Cô Gái Israel Paul Diệp Quốc-gia, dân-tộc, gia-đình là khung-cảnh Thiên-Chúa đã đặt định để hành-động. Càng đi sâu vào các thực-tại của thế-giới Do-Thái, chúng ta càng thấy rõ công-trình của Chúa nơi cô gái của nước Israel - hoàn-toàn giống như các người đồng-hương của cô và càng có thể giải-thích cách chính-xác những gì Kinh-Thánh nói về Maria. I. Một Cô Gái Nơi Một Làng Xứ Pha-Lệ-Tinh, Dưới Thời La-Mã Ðô-Hoä Thời-kỳ mà Maria lớn lên cũng không tránh khỏi những xáo trộn chính-trị. Mặc dù không muốn nhắc lại hết lịch-sử Israel, chúng ta cũng nên biết: Sau khi đế-quốc Ba-tư bị sụp đổ vì các cuộc tấn công của Alexandre Ðại đế, xứ Giuđêa vẫn còn giữ nguyên cơ cấu hành-chánh và tính chất của nó. Tổ-chức ấy đã đứng vững, mặc dù các cố gắng của những nhà hữu-trách kế-vị Alexandre, mưu-toan Hy-lạp hóa đất đai bị chiếm. Ngoài ra, nhờ sự chổi dậy của anh em Ma-ca-bê, chống lại vua An-ti-ô-khô IV, Giê-ru-sa-lem có một vị-thế gần như độc-lập. Khi Israel bị Ðế quốc La-mã chinh-phục (năm 63 trước Chúa Giáng-sinh), xứ Giu-đê-a giữ nguyên tình-trạng trước. Dù vậy, Rô-ma thực-hiện được phần nào việc kiểm-soát nhờ trung-gian của Hê-rô-đê, vua xứ Giu-đê-a nhưng phục-lụy quyền-hành của đế-quốc đô-hộ. Vì chế-độ "bảo-hộ" ấy nên thường xảy ra những cuộc bạo-động với ít hay nhiều đổ máu. Sau khi Hê-rô-đê đại-đế chết (năm thứ 4 trước Chúa Giáng-Sinh), xứ Giu-đê-a trở thành một tỉnh của đế-quốc La-mã, trong khi xứ Ga-li-lê-a, dưới sự cai-trị của Hê-rô-đê An-ti-ba (2) giữ được thể-chế độc-lập, ít ra là bên ngoài. Người dân xứ Ga-li-lê-a bị người xứ Giu-đê-a miệt-thị vì được xem như là ngu dốt và sống lẫn lộn với người ngoại đạo. Nhưng người Ga-li-lê-a cũng như Giu-đê-a đều rất căm-thù người La-mã đô-hộ. Ðền thờ Giê-ru-sa-lem được xem như là tổ nuôi dưỡng sự kháng-cự của quốc-gia Do-Thái. Dưới mắt người La-mã, dân Do-Thái là một dân kỳ-lạ, bị cô-lập bởi đức tin và Lề-luật của họ. Sự thôn-tính xứ Pha-lê-tinh, bởi một đế-quốc xa lạ, được tiên-báo trước trong lời tiên-tri liên-hệ đến việc Ðấng Mê-xi-a sẽ đến. Xứ Pha-lệ-tinh, mặc dù có nhiều quốc lộ thương mại xuyên qua, là một xứ nông-nghiệp và chăn nuôi. Các đô-thị thuộc hạng trung-bình, ngay cả Giê-ru-sa-lem chỉ được đông-đảo dân chúng trong những dịp hành-hương lớn mà thôi. Na-za-rét, thuộc xứ Ga-li-lê-a, chỉû là một thôn xóm nhỏ, vô-danh đối với các quốc-gia. Trong danh xưng "Giêsu ở Na-za-rét" hoặc là "Giêsu người ở Na-za-rét" ẩn dấu một sự khinh bỉ đối với người Do-Thái ở Giu-đê-a. Họ đã chẳng nói: "Từ Na-za-rét, đã có cái gì hay xuất hiện đâu?" (Yn 1, 46) sao? Cũng lẽ ấy, khi nhắc đến "Maria ở Na-za-rét", một sự miệt-thị tương-tự là dĩ-nhiên. Thấm nhuần bởi những tập-tục tôn giáo, dân tộc Do-Thái sống dưới chế độ thần-quyền: quyền bính ở trong tay của các đại gia-đình Thầy Cả và bộ-hạ cùng người Xa-đốc bắt tay với nhà cầm quyền La-mã và giữ độc quyền về các tài sản. Một giới khác: Người Pha-ri-sêu, rất ngoan đạo, giữ Lề-luật một cách rất tỉ mỉ và để Lề-luật chế ngự tất cả đời sống đến từ chi-tiết. Còn giới tiểu công nghệ, được gọi là các Ký-lục, được dân chúng tôn trọng, cũng có một ảnh hưởng lớn. Các người "cuồng nhiệt" là những người quốc-gia, có tinh thần bạo động: Họ không ngần ngại hô hào phải dùng võ-lực để cất ách đô hộ. Trong số các người nầy, có Tông đồ SIMON (3). Vì xã hội Do-Thái được chia ra nhiều phe như vậy nên ở trong tình trạng xáo trộn thường xuyên, với các luồng tư tưởng trái ngược: Tin tưởng nơi Ðấng Mê-xi-a (Ét-xê-nhen, Báp-tít); chỉ biết có Lề-luật (Pha-ri-sêu); cuồng-nhiệt hay cách-mạng (các nhà ái-quốc). Quyền-hành của một nhà vua ngoại-lai (Hê-rô-đê đại-đế), vô tôn-giáo và độc tài, không được ủng hộ. Bởi thế, khi vua nầy chết, chỉ một thời gian ngắn sau, quân đội La-mã đã đặt quyền thống-trị trực tiếp trên Giê-ru-sa-lem. Bầu không khí bất ổn và khơi động tôn-giáo ấy là bối cảnh những năm đầu tiên của cuộc sống của cô Maria. II. Một Người Ðàn Bà Do-Thái Trung-Thành Với Lề Luật Một dân-tộc đạo Nguyện vọng sâu xa của người Do-Thái là sống đúng với ý muốn của YAVÊ. Theo tâm trạng Do-Thái, có tính cách thánh thiêng, trước tiên là Thiên-Chúa. Kế đó là tất cả gì có liên hệ đến Chúa, đến sự hiện diện và sự thờ phượng Chúa. Thiên Chúa là một thực tại luôn luôn có mặt chứ không phải là một ý nghĩ, ý tưởng có thể tin hay không cũng được. Một năm của Do-Thái được nhịp nhàng bởi ngày Sa-ba-tô, ngày thứ bảy trong tuần lễ, từ xưa đã có tính cách là ngày lễ bậc nhất của Israel. Sự tôn trọng ngày Sa-ba-tô có liên-hệ đến sự trung thành với trật tự siêu nhiên do YAVÊ nhất định cho dân Ngài. Nó đặt căn bản trên nhiệm vụ bắt chước chính YAVÊ, vì chính YAVÊ đã nghỉ ngơi sau khi đã tạo thành vũ trụ. Luật của ngày Sa-ba-tô dần dần thêm chặt chẽ hơn. Và chúng ta có thể ghi nhận tính cách tỉ mỉû, quá bó buộc của nó qua nhiều đoạn Phúc-Âm. Là ngày nghỉ ngơi, nó được dành cho sự hoan lạc trong Thiên Chúa: dâng hiến lễ vật, giúp cho dân chúng học hỏi về tôn-giáo, co các Thầy Cả và các Tấn-sĩ thuyết-giảng. Các việc làm hay mua bán đều hoàn-toàn bị cấm trong ngày ấy. Năm phụng vụ được phân chia bởi 3 cuộc hành hương lớn: PESSAH, SHABUÔT và SUCCÔT, là những dịp dân chúng tụ tập đông đảo ở Giê-ru-sa-lem, những cuộc tụ tập thường được các Thầy Cả nhắc nhở, khuyến khích. Luca, thánh sử, đã viết là Maria và Giuse, hằng năm, đi Giê-ru-sa-lem để mừng lễ PESSAH (Pâque hay "Vượt Qua") (Lc 2, 41). PESSAH (Lễ Pâque, một tiếng có nghĩa là sưï "vượt qua" để nhớ lại việc ra khỏi nước Ai-cập và những biến cố gắn liền với việc giải phóng dân Do-Thái). Lễ này là lễ của Mùa Xuân. Bắt đầu từ khi thiết lập đền thờ Giê-ru-sa-lem, lễ Vượt Qua trở thành một cuộc hành hương khổng lồ cho các tầng lớp dân chúng. Từ bốn phương của quốc gia, các đoàn người kéo đến Giê-ru-sa-lem để dâng lễ vật, để phụng thờ YAVÊ đã giải phóng họ. SHABUÔT (Lễ Pentecôte = Lễ Năm Mươi) được cử hành 7 tuần lễ sau lễ Vượt Qua. Ðó là ngày lễ "khởi-nguyên". Trong dịp này, có những tiến tế và thanh tẩy: dâng của lễ, tưới nước , hy tế đặc-biệt trong ý nghĩa dân tộc Israel được giải-cứu. Lễ Năm Mươi nhắc lại việc YAVÊ đã ban Mười Giới Răn trên núi Sinai và tái lập giao-ước với dân của Ngài. SUCCÔT (Lễ Lều), được tổ chức vào Mùa Thu, sau các mùa màng. Nghi lễ kéo dài một tuần lễ và thêm ngày thứ 8 để bế mạc. Những lều được dựng trong các vườn hoặc trên các sân thượng để nhắc nhở thời-kỳ các nông gia phải ở xa nhà để hoàn tất nhanh chóng các công việc đồng áng. Theo ý nghĩa tôn-giáo: nhắc lại thời gian dân Chúa phải lang thang, 40 năm trời, trong sa mạc. Ngoài 3 cuộc hành-hương, còn thêm 2 đại lễ khác: - ROSH ASHANA (Lễ đầu niên) - YOM HAKIBURIM (Lễ đền tội hay thục tội) Dân chúng tấp nập kéo đến Giê-ru-sa-lem vì sự huy-hoàng của các nghi lễ. Họ đem theo tiền để đóng thuế thập phân và đồ vật để cung hiến hầu được tẩy xóa các tội lỗi. Sau khi làm tròn bổn phận, họ có thể thảnh thơi vui chơi. Các người hành-hương đàn hát, đem các trái trăng của đồng ruộng hoặc các chiên cừu đầu lứa làm lễ vật, đặt trên bàn thờ để hiến-tế. Người Do-Thái sống trong một xã-hội đặt nền tảng trên sự dâng hiến. Vì tất cả là do YAVÊ ban cho, nên cần được đáp ứng lại bởi lễ dâng, dấu chỉ của lòng tri-ân và sự khuất phục. Lễ dâng là điều bó buộc, trong nhiều trường hợp đặc-biệt. Thí-dụ: một người đàn bà, khi đã xong thời gian ở cữ, nếu sinh con trai, thì phải dâng một con chiên, sau 40 ngày. Nếu người ấy nghèo thì phải dâng 2 con chim cu (chim gáy) hoặc 2 con bồ câu tơ để thay thế. Một con để làm lễ thiêu hy-sinh và một con để được tha tội. Ðó là nghi lễ mà Maria và Giuse đã thực thi sau khi Giêsu được sinh ra (Lc 2, 22) với tư-cách là người Do-Thái tôn trọng Lề-luật và trong tư thế người nghèo. Mặc dù mong muốn đến Ðền thờ ở Giê-ru-sa-lem, vì là nơi Thiên Chúa ngự, người Do-Thái cầu nguyện ở mọi nơi và mọi lúc. Sự cầu nguyện là một sự đối thoại không ngừng với Ðấng tạo thánh vũ-trụ. Họ cầu nguyện nhờ Thánh Vịnh cùng các Thánh Thi khác, được xướng lên để làm căn bản cho cuộc đối-thoại. Ðền Thờ là trung tâm của đời sống tôn-giáo của dân Do-Thái. Vào thời của Maria, Ðền thờ được xây dựng bởi Hê-rô-đê đại-đế, một công trình kiến trúc đẹp đẽ với cách cấu tạo đặt trên những nguyên cớ thần-học: YAVÊ là trung điểm mà một người Do-Thái sùng đạo phải hướng đến trong cuộc hành trình của mình. Ðền thờ là một "tiểu vũ-trụ" nói lên, ngay trong cách kiến trúc, ơn gọi riêng của dân-tộc Israel, dân-tộc được tuyển chọn và được đặt định để làm trung gian bào chữa cho sự cứu thoát của tất cả mọi người. Từ bình minh tới lúc mặt trời lặn, nơi Ðền thờ, các hiến-tế được cử hành liên tục, đúng theo nghi thức được ghi nơi Lề-luật. Khả năng ghi nhớ của các dân tộc ở miền cận đông là một tác động có tính cách tôn-giáo: thiếu ghi nhớ (ký ức) là một trong những "tội" mà YAVÊ đã quở dân Israel. Khả năng này được phát triển đến tột độ. Nhờ nó mà sự di-truyền nguyên vẹn các bản văn và các giáo huấn của cổ nhân được thực hiện, qua nhiều thế hệ. Ðược luyện tập bỡi một cách hành xử bất biến, khả năng ấy là một yếu tố chắc chắn của sự khôn ngoan. Nếu bài hát "Magnificat" diễn tả một cách tài tình Kinh Thánh, chỉ vì, hơn các phụ nữ Do-Thái ngoan đạo khác, Maria đã "giữ và suy-niệm trong lòng", từ thuở thơ ấu, các đoạn Kinh Thánh được linh hứng. Chú thích: (1) ". Khi thời-gian tới hồi viên-mãn, Thiên-Chúa đã sai Con mình
tới, sinh làm con một Người Ðàn Bà, và sống dưới lề-luật." (Gl
4,4) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu |