|
Mục ‘Hiểu Ðạo - Sống Ðạo’ mong ước được trở nên người bạn đồng hành để chia sẻ với Quý Ðọc Giả những băn khoăn trong hành trình Ðức Tin hằng ngày. Mọi thắc mắc liên quan đến việc tìm hiểu để sống đạo, xin Quý Vị vui lòng gởi về cho chúng tôi quađịa chỉ email Dominiquebao@hotmail.com hay tòa soạn ÐMHCG MỤC ÐÍCH CỦA HÔN NHÂN LÀ GÌ? Hỏi: Thưa cha, xin giải đáp cho con một thắc mắc như sau. Vợ chồng con trên 30 tuổi. Chúng con đã lãnh bí tích hôn phối được trên 5 năm. Con thì thích có con năm nay, nhưng vợ con thì không muốn. Cô ta nói rằng vợ chồng thương nhau, chăm sóc cho nhau là đủ, đâu nhất định phải có con. Con cũng muốn chiều vợ, nhưng không thấy yên ổn lương tâm. Khi học giáo lý hôn phối, con nghe nói rằng lấy vợ là phải sinh con. Vậy, xin cha cho con biết, mục đích của hôn phối có phải là tình yêu hay sinh đẻ con cái? Lê Trung - Denver, CO Ðáp: Suy tư về vấn đề này, chúng ta cần cứu xét theo 2 phương diện. Trước nhất, trong Kinh thánh, sách Khởi nguyên đoạn 2: 18-24 kể rằng khi mới được tạo dựng, Adam đã gặp một vấn đề: sự đơn độc. Thiên Chúa đã giải quyết vấn đề bằng cách tạo dựng một người đàn bà là Eva và đem đến ‘se duyên’ cho Adam. Dĩ nhiên là Adam mừng rỡ lắm trong ‘phút ban đầu lưu luyến ấy’. Cho đến lúc đó, không thấy Kinh thánh nói đến vấn đề sinh sản, mà chỉ nhấn mạnh việc nam nữ tương thân, trợ giúp nhau bằng tình yêu giữa hai người. Nhưng, ngay sau đó, tác giả Khởi nguyên lại viết tiếp trong đoạn 1:26-28 rằng, Thiên Chúa đã nói với cặp hôn nhân đầu tiên ấy: "Hãy sinh sôi, nảy nở trên địa cầu và làm bá chủ vạn vật". Như vậy, theo trình thuật của sách Khởi nguyên, sự kết hợp giữa Adam-Eva và hay hôn nhân giữa người nam và người nữ bao gồm cả hai yếu tố: yêu thương tương trợ và truyền sinh. Thứ đến, trong giáo huấn truyền thống, Giáo hội dựa trên lời phán trên đây của Thiên Chúa và với ảnh hưởng của pháp luật La mã xưa, mà nhìn nhận rằng mục đích ưu tiên của hôn nhân là làm cho nước Chúa thêm đông đúc con cái. (Chúa Giêsu cũng nói: "Nhà Cha ta có nhiều chỗ ở. Nếu không, ta đã nói cho các con biết rồi" Jn 14:2). Quan niệm này đã được khởi xướng vào thế kỷ II, và được nhấn mạnh hồi thế kỷ XII-XIII, thời Giáo hội đại đồng. Tuy nhiên, từ thời Công đồng Tridentinô ở thế kỷ XVI, ý tưởng yêu thương, tương trợ trong hôn nhân đã được đặc biệt đề cao. Ý tưởng ấy cũng được công đồng Vaticanô II (năm 1962) cẩn thận nhắc đến. Công đồng này tuyên bố rõ "Hôn nhân không phải chỉ được thiết lập để truyền sinh mà thôi.nhưng đòi hỏi tình yêu hỗ tương của hai vợ chồng phải được phát triển" ( GS # 50). Tóm lại, theo suy tư thần học hiện nay của Giáo hội, mục đích của hôn nhân là cổ võ tình yêu vợ chồng để hai người tương trợ lẫn nhau trong sứ mạng cao cả của cha mẹ là sinh sản và giáo dục con cái. Người Công giáo ý thức phải mở tâm hồn đón nhận cả hai mục đích chính đáng này trong đời sống hôn nhân. Coi trọng điều này và xem nhẹ điều kia đều không đúng theo lương tâm kitô hữu.
TẠI SAO HỌ THUỘC DÂN NGOẠI? Hỏi: Xin cha giải thích cho chúng con về thắc mắc này. Trong đoạn Phúc âm Gioan 4: 5-42 có viết: ".Chúa Giêsu đến một thành Sykha thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse. Ở đó có giếng nước của Giacóp. Chúa Giêsu gặp một người đàn bà xứ Samaria tại giếng Giacóp". Vậy phần đất này là nơi Giacóp đã ở, nơi Ðất Hứa (.) Hơn nữa, người đàn bà Samaria còn nói với Chúa Giêsu : "Tôi biết Ðấng Messisa mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự". Vậy thì tại sao họ (người Samaria) lại thuộc dân ngoại?Anna Phương - Great Mills, MD Ðáp: Tại sao người xứ Samaria lại (bị coi) là ‘dân ngoại’? Ðọc lại Kinh thánh và lịch sử dân Do thái, ta biết, vào khoảng năm 1000 B.C. (trước Chúa giáng sinh), vua David đã thiết lập vương quốc Israel bao gồm các chi tộc Do thái sinh sống miền bắc và miền nam Ðất Hứa. Ông đặt Giêrusalem làm thủ đô chính trị và tôn giáo qua việc đưa Hòm Bia Thánh về đó. Dĩ nhiên, quốc giáo của Israel thời ấy là Do thái giáo. Ðạo này chủ trương tôn thờ Thiên chúa Ðộc Nhất, theo tinh thần của giao ước nguyên thủy giữa Maisen và Thiên Chúa Giavê trên núi Sinai.Sau Ðavít, vua Salomon nối ngôi và tiếp tục sự nghiệp của cha. Salomon là người nổi tiếng về sự khôn ngoan. Về việc nước, ông tổ chức hành chánh và phát triển kinh tế cách thành công. Tiếc thay, trong vinh quang tràn trề, Salomon đã sớm rơi vào cái bẫy của quyền lực và sắc dục. Thay vì bảo tồn vai trò của một minh quân, Salomon đã dần trở nên ông hoàng quan liêu, độc tài, hà khắc, bất công với dân chúng. Ông có khoảng 700 vợ và 300 cung phi phục dịch cho mình, trong số đó có khá nhiều người ngoại giáo đã du nhập đạo bụt thần vào vương quốc. Salomon đã lãng quên sứ mạng đại diện cho Dân Chúa Giavê trước mặt lân bang. Do đó, sau khi Salomon qua đời, vương quốc Israel huy hoàng đã rạn nứt và sẽ mau chóng sụp đổ. Quả vậy, vào khoảng năm 933 B.C., khi Roboam là con vua Salomon vừa lên ngôi, hành xử của ông đã làm cho Israel bị phân ly làm hai. Miền nam trở thành nước Juda, với thủ phủ là Giêrusalem. Miền bắc là nước Israel, đặt thủ phủ tại Samaria. Sự chia rẽ chính trị này kéo theo sự ly khai tôn giáo, sa đọa về luân lý, xã hội, và sau cùng sẽ dẫn đến hậu quả nước mất, nhà tan, qua 3 lần lưu đầy Babylon. Suốt thời gian nam bắc phân ly, các vua nước Juda thì thuộc dòng dõi Ðavít; vì thế vua và dân còn được coi là hậu duệ Dân Chúa, mong hưởng lời Chúa hứa. Trong khi đó, các vua phương bắc không nằm trong dòng tộc Ðavít. Họ phủ nhận trách nhiệm đại diện cho Dân Chúa. Tình trạng tâm linh của miền bắc thật bi đát. Trước khi mất nước và đi lưu đày Babylon, các vua chúa miền bắc lại tiếp tục lầm lỗi lớn đã xảy ra trước đó. Họ kết hôn với người ngoại giáo. Họ lãng quên giao ước với Giavê, và cho phép du nhập các tôn giáo lạ và tôn thờ các ngẫu tượng. Ví dụ, vua Giêrêboam, một quân chức phản loạn hoàng triều Roboam, đã cho đúc thờ tượng bò vàng và thờ ở Dan và Bêtel. Thủ đô Samaria, cũng nằm trong phần Ðất Hứa, bị biến thành nơi của những tín ngưỡng tạp lai. Về phần dân chúng miền bắc, khi sống chung đụng tự do với các dân ngoại lân bang, họ dần dà tin thờ các tà thần Baan, Astactê, v.v. Và điều này còn trở nên trầm trọng hơn sau cuộc lưu đày. Khi trở về từ Babylon, người Do thái tại Samaria bị đồng hóa trong dòng máu, văn hóa, truyền thống tôn giáo của người Assyria. Họ đã trở nên một sắc dân mới. Vì thế, người Do thái chính thống ở miền nam luôn coi người Samaria là ‘dân ngoại’, và thường nhìn họ với sự khinh miệt, phân biệt. Tóm lại, tuy cũng là con cái Abraham, Isac, Giacóp, và nguyên gốc cũng là đoàn dân mà Chúa đã đưa vào Ðất Hứa, người Samaria đã bị kể là ‘dân ngoại’ vì sự ly khai chính trị, sự tha hóa chủng tộc, và lối sống nghịch lại giao ước với Giavê.
Quỷ Ám và Trừ Quỷû Hỏi: Thưa cha, mới đây con có một người quen hình như bị quỷ ám và làm những điều kỳ lạ. Con nghe nói có một linh mục công giáo đến để làm nghi thức trừ quỷ. Khi bàn đến chuyện này, các con cái trong gia đình con sợ hãi và hoang mang lắm. Xin cha giải thích cho chúng con biết ngày nay có chuyện quỷ ám không? Khi nào thì biết là bị quỷ ám? Giáo hội trừ quỷ thế nào? Xin Dấu Tên Ðáp: Về vấn đề ma quỷ và hoạt động của chúng trong xã hội ngày nay, bạn có thể tìm đọc tác phẩm của Hal Lindsey và C.C. Carlson, đã được tác giả Linh Giao phóng tác ra Việt ngữ dưới tựa đề ‘Satan Vẫn Còn Sống Và Ðang Tung Hoành Trên Mặt Ðất’ (NXB Thế giới, 1992). Nội dung tác phẩm ấy làm cho ta phần nào nhớ lại tư tưởng của Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI năm 1972 rằng: ma quỷ, những tạo vật vô hình, mưu mô, có thật và vẫn còn hoạt động rất mạnh. Nó hành động cách trực tiếp hoặc qua những sự cám dỗ con người. Khi ma quỷ xuất đầu lộ diện cách trực tiếp, chúng thường phá phách và gây nên những hiện tượng kỳ lạ, khác thường (lay động đồ đạc, phá phách, v.v.). Chúng có thể xâm nhập vào một người nào và quấy quất đời sống đương sự. Phúc âm cũng có đề cập đến những trường hợp quỷ ám cụ thể. Thật ra, nhận định để biết khi nào bị quỷ ám thật sự là một việc rất tế nhị và phức tạp. Phương diện tâm lý và tâm linh trong đời sống con người không luôn rõ ràng, cụ thể như phương diện thể lý. Có người tưởng là ‘bị ám’ nhưng sau cùng chỉ là những mặc cảm tội lỗi, sợ hãi ám ảnh, làm lo sợ đến độ mất tự chủ. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm lâu năm của các vị trừ quỷ thì có vài dấu chỉ của tình trạng quỷ ám thực sự. Người bị quỷ ám có thể nói tiếng lạ, thông thạo ngoại ngữ chưa bao giờ học qua, hay bỗng nhiên có một sức mạnh kỳ lạ hơn tuổi tác, sức khoẻ bình thường của mình. Họ hay có những thái độ quái gở, mờ ám, v.v. Ðể nhận diện trường hợp bị quỷ ám, Giáo hội thường rất thận trọng. Nhiều khi, hiện tượng mà mọi người nghĩ là quỷ ám chỉ là những tác động do bệnh thần kinh. Trường hợp ấy cần một bác sĩ hoặc một cố vấn tâm lý hơn là một linh mục. Nếu quả là trường hợp bị ma quỷ ám phá, thì linh mục sẽ làm nghi thức trừ quỷ hẳn hoi. Với nước thánh, lời kinh, câu truyền, vị đại diện Giáo hội sẽ nhân danh Thiên Chúa mà tống xuất ma quỷ ra khỏi nạn nhân. Trong truyền thống Giáo hội công giáo, linh mục nào cũng lãnh nhận ‘chức trừ quỷ’ (mang tính cách biểu tượng) là một trong ‘bảy chức’ (hoặc bảy thừa tác vụ - ministries) của chức linh mục. Nhưng trách vụ trừ quỷ thật sự và đúng nghĩa là một năng quyền đặc biệt (Faculty of exorcisme) do Ðức giám mục ủy thác cách riêng, nhân danh Chúa. Chính các giám mục, với tư cách là những người kế vị các tông đồ, mới có đầy đủ thẩm quyền Chúa ban để khử trừ, xua đuổi ma quỷ, hầu thi hành sứ vụ chăn dắt, dạy dỗ và thánh hóa đoàn chiên. Mỗi Giáo phận thường có một hai linh mục thánh thiện, sáng suốt, được chọn làm công việc trừ quỷ. Có khi các ngài phải khổ công chay tịnh, cầu nguyện, và kiên nhẫn cử hành nghi thức trừ nhiều lần nạn nhân mới được giải thoát. Chúa Giêsu cũng chỉ dạy các tông đồ rằng có "giống quỷ không chịu ra nếu (.) không ăn chay, cầu nguyện" (Mt. 17:21). Home |
Nguyet San | Bao Moi |
Bao Cu | Mua Bao |
|