Tiến Sĩ Thần Học Luân Lý

Mục ‘Hiểu Ðạo - Sống Ðạo’ mong ước được trở nên người bạn đồng hành để chia sẻ với Quý Ðọc Giả những băn khoăn trong hành trình Ðức Tin hằng ngày. Mọi thắc mắc liên quan đến việc tìm hiểu để sống đạo, xin Quý Vị vui lòng gởi về cho chúng tôi quađịa chỉ email Dominiquebao@hotmail.com hay tòa soạn ÐMHCG

Phúc Âm Thật Và ‘Phúc Âm Giả’

Hỏi: Một linh mục ở quê nhà gửi thư sang cho tôi và cho biết là Thánh Thomas Tông Ðồ có viết một tập Thánh kinh, nhưng tài liệu này không được Giáo hội công nhận và phổ biến. Ngài nhờ tôi sưu tầm tài liệu này giúp ngài. Thật hết sức ngạc nhiên vì tôi chưa bao giờ nghe nói chuyện này bao giờ. Kính mong cha lam ơn cho biết là chuyện này thực hư thế ra sao, và có cách nào thâu thập được tập Kinh thánh này không? Cảm tạ cha. Vũ Văn Quang, San Jose (CA)

Ðáp: Việc hình thành các sách phúc âm (gospels) mà chúng ta có ngày nay phải trải qua 3 giai đoạn căn bản:

a) Trước hết là các lời giảng dạy của Chúa Giêsu, và những việc Ngài làm để ban ơn cứu độ khi Ngài còn sinh sống ở trần gian.

b) Khi Chúa về trời, Nhóm 12 tông đồ và các môn đệ kể lại những Lời Chúa dạy và việc Chúa làm, qua các bài rao giảng (dưới những hình thức như thuyết giáo, tường thuật, chứng từ, ca vãn, cầu nguyện). Ðây là thời đại của ‘Phúc âm sống’ hay ‘Phúc âm khẩu truyền’. Chính giai đoạn này tạo thành ‘Truyền thống Tông đồ’ (Tông truyền - Apostolic Tradition), một yếu tố rất quan trọng trong việc hiểu và chú giải đúng đắn ‘Phúc âm chữ viết’.

c) Khi nhận thức rằng việc Chúa trở lại không phải sẽ diễn ra trong thời gian gần, các tông đồ và môn đệ bắt đầu lưu lại các lời rao giảng bằng những bản văn (‘Phúc âm chữ viết’). Do đó, ngày nay, chúng ta có các sách Phúc âm và các Thánh thư khác.

Trong giai đoạn 3, thật ra không chỉ có Mathêu, Marcô, Luca và Gioan mà cũng có các tông đồ, các môn đệ của các tông đồ, và những tác giả khác viết phúc âm. Tuy nhiên, trong khi các bản văn phúc âm của 4 tông đồ nêu tên được Giáo hội nhìn nhận là có ơn linh hướng (divine inspiration) và được kể vào hàng ‘phúc âm quy thư’ (hoặc ‘chính quy’ - canon), thì bản văn của các tác giả khác được xếp vào loại ‘phúc âm ngụy thư’ (nghĩa là không chính thức - apocryph).

Loại phúc âm ngụy thư cũng bao gồm một số đáng kể. Ta có thể liệt kê các bản đã tìm được như sau: phúc âm của cộng đoàn tín hữu Do thái, phúc âm theo thánh Phêrô, theo thánh Giacôbê, ngụy bản phúc âm theo thánh Mathêu, phúc âm mang tên Trinh nữ Maria, phúc âm theo ông Nicôđêmô, và phúc âm theo thánh Tôma tông đồ, cùng ngụy bản phúc âm theo thánh Tôma tông đồ.

‘Phúc âm theo thánh Tôma’ (chứ không phải là ‘Thánh kinh’ như ông viết, vì ‘Thánh kinh’ là toàn tập sách thánh gồm Cựu ước và Tân ước, và trong đó Phúc âm chỉ là một phần) là một tài liệu giữa 13 cuốn sách cổ tìm được gần sông Nile, Ai cập, vào năm 1945. Ða số các cổ thư này mang tính phù phép, huyền bí, và phản ảnh những tư tưởng nghịch giáo lý Kitô.

Theo các nhà nghiên cứu kinh thánh, phúc âm theo tông đồ Tôma ban đầu có thể cũng là bản văn ghi lại những lời giáo huấn đích thực của Chúa cho cộng đoàn tín hữu. Bản văn ấy nguyên thủy được viết bằng tiếng Hy lạp, vào khoảng thế kỷ thứ 2. Tuy nhiên, khi được tìm thấy nằm trong số các tài liệu huyền bí cổ và được dùng bởi những người trong nhóm phái ngoại giáo, bản văn mang tên ‘phúc âm theo thánh Tôma tông đồ’ đã được sửa chữa, viết lại nhiều đoạn. Bản viết lại tìm thấy ngày nay là tài liệu bao gồm những điều rất xa lạ với truyền thống giáo lý và luân lý giáo hội tiên khởi. Chính vì thế, tài liệu gọi là ‘phúc âm theo thánh Tôma’ đã không được thẩm quyền giáo hội kể là quy điển mà chỉ là ngụy thư.

Các phúc âm ngụy thư không được phổ biến rộng rãi. Ai thích học hỏi kinh thánh có thể tìm thử thông tin liên hệ trên mạng (web), hoặc nơi các nhà sách chuyên biệt, hay tại các thư viện chuyên ngành về Kinh thánh.

 

Giáo huấn của Thánh Thomas Aquinô

Hỏi: Thánh Thomas Aquinô là bậc lỗi lạc của Giáo hội Công giáo vì ngài đã để lại cho hậu thế nhiều giáo huấn cao siêu quý giá. Tuy vậy, đã được nghe nhiều linh mục kể lại rằng thánh nhân đã hiện về với một nhân vật nào đó và cho biết rằng những gì thánh nhân đã viết đều không được đúng, duy chỉ có những điều viết về Phép Thánh Thể là còn đúng mà thôi. Vậy kính xin cha làm ơn cho biết đầu đuôi vấn đề này là như thế nào?  Vũ Văn Quang, San Jose (CA)

Ðáp: Dĩ nhiên những chuyện chúng ta ‘đã được nghe’ trong cuộc sống thì rất nhiều. Nhưng những chuyện đó xác thực thế nào thì lại là chuyện khác. Nói đến sự xác thực nghĩa là nói đến bằng chứng khách quan, khả tín. Ông bà ta dạy: ‘Nói có sách mách có chứng’. Và điều đó càng đúng đối với những sự kiện, nhân vật lịch sử.

Trong nhiều năm đọc tích sử Thánh Thomas Aquinô và nghiên cứu thần học của ngài để viết luận án, chúng tôi chưa bao giờ nghe đề cập đến vấn đề như ông nêu ra. Nhưng chúng tôi cũng nghe có giai thoại như sau. Một ngày kia, trong khi giảng dạy, thánh nhân đã trình bày và biện giải về Bí tích Thánh thể cách rất thông thái và thuyết phục. Buổi tối hôm ấy, Chúa đã hiện ra với ngài và nói: "Thomas! Hôm nay con đã nói rất tuyệt vời về ta. Con muốn ta ban thưởng con điều gì?" Thánh nhân thưa: "Lạy Chúa! Chỉ có Ngài là đủ cho con!". Có thể giai thoại rằng thánh Thomas Aquinô phủ nhận tất cả các giáo thuyết của ngài cũng chỉ là một cách nói để đề cao Bí tích Thánh Thể, hoặc là nhấn mạnh sự uyên bác trong giáo thuyết của ngài liên quan đến Mầu Nhiệm này chăng?

Dầu sao, chúng ta không thể phủ nhận sự kiện rằng bút tích và tư tưởng của Thomas Aquinô là một hiện tượng vô tiền khoáng hậu trong lịch sử thần học công giáo. Giáo thuyết của ngài uyên thâm phi thường về cả phương diện triết lý và thần học. Theo học giả E. Gilson, "triết học của Aquinô là của một thần học gia đại tài; và thần học của ngài là của một đấng thánh" (xc. Gilson E., Le Thomism, J. V., Paris 1989, tr. 15). Chẳng lạ gì, giáo hội đã tuyên phong ngài là Tiến sỹ Hội thánh. Còn các nhà thần học gọi thì quen gọi ngài là ‘Tiến sỹ Chung’ (Common Doctor), ‘Tiến sỹ Thiên thần’ (Angelic Doctor).

Giáo thuyết của Thomas Aquinô đã chiếm một chỗ rất lớn trong nền thần học công giáo. Ðiều ấy là một thực tại từ thời Trung Cổ đến nay. Hiện tại, phần lớn các huấn dạy của Giáo hội Công giáo liên quan đến tín lý và luân lý đều xây dựng trên căn bản thần học của Thomas Aquinô. Vậy, nếu quả thực các giáo thuyết của Thomas Aquinô là sai lầm khiến ngài ngài phải từ chối, thì làm sao nó có thể đạt được chỗ đứng uy tín như thế.

 

Vợ chồng khác đạo

Hỏi: Thưa cha, con có một người em trai quen với một cô gái không thuộc đạo công giáo. Hai người dự định lấy nhau. Cô này không muốn trở lại đạo mà chỉ muốn ‘đạo ai nấy giữ’. Gia đình con đã hết lời khuyên can nhưng hai người vẫn khăng khăng quyết định xin phép chuẩn. Ðiều mà con thắc mắc là, ngay cả khi có phép chuẩn, hôn phối đó có thành sự không? Ðó có phải là một bí tích thực sự không? Nếu không phải là bí tích thì làm sao đôi vợ chồng được lãnh nhận trọn vẹn ơn sủng của Chúa qua Bí tích Hôn nhân không?

Hương T. N., Houston (TX)

Ðáp: Trong câu hỏi này có 3 vấn đề được đặt ra: Việc thành sự của hôn nhân khác đạo, ý nghĩa bí tích của nó, và sự tiếp nhận ơn Thiên Chúa. Trước nhất, ta hãy xét về yếu tố thành sự (validity). Theo giáo luật, người công giáo kết hôn với người chưa rửa tội thì hôn nhân ấy không thành sự (sacramently invalid), trừ phi được phép chuẩn dị giáo (dispensation for the disparity of cult) của Ðức Giám Mục địa phận (G.L. 1086).

Ðể được phép chuẩn cho hôn nhân dị giáo hầu ‘đạo ai nấy giữ’, giáo luật cũng quy định phải thực hiện 3 điều kiện tối thiểu: a) Bên công giáo hứa phải giữ trọn đức tin của mình đồng thời cố gắng rửa tội và giáo dục con cái theo đức tin công giáo. b) Thông tri cho bên không công giáo biết những điều mình hứa và bị lương tâm ràng buộc. c) Cả hai đều được học hỏi về mục đích và đặc tính căn bản của hôn nhân theo giáo lý công giáo. (G.L. 1126).

Khi đã được phép chuẩn, việc kết hôn giữa một người công giáo và một người không công giáo trở nên thành sự (valid).

Thứ đến, hôn phối dị giáo có thật sự là bí tích không? Ðây là một vấn nạn tế nhị và phức tạp hơn. Thật ra, các nhà thần học về bí tích và các nhà thần học luân lý cũng chưa đồng quan điểm với nhau để đưa ra một câu trả lời dứt khoát. Bên phủ nhận cũng như bên xác nhận đều có những suy tư rất hữu lý. Trong khi đó, vì là một suy tư thần học, huấn quyền giáo hội cũng không đưa ra một phán quyết rõ ràng nào về vấn đề này. Từ lâu, vấn đề này vẫn còn trong vòng tranh luận.

Theo thiển ý cá nhân chúng tôi, hôn nhân dị giáo khó có thể được coi là một bí tích theo đúng nghĩa vì hai lý do sau đây. Lý do thứ nhất có tính cách giáo luật. Nếu nó có giá trị như một bí tích thực thụ thì điều đó sẽ đặt lại vấn đề về chính ý nghĩa của việc cho phép của giáo hội qua phép chuẩn. Nghĩa là, nếu đó là một bí tích thì chẳng phải nại đến sự chuẩn chước của Giáo hội như một đặc ân. Còn nếu Giáo hội phải ban phép chuẩn đặc biệt thì hôn phối ấy phải là trường hợp ngoại thường, không phải là bí tích theo nghĩa thông thường.

Lý do thứ hai có tích cách thần học bí tích. Theo giáo huấn của tông đồ Phaolô trong thánh thơ gửi giáo đoàn Êphêsô (chương 5, câu 32), hôn nhân giữa hai Kitô hữu là một mầu nhiệm lớn vì nó phản ảnh và làm chứng cho tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội thánh. Chính vì thế nó mang ý nghĩa Bí tích và thật sự là Bí tích. Nhưng ý nghĩa này làm sao trọn vẹn được khi một trong hai người phối ngẫu không phải là tín hữu kitô. Vì một người ngoài kitô giáo không thể đóng vai trò biểu tượng (symbolism) để phản ảnh mầu nhiệm Chúa Kitô. Họ cũng không bị lương tâm ràng buộc để thi hành vai trò ấy cách chính quy. Như vậy, ý nghĩa chứng từ của hôn nhân này thiếu vắng. Do đó, ý nghĩa bí tích của nó cũng khiếm khuyết.

Sau cùng, làm sao các cặp hôn phối dị giáo có thể đón nhận trợ giúp của Thiên Chúa. Theo giáo lý, chúng ta biết rằng mỗi bí tích đều nhằm ban cho ta Ơn sủng đặc biệt. Ơn ấy, ta chắc chắn được lãnh nhận qua nghi thức bí tích. Vì thế, người kitô hữu xác tín về niềm tin của mình nơi Ơn sủng cụ thể của các Bí tích sẽ trọng kính và mong ước cử hành bí tích. Tuy nhiên, ta cũng không nên quên rằng Thiên Chúa khôn ngoan và tự do tuyệt đối. Mặc dầu thiết lập các Bí tích thánh để ban ơn cho ta, Ngài cũng không để tình thương Ngài bị giới hạn trong các nghi thức. Ngài có thể ban ơn bằng bất cứ phương thức nào Ngài muốn. ‘Thánh thần thổi đâu Ngài muốn’ (Jn. 3:18). Vậy điều thiết yếu là, trong mọi hoàn cảnh ta phải khiêm tốn mở lòng đón nhận Ơn Chúa ban ở mức độ và điều kiện có thể nhất, hầu có thể thi hành bổn phận của mình cách trung tín, hiệu quả.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com