đi chúc lễ cho một cái đã, xong rồi hẵng nói đến việc xin cha nhận vào dòng. Chẳng hạn em thưa: Bẩm cha, mai là ngày anh em trong nhà mừng lễ cha, mà tiếc vì con chẳng được một cái số tốt như anh em trong nhà để chúc mừng cha cho toại nguyện. Mặc dầu, con cũng xin đem tấm lòng đơn mọn đến để dâng lên cha một vài lời cảm mến biết ơn và tận tình trung hiếu. Biết rằng, con chưa được gọi là con cái trong nhà cha hẳn, nhưng đó là một lẽ con đang hết lòng mong mỏi, và con chỉ ao ước cho có dịp này để đến kêu cầu cùng cha ban cho con cái ơn quí trọng ấy mà thôi.

Ðã một tuần nay, con đã cầu xin Chúa rất nhiều theo ý ấy, nghĩa là xin Chúa cho con được nhận vào dòng trong ngày lễ của cha. Và hôm qua con cũng đã xin thánh Giêrađô bầu cử cho con được ơn ấy nữa. Nên hôm nay con mới dám đến thân bày cùng cha. Con tưởng như Chúa đã ưng nghe lời con van xin rồi, nhưng chỉ còn đợi một tiếng "ừ" của cha nữa là con được toại nguyện.

Con học đầy đủ ý nghĩa của bài chúc lễ cảm động ấy, rồi hồi hộp bước lên phòng khách. Con có cảm giác như mình sắp bị đem ra tòa án. Rồi khi gặp cha bề trên, con chưa kịp nói hết những điều đã định nói, thì đôi mắt đã vội vàng tuôn ra hai dòng lệ nóng.

Thấy vậy cha bề trên tỏ tình âu yếm, người lấy tay mơn vuốt nhè nhẹ trên mái tóc con, rồi ôn tồn người nói:

- Thôi con đừng khóc nữa, con đã có lòng đến chúc mừng cha, thì cha xin hết lòng cám ơn con. Lại vì thấy con rất mong mỏi được cha nhận vào dòng, thì sự ấy đã làm cha nao lòng, và không thể từ chối với ơn con xin được. Vậy thì cha vui lòng nhận con vào dòng ngay chiều hôm nay.

Vừa nghe cha bề trên nói: nhận vào dòng ngay. Con đã vui reo lên, con vội vàng gạt nước mắt và cám ơn cha bề trên cách vui vẻ. Cử chỉ con nít ấy khiến người phải phì cười, người vừa lấy tay vỗ má con, vừa nói:

- Ha, Ha! Nín rồi? Bây giờ thì chắc là lòng con đang loạn vui?

- Trình cha vâng.

- Ðược, thế thì mai con phải nhớ cầu nguyện nhiều cho cha.

- Trình cha vâng.

- Bây giờ con đi thu dọn đồ đạc ở dưới nhà lên đi, cha sẽ đi nói với cha Létourneau ra đón con ở nhà khách này.

- Dạ, cám ơn cha.

Cha bề trên vừa vào, con sung sướng quá vừa chạy xuống dưới nhà, vừa reo vừa nhẩy, vừa hát, vừa vỗ tay, và gặp cha hay thày dòng nào con cũng khoe:

- Ha ha, cha bề trên nhận con vào dòng rồi! Cha bề trên nhận con rồi cơ.

Người con gặp sau hết là thày Tuyên (bây giờ là cha Tuyên) đang đứng trước nhà gạo thấy con vui như điên như cuồng, thày liền bảo:

- Rõ thật, như con nít Têrêsa hồi nào được tin vào dòng, chắc là cũng ngây thơ như thế chắc!

Một điều lạ, là con chưa bao giờ dám bộc lộ ra với ai về việc con với Têrêsa có một mỗi thân mật riêng, thế mà gặp con lần nào thày Tuyên cũng cứ gọi chơi con là em của Têrêsa Hài Ðồng Giêsu. Phải chăng vì thày đã được Têrêsa thông cảm cho hay điều bí mật ấy, hay là Chúa đã ban cho thày một ơn thấu suốt nội tâm của mỗi một tâm hồn? Ðiều đó con không được rõ, và cũng chưa bao giờ con dám hỏi thày. Con chỉ hay rằng, thày dự đoán gì về con với Têrêsa cũng điều đúng cả.

Từ sau lúc nhận được tin vào dòng, con đã vui quên hết cả mọi sự, dĩ chí, cả đến việc cám ơn anh thánh Giêrađô con cũng lãng cả đi mất. Mãi sáng sau con mới nhớ ra và cám ơn anh Giêrađô về phép lạ chiều hôm ấy. Rồi cũng từ đấy, Giêrađô đã nên thân thiết cùng con như Têrêsa vậy.

Sáu giờ chiều hôm ấy, cha Létourneau ra đón con ở nhà khách; người cũng vui như con, nhưng có khác là người không nhẩy nhót và tỏ những điệu trẻ nít như con.

Cha Létourneau dẫn con qua lớp cửa như đã dẫn con vào lần trước. Và sau khi cánh cửa tù hạnh phúc đã đóng sập lại, người ôn tồn chào con theo tình huynh đệ. Một vài phút sau, cũng có các anh em khác đến đón chào con với một tình thân yêu, khiến con cảm thấy ngay một sự nâng đỡ bền chặt. Con hiểu đây không phải là những người xa lạ, mặc dầu chưa quen biết, nhưng ở đây chỉ có một tình thương, và những người tình nguyện đến ở trong chốn này điều là anh em với nhau. Nhất là sau khi con được nghe cha Létourneau tuyên bố mấy lời, với một dọng điệu vui tươi sẵn có, người nói:

- Từ nay thày sẽ không còn phải là người dưng nước lã nữa, cũng không phải là một đứa nhỏ ở ngụ trong góc vườn nhà dòng nữa, thày đã trở nên con cái nhà dòng và là anh em của chúng tôi. Vậy từ nay hết thảy chúng tôi sẽ thương yêu, và tận tình trìu mến thày, thay cho hết những mối tình mà thày đã được hưởng ở ngoài thế gian, và nguyện ước của chúng tôi chỉ là mong cho thày được bền đỗ.

Lúc ấy con chỉ biết đáp lại lời thân ái ấy bằng một câu: cám ơn cha, với đôi dòng nước mắt, vì cảm xúc.

(còn tiếp)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com