Chuyến Ðò Thời Gian

Lâm Lưỡng Thắng

Trong những ngày vừa qua, lục bình trôi về bao phủ con sông nhỏ. Gọi là sông, nhưng thật chỉ như một con kênh lớn. Chiều rộng của giòng sông vừa đủ cho hai chiếc ghe chèo đi ngang qua. Con sông chảy dài, uốn lượn dọc theo những thôn làng, những căn nhà lá dọc theo hai bờ. Ðối với người dân thôn quê nơi đây, con sông nhỏ này là nguồn sống. Với trẻ thơ, con sông là nơi vui đùa của kỷ niệm thời thơ ấu. Với những cặp trai gái, con sông là nơi hẹn hò. Với những ai buôn bán hàng rong, con sông là nguồn sống của cuộc đời. Riêng bản thân giòng sông, nó đã chứng kiến nhiều thế hệ qua đi. Nó đã giúp đưa những ngày vui cưới, hỏi. Nó đã là con đường tiễn đưa người quá cố đến nơi an nghỉ sau cùng. Giòng sông thanh thản và im lặng chảy mãi theo thời gian cùng với cuộc sống của người dân chất phát nơi thôn quê.

Vào những tháng mưa về nhiều, thì lục bình từ trên ngạn nào mà đổ tràn về đây che kín những khoảng sông. Lục bình chen chúc nhau, nép sát vào nhau mà thả mình, để giòng nước đục với phù sa đưa chúng trôi qua những ngôi làng nhỏ dọc theo hai bên bờ sông. Ông Năm Lái ngồi cuối mạn ghe, nhâm nhi điếu thuốc vấn. Có một ít thuốc thấm vào đầu lưỡi làm ông thấy đắng miệng. Ông phun phì phèo và ngả mình với lấy cái bình nhựa đựng nước. Quăng đi điếu thuốc, ông dốc bình nước và uống một ngụm nước dài. Hơn một tuần qua, chuyến đò của ông hơi ế ẫm, vì ít người đón ghe để đi ra chợ trong tháng mưa dầm dề này. Hoạ hoằn thì có vài người, nhờ bắt được những mẻ cá lóc lớn, mới đem ra chợ để bán. Chưa đến mùa thu hoạch lúa. Trên các cánh đồng, lúa đã trổ bông, nhưng vẫn còn màu xanh non rộng khắp. Khi mùa thu hoạch chưa đến, thì người dân thôn quê nơi đây ít tiêu xài. Ðồng tiền kiếm được, hầu hết là nhờ các vựa lúa sau mùa gặt hái. Còn trong tháng này thì chẳng có mấy ai dư tiền để ra chợ mua sắm. Nếu có gì cần thiết, thì người dân có thể mua qua các ghe bán hàng rong, và thậm chí có thể mua thiếu chịu cho đến ngày thu hoạch lúa thì sẽ trả sau.

Ông Năm Lái nhìn đám lục bình mà cảm thấy ngao ngán. Lục bình nhiều như vậy sẽ rất khó cho ghe xuồng qua lại. Nếu nhiều như thế, thì cứ chạy một khoảng là ông Năm phải tắt máy, dừng ghe lại. Rồi ông dùng con dao nhỏ mà cắt rễ lục bình vướng đầy chung quanh đuôi máy tàu. Ông ngắm nhìn chiếc ghe chạy bằng máy dầu đuôi tôm của mình mà lòng cảm thấy hãnh diện. Tuy không phải là ghe mới, nhưng hàng năm, ông sơn phết lại và trét dầu chai để tránh các lỗ mọt khiến nước chảy vào lòng ghe.

Mưa lốp đốp rơi. Không hối hả, nhưng hạt mưa trông trĩu nặng khi chúng va vào mặt đất và giòng nước. Con sông nổi bọt khi những hạt mưa rơi trên thân nó. Ông Năm lấy tấm cao su trùm kín người. Ông đã quen rồi với mưa nắng. Toàn thân ông cứng cõi vì dày dạn với công việc nặng nhọc. Ông ít khi mang dép, nhất là vào mùa mưa, vì sình lầy nhão nhẹt ở khắp mọi nơi. Thật ra thì ông có một đôi dép đem theo để phòng lúc cần dùng, nhưng thường thì ông để chúng nằm yên dưới mạn ghe, không đụng đến. Mưa vẫn tiếp tục rơi. Ông Năm Lái kiên nhẫn ngồi chờ khách.

Chỗ ông Năm đậu ghe có tên là Hai Cống. Vì ngay chợ, có hai cái cống dẫn nước từ con sông nhỏ, chảy ra một con sông khác, lớn hơn rất nhiều. Cho nên, người ta đã đặt tên cho làng theo hai cái cống dẫn nước đó. Nơi đây là khu làng của người Bắc di cư vào nam năm 1954. Họ đã lập nghiệp và gầy dựng nên con làng này. Sinh hoạt khắng khít. Nơi đây, người ta cho nhau tình yêu thương đùm bọc của láng giềng. Có một ngôi nhà thờ ở giữa làng. Tuy không lớn, nhưng là một công trình và là niềm tin yêu, hãnh diện của dân làng. Khi bóng chiều ngã dần về với đêm, thì nhiều người đến trước sân nhà thờ, tụ họp, thăm hỏi sau các Thánh Lễ. Trẻ em thì yêu thích nhà thờ lắm, vì chúng có thể đến tụ chơi trước sân nhà thờ. Nơi đây là thôn quê, các em không có niềm vui của các cuộc giải trí như xem truyền hình, phim ảnh. Không có điện. Tối đến là thắp đèn dầu. Vào những đêm trăng sáng, nhà thờ là nơi người ta gởi gắm niềm tin, tâm tư, tình cảm bằng những sum họp và ca hát quây quần bên ngọn lửa rơm được đốt sáng trước sân nhà thờ. Cách không xa, là ngôi trường làng với các lớp dành cho tiểu học và trung học. Trường học này đã nhận cả các em đến từ nhiều thôn làng lân cận. Nếu chạy dọc theo con sông nhỏ, bắt nguồn từ hai cái cống lớn chạy ngược về, mãi cho đến khi gặp một ngã năm của con sông, thì đó là phần cuối của làng Hai Cống. Từ ngã năm đó, sẽ dẫn đến các ngôi làng khác nhau.

Ông Năm Lái là người Nam. Làng ông ở mang tên là Mân Bối. Trước năm 1975, nơi đây hoang dại hơn rất nhiều, vì ít người ở. Vào thời ấy, cá, rắn, rùa, tôm dễ dàng bắt lấy. Chúng sinh sản nhiều vô số kể. Nhưng bây giờ thì khác hẳn. Sau thời cuộc năm 1975, nhiều gia đình trên thành thị đã di cư về miền thôn quê hẻo lánh này để sinh sống. Những gia đình còn gìn giữ được ít tiền thì mua ruộng và ra công cày cấy. Nhiều nhà mới mọc lên. Nhiều khu vườn ăn trái còn tươi trẻ. Làng xóm ồn ào và náo nhiệt hơn xưa. Thế rồi số lượng cá cũng dần dần hiếm hoi đi. Rùa thì không còn lấy một con. Tôm thì chỉ có trong những ao hồ được người ta nuôi dưỡng mà thôi. Cuộc sống bắt đầu thay đổi. Nhưng lợi cho ông Năm Lái là ông đã có thêm nhiều khách hàng. Thỉnh thoảng, người ta cũng mướn ghe máy của ông trong những dịp cưới, hỏi. Ông đã từng đưa nhiều cô dâu đến nhà chồng trên chiếc ghe máy đuôi tôm của ông. Ông cũng đã nhiều phen đưa người bệnh ra thị thành cấp cứu. Rồi ông cũng đã từng tiễn đưa người quá cố trên chiếc ghe thân yêu của mình. Dân làng thương mến ông và đặt cho ông tên gọi là ông Năm Lái, vì ông là người duy nhất lái ghe tàu trong trọn cuộc đời của mình, từ khi còn trẻ. Dần dà rồi quen, ông xem tên gọi đó như là tên ruột của mình vậy.

Tuyến đường hàng ngày ông chạy là từ Mân Bối ra đến Hai Cống mà thôi. Nếu chạy đều và ít ghé vào bờ, thì mất gần hai tiếng thời gian. Nhà của ông ở tận mãi cuối làng Mân Bối. Mỗi sáng, ông dậy lúc năm giờ, hoặc khi gà gáy đợt đầu tiên.

Chuẩn bị mọi việc. Nhâm nhi tách trà nóng cùng điếu thuốc rê. Sau đó thì ông nổ máy ghe rồi chạy dọc theo giòng sông mà đón khách. Người dân ở đây ai cũng quen với giờ làm việc của ông. Thường thì khách đứng chờ hai bên bờ sông. Khi ghe của ông còn cách khá xa, thì mọi người đã nhận ra tiếng máy tàu quen thuộc. Ông Năm Lái là người duy nhất trong làng Mân Bối không làm ruộng. Tuy có mảnh ruộng nhưng ông cho người khác thuê với giá rẻ. Ðời sống cô độc không thích hợp trong việc cày cấy. Vợ của ông đã qua đời gần 6 năm về trước. Bây giờ thì ông đã gần bảy mươi rồi và chưa hề có mụn con. Tuổi già thì làm sao mà gánh vác nỗi việc đồng áng. Ông chỉ có mỗi khu vườn trồng ít cây ăn trái quanh nhà và đàn gà mà thôi. Ðời sống thật cô độc.

"Bác Năm!" Có tiếng người gọi. Ông nhận ra ngay giọng nói quen thuộc của Tân, người linh mục trẻ và cũng là người bạn thân của ông. Ông kéo tấm cao su xuống khỏi đầu, miệng cười và đáp lời:

"Hôm nay mưa quá xá mà cha đi đâu vậy?"

"Cháu đi ra chợ mua ít đồ dùng cần thiết, sẵn ghé qua nhắc bác trưa nay nhớ đến chỗ cháu để đọc sách tiếp." Người linh mục trẻ trả lời.

"Ờ.để tui coi coi." Ông Năm lấy tay gãi đầu và uể oải trả lời, vì ông đang ngao ngán trời mưa và đám lục bình quá nhiều trên sông.

Người linh mục đứng trên bờ nói vọng xuống:

"Ráng đi bác, đừng lười biếng. Cháu đợi bác tại phòng họp mặt vào lúc hai giờ nhé."

"Ờ, mà thôi xuống ghe đây để tui chở cha về, đi bộ làm chi, sình quá trời."

"Thôi bác chờ khách đi. Chở tới chở lui mắc công lắm. Mà lục bình nhiều như vầy thì khó cho bác lắm. Thôi chào bác. Cháu đi bộ được mà."

Nói xong, người linh mục trẻ quày quả bỏ đi như sợ đứng lâu thì ông Năm sẽ bắt anh lên trên ghe mà chở về. Ông Năm nhìn theo Tân, người linh mục coi quản nhà thờ tại làng Hai Cống, mà cảm thấy thích thú. Cả đời ông mặc dù được hầu hết người trong các làng biết đến, nhưng chưa bao giờ ông có một người bạn thân tình như Tân. Từ ngày quen biết Tân, ông thấy mình có thêm nhiều hiểu biết và thấy bớt đi nỗi niềm lẻ loi từ khi vợ ông qua đời. Mưa vẫn tiếp tục rơi. Ông Năm lặng lẽ che tấm cao su lên khỏi đầu. Ông ngồi đó, co ro và thầm nhớ lại lần đầu tiên gặp gỡ linh mục Tân.

* * *

Cách đây vài tháng, vào mùa nắng ráo, ông Năm chở được nhiều khách lắm. Có một hôm, sau khi ông cặp ghe vào một cây cầu nhỏ đưa hành khách lên bờ. Và vì ghe trống, ông quyết định ngồi nghỉ ít lâu cho khuây khoả. Ông lơ đãng nhìn lên bờ. Trước mặt hiển hiện ngôi nhà thờ mà thường ngày ông Lái ghe ngang qua, nhưng không màng chú tâm đến, hôm nay trông khác thường và toả ra một niềm yên tĩnh lạ. Ánh nắng ban trưa dọi xuống mái nhà và gác chuông, toả lên một sức sống mãnh liệt. Những cây dừa và cây chuối chung quanh trông như đang nghiêng mình cúi chào ngôi nhà thờ. Có tiếng nước vang lên âm thanh róc rách nhè nhẹ, khi vài chiếc xuồng ba lá chèo ngang qua trên con sông nhỏ. Âm vang của tiếng nước nghe như lời ca reo mừng và ngợi khen khung cảnh trước mặt. Trong giây phút ấy, thời gian như ngưng tụ lại khi ông Năm say sưa ngắm nhìn khung cảnh đẹp đang hiển hiện. Lòng ông gợi lên sự tò mò muốn tìm hiểu về ngôi nhà thờ. Ông lẵng lặng cột ghe vào chân cầu, rồi bước lên bờ.

Mỗi bước chân đi, tựa như có một luồng sức mạnh cuốn ông tiến đến gần nhà thờ. Càng lúc càng khắn khít, thúc dục nhiều hơn nữa. Nắng trưa toả khắp chung quanh tựa những luồng hào quang sáng chói, làm ông Năm phải nheo mắt lại để nhìn cho rõ. Mảnh sân rộng trước nhà thờ có nhiều đám cỏ dại đang nghiêng nghiêng mình theo chiều gió, như thể chúng đang đón chào và mời gọi người đàn ông cô độc đến với nơi chốn của yêu thương, của đoàn tụ. Trong cuộc đời tảo tần, chất phác của mình, ông Năm Lái chưa hề đối diện với một khung cảnh đẹp như vậy. Ông chiêm nghiệm nét đẹp của ngôi Thánh Ðường, và tâm tư đó đã hướng ông tiến thẳng vào bên trong nhà thờ.

Cửa chánh nhà thờ có hình vòng cung. Hai bên là hai dãy ghế đơn sơ, chạy dọc suốt cho đến gần với bàn thờ. Bàn được đặt trên một cái bục cao hơn. Sống ở vùng quê nầy đã hơn sáu mươi năm, nhưng hôm nay là lần đầu tiên ông Năm bước chân vào ngôi nhà thờ. Hình ảnh đầu tiên gây ấn tượng mạnh trong lòng ông là cây Thánh Giá với hình tượng Chúa Giêsu bị đóng đinh được treo trên tường cao, ngay phía sau bàn thờ. Người đàn ông chất phát, quê mùa dừng chân lại và ngắm nhìn Thánh Giá. Là người ngoại đạo, và thất học, trong tâm tư ông chưa hề có một ý niệm gì về Chúa Giêsu hay là lòng đạo công giáo ra sao. Nhưng ngay trong giây phút đó, ông cảm thấy hình ảnh của Người bị treo trên Thánh Giá sao mà toả ra nét trìu mến và tha thiết lạ. Ông Năm tự nhủ lòng:

"Trông thật tội nghiệp, Người này đang bị treo lơ lững, đang bị hành hình."

Ông khẽ bước nhẹ nhàng, tiến đến gần hơn để ngắm nhìn Thánh Giá. Không gian im lặng. Tĩnh mịch. Không có tiếng động. Nắng vẫn sáng rực rỡ bên ngoài nhà thờ. Ông Năm có cảm tưởng như mình đang đi trong mơ.

Khi đến gần sát bàn thờ hơn, ông mới có thể nhìn rõ Thánh Giá Chúa Giêsu. Ông sững sờ nhận ra hình ảnh Chúa đang bị đóng đinh. Khuôn mặt Chúa khẻ cuối xuống phía dưới. Ngài có chết thật không? Có phải Ngài đang mỉm cười trong chấp nhận hy sinh? Ai đã ra tay đóng đinh Người vào thập giá? Người đã làm nên tội tình gì?

Một luồng gió thoảng xuyên qua khung cửa sổ, bay vào nhà thờ, rồi chạm nhẹ lên người ông Năm. Một cảm giác mát lạnh khiến ông thấy lòng thư thới sau ngày làm việc cực nhọc. Bỗng nhiên, một chú chim nhỏ bay lạc vào nhà thờ và đậu trên cạnh bàn dâng Lễ Vật. Con chim nhỏ đứng đối diện với người đàn ông già nua, có khuôn mặt khắt khổ vì lao nhọc. Nó bình thản đứng đó, không hề nao núng hay sợ sệt trước sự hiện diện của một con người. Ông Năm nhìn chú chim, rồi bỗng dưng lòng ao ước được kết bạn với con chim nhỏ. Ông ước gì lòng mình cũng có cánh chim như thế, để có thể thả bay đi những phiền trược trần gian. Ông mong ước lòng mình cũng bay được như cánh chim chiều nay.

Có bóng người di động sau dãy ghế. Chú chim nhỏ bay ra khỏi nhà thờ từ khung cửa sổ. Ông Năm giật mình vì nhận ra có người khác đang ở tại hiện trường. Từ khi bước chân vào nhà thờ, ông không chú ý đến mọi việc chung quanh. Ông xoay người lại, thì ra đó chính là một linh mục. Người linh mục trẻ với nét mặt vui tươi nhưng cương nghị. Ông Năm cảm thấy ngượng ngùng vì bị bắt gặp trong một hoàn cảnh như vậy. Người linh mục trẻ lên tiếng:

"Chào bác. Tôi là linh mục ở đây. Không biết có thể giúp gì cho bác không ạ?"

Ông Năm chưa gặp qua người này bao giờ. Chắc hẵn đây là người mới đến cư ngụ tại làng Hai Cống, vì đây là khuôn mặt lạ. Ông hơi ngập ngừng trong giây phút, rồi nói:

"Chào anh. Từ nhỏ tới giờ, tui chưa hề vô nhà thờ. Bữa nay sao thấy nó đẹp quá mới thử vô xem cho biết."

Linh mục trẻ nhận thấy có một điều gì đó hơi khác biệt nơi con người này. Anh đoán biết ông không phải là người công giáo. Ông đi chân trần. Tay mân mê chiếc nón cũ kỹ. Khuôn mặt khắc khổ. Ðôi mắt sâu đượm nét của một tâm hồn nhạy cảm.

Có phải Chúa đã cố tình dẫn đưa người này đến với anh? Anh mới được bổ nhiệm đến coi sóc đàn chiên ở đây chưa được tròn một tháng. Mọi sự còn mới mẽ quá. Linh mục mở lời:

"Bác ở làng nào vậy? Có gần đây không?"

"Nhà tui ở làng Mân Bối. Chắc anh mới đến đây ở, nên không biết đâu. Tui chạy ghe chở khách từ đó ra làng Hai Cống này mỗi ngày. Ði ngang qua đây chẳng rõ bao nhiêu lần, mà đâu có thèm để ý gì đến nhà thờ nầy đâu. Tui ở đây trước khi người ta cất cái nhà thờ này nữa đó."

"Cháu mới đến đây được hơn hai tuần, còn lạ với nhiều người lắm. Mời bác vào nhà sau uống nước."

Ông Năm cũng cảm thấy mến người linh mục trẻ. Hơn nữa, trong lòng ông vẫn còn thích thú, muốn nán lại nhà thờ lâu một tí. Ông theo linh mục bước ra khỏi nhà thờ qua cửa hông, rồi theo con đường lát gạch nhỏ đi vòng ra phía sau. Ngay sau nhà thờ có một dãy nhà khá dài được chia thành năm phòng. Chung quanh trông tươm tất và giữ gìn sạch sẽ. Ông theo linh mục bước vào phòng đầu tiên bên tay trái của dãy nhà.

"Mời bác ngồi. Nãy giờ quên giới thiệu. Cháu tên là Tân là linh mục coi quản nhà thờ làng này."

"Ủa, vậy còn ông cha Sơn đâu?" Không đợi Tân nói hết lời ông Năm đã hỏi.

"Cha Sơn được chuyển đi nơi khác rồi bác ạ." Vừa nói, Tân vừa rót trà mời ông Năm. Nhìn quanh, ông Năm biết đây là phòng tiếp khách. Ông ngồi đối diện với Tân trước một cái bàn dài vừa đủ kê được sáu chiếc ghế. Trên tường treo cây Thánh Giá, nhưng không có hình tượng Chúa Giêsu. Ngay bên dưới là một kệ sách được xếp ngay ngắn, thẳng tắp. Ngăn trên cùng có tượng Mẹ Maria được làm bằng thạch cao màu trắng. Ông Năm hắng giọng và nói:

"Tui cứ tưởng là cha Sơn sẽ ở đây suốt đời ấy chứ."

"Thưa không. Cha được bổ nhiệm công việc ở giáo xứ khác lớn hơn. Nơi đây nhỏ, dễ cho những linh mục mới nhận việc như cháu."

"Mà có một mình thì làm sao anh lo hết công chuyện?"

"Những người ở đây giúp cháu rất nhiều. Một lát nữa sẽ có người đến phụ quét dọn nhà thờ và sân trước."

Gió trưa thoang thoảng thổi vào qua khung cửa sổ. Ông Năm cảm thấy thoải mái và thích nán lại nơi đây lâu hơn. Ông nhấm một ít trà thơm. Trà ngon tuyệt. Ông sực nhớ là mình chưa giới thiệu tên với linh mục nên vội vàng để cốc trà xuống và nói:

"Ừ quên, người ta gọi tui là ông Năm Lái, tại tui lái ghe tàu từ Mân Bối ra đây. Còn tên ruột là Năm Chịnh. Tui làm nghề này hơn nửa đời người rồi. Có lúc cũng mệt mà riết rồi cũng quen."

"Hồi nãy, tại sao bác vào nhà thờ?" Tân bắt đầu muốn tìm hiểu về ông.

Bây giờ thì ông ấp úng vì không biết phải trả lời sao cho thoả đáng. Vì thích thú với cảnh đẹp? Có thể trả lời như vậy. Ông liền nói:

"Hổng biết sao mà hồi nãy tui thấy nhà thờ đẹp quá. Muốn vào xem cho biết vậy mà." Rồi sực nhớ đến cây Thánh Giá và Chúa Giêsu, ông tiếp lời: "Cái tượng bên nhà thờ treo hình ai vậy?"

Tân đoán biết ngay là ông hỏi về Thánh Giá Chúa Giêsu, vì anh đã chứng kiến ông ngắm nhìn Thánh Giá khi bước chân vào nhà thờ. Anh trả lời:

"Khi nãy, bác nhìn tượng Chúa Giêsu đó. Ngài là Thiên Chúa. Người công giáo đến nhà thờ để cầu nguyện với cảm ơn Thiên Chúa đó bác ạ."

"Người công giáo là người theo đạo Thiên Chúa?" Ông Năm tò mò hỏi.

"Vâng, đúng vậy. Còn bác có phải theo đạo thờ ông bà không?"

Ông nhấm ngụm trà, cười rồi trả lời:

"Tui đâu có thờ phượng gì. Hồi bà xã còn sống thì lạy trời đất. Bây giờ bả chết rồi, tui chỉ đốt nhang cho bả thôi. Tui ở một mình, chả có con cái gì hết."

"Ở một mình chắc nhiều lúc cũng buồn. Bác có thích đến đây nói chuyện với cháu thường xuyên không? Cháu rất vui đón tiếp bác." Tân thầm cầu xin: "Lạy Chúa, xin cho con giúp đưa con chiên cô đơn này trở về với đàn chiên của Người."

Ông Năm có vẻ ngần ngừ.

"Vậy à? Ừ. Tui cũng thích lắm.Mà tui đâu phải là có đạo đâu! Nếu đến đây hoài có sao không?"

"Không có gì đâu, bác đừng ngại. Rảnh thì bác cứ đến đây, cháu sẽ đọc truyện về cuộc đời Chúa Giêsu cho bác nghe, để bác biết rõ Ngài chính là Thiên Chúa." Tân khấp khởi mừng thầm vì thấy có tiến triển tốt. Anh khẽ nhìn khuôn mặt ông Năm xem phản ứng thế nào. Ông với tay cầm chiếc nón cũ rách mà bẻ vặn vẹo tựa như đang vắt cho sạch nước. Ông nhìn thẳng vào mắt linh mục và nói:

"Thế người không có đạo Thiên Chúa thì gọi là gì?"

Tân không ngờ là ông lại hỏi câu đó, vì đây chưa phải là câu trả lời anh mong chờ nơi ông lão. Anh nói:

"Người công giáo thường gọi người không phải đạo công giáo là người ngoại đạo bác ạ."

Hai tay ông lại vặn vẹo cái nón rách nhiều hơn nữa. Miệng ông lắp bắp:

"Người ngoại đạo.người ngoại đạo.giống như người ngoại quốc vậy hả?"

Tân cười thầm cho bản tính chất phát của ông. Anh thấy rất mến ông lão. Tân trả lời:

"Dạ, cũng gần như vậy. Người không biết đạo Thiên Chúa thì không hiểu rõ ràng về Thiên Chúa, vì vậy mới gọi là người ngoại đạo. Mà thật ra, ai cũng là con của Thiên Chúa hết, bác cũng vậy. Cháu cũng vậy. Nếu bác muốn học biết về Thiên Chúa, thì đến đây cháu sẽ chỉ giúp bác. Tất cả những gì cháu biết, cháu sẽ chỉ lại bác. Bác Năm nghĩ sao?"

"Tui thì già rồi, đầu óc lú lẫn lắm chả biết có học được không. Mà tui thích nghe chuyện về ông.Giê..."

"Chúa Giêsu." Tân nhắc khéo.

"Ừ, Chúa Giêsu. Vậy anh có thể đọc cho tui nghe được không? Tui không biết chữ."

Tân thấy mừng vì chỉ chờ có vậy, anh vui vẻ trả lời:

"Vậy mỗi tuần bác cứ đến đây khoảng giờ này, cháu sẽ đọc rồi giải thích cho bác nghe về Chúa Giêsu."

"Cám ơn. Vậy tui có phải gọi anh là cha không?"

Tân cười:

"Vâng, đó là nhiệm vụ của cháu và ai cũng gọi cháu như vậy."

Ông Năm nhấm cạn cốc trà rồi cầm nón đứng lên. Ông nói:

"Ðể mai tui đến gặp cha. Bây giờ thì phải về. Chào cha Tân. Cám ơn cha."

Tân tiễn ông ra bờ sông. Nắng đã dịu đi phần nào. Có tiếng ghe chèo nghe kẻo kẹt hoà lẫn với tiếng nước róc rách. Xa xa, giọng người gọi nhau trên các thửa ruộng bát ngàn màu xanh non tràn đầy sức sống. Vài con chuồn chuồn bay lượn trên mặt nước, tựa như chúng đang ngắm nhìn hình bóng của mình qua giòng nước đục vì phù sa. Bầu trời thanh tao với một buổi trưa đang ngã về chiều trong nắng vàng tươi đẹp. Ông Năm với tay tháo dây ghe, bỗng ông quay người lại nhìn Tân và hỏi:

"Vậy tui là người ngoại? Thế thì sao mới hết là người ngoại?"

Tân xúc động. Anh biết rõ câu hỏi này sẽ mở ra cho ông một chân trời mới trong những tháng ngày còn lại của tuổi già cô quạnh. Anh thầm cảm tạ Chúa. Ông Năm thì im lặng và chờ câu trả lời của vị linh mục trẻ. Tân im lặng một tí rồi nói:

"Khi bác đã học biết về Chúa Giêsu và những gì Chúa dạy cho những người đi theo Chúa, thì bác sẽ được nhận một ngày lễ đặt biệt để trở thành người công giáo, lúc đó thì bác không còn là người ngoại nữa."

Ông Năm cười và ra đi trông có vẽ mãn nguyện với câu trả lời của Tân. Người linh mục trẻ đứng nhìn theo cho đến khi ghe của ông Năm khuất dạng sau khóm dừa nước. Anh quay trở vào và cầu nguyện.

* * *

"Ông Năm!" Tiếng thằng Thanh gọi làm ông giật mình. Ông kéo tấm cao su xuống. Thằng bé tay cầm hai giỏ xách đang lúi húi bước xuống ghe. Ðằng sau là mẹ của nó và thêm bốn người nữa. Mưa vẫn còn rơi. Ông Năm đứng lên, dùng cây sào chống chiếc ghe sát vào bờ hơn một tí để mọi người dễ xuống ghe. Sình lầy trơn trợt, nếu không khéo thì trượt chân có thể ngã xuống nước. Chiếc ghe chòng chành mỗi khi có người bước xuống. Thằng bé Thanh thì luồn ra tới ngoài sau ngồi gần chỗ ông Năm Lái. Nó nói:

"Hồi nãy con gặp cha Tân. Cha bảo con và ông đến gặp cha bữa nay. Ông có đi không?"

"Ờ.chắc đi. Con ngồi yên để ông chống ghe cho vững."

Ngoài Tân ra, ông Năm có thêm một người bạn nhỏ, đó là thằng Thanh, cháu của bà Ba hàng xóm. Sau năm 75, mẹ của thằng Thanh đưa nó về đây ở với bà ngoại của nó. Còn ba của thằng bé thì bị bắt đi học tập cải tạo vì là sĩ quan quân đội của chế độ trước. Ông Năm thấy tội nghiệp thằng bé, sống ở thành thị quen, về đây lao nhọc vậy mà nó rất siêng năng. Nhìn vào nó, ông biết ngay là con nhà sinh ra ở phố thị. Con trai gì mà trắng còn hơn mấy đứa con gái ở đây. Mà nó biết đọc và biết viết rất thành thạo. Cha Tân có cho ông một quyển Kinh Thánh nhỏ và ông hay nhờ thằng Thanh đọc cho ông nghe trong những lúc rãnh rỗi. Mặc dù không hiểu rõ gì mấy, khi không có cha Tân giải thích, nhưng ông vẫn muốn nghe bé Thanh đọc trong những lúc ông thấy lẽ loi và hiu quạnh.

Mấy ngày qua, trời đã bớt mưa. Khí hậu trở lạnh. Ông Năm nằm im trên giường, ông đã ngã bệnh hơn một tuần nay. Người ta không nghe thấy tiếng ghe máy quen thuộc của ông trong những buổi sáng và trưa nữa, vì có lẽ từ nay, ông không còn sức để chạy máy tàu đưa khách trên sông. Tuổi già sức yếu, ông đã làm việc quá nhiều suốt trọn kiếp làm người. Có nhiều người ghé sang hỏi thăm bệnh tình. Người ta giúp cạo gió và giác lưng cho ông, nhưng ông vẫn không thể nào gượng dậy được. Ông ho nhiều và toàn thân thấy đau nhức. Người ta cũng giúp ông mua được vài viên thuốc cảm, nhưng chẳng ai biết rõ ông bị bệnh gì. Ông Năm thì cứ nói là mình bị cảm thôi. Bệnh vài ngày sẽ khỏi. Ông không muốn làm phiền đến láng giềng. Tuy vậy, ông biết rõ lần này mình khó mà qua khỏi. Ông kiên nhẫn và chịu đựng như cuộc đời ông đã quen với nhọc nhằn gian lao.

Ðêm qua ông có một giấc mơ lạ. Trong đêm vắng, ông thấy có một người hình hài trắng xoá, sáng lạng như một ngọn đèn, từ xa tiến lại phía ông. Ông cố gắng nheo mắt nhìn kỹ xem đó là ai. Khi người đó đến gần, ông thấy rằng người này hình dáng giống Chúa Giêsu trong bức hình mà cha Tân đã tặng ông mà ông đã treo trên đầu giường. Khuôn mặt hiền từ nhìn ông tha thiết và trìu mến. Ông xao xuyến và la lớn:

"Lạy Chúa.Lạy Chúa."

Người mỉm cười và đưa tay về phía ông. Mặc dù, ông Năm cảm thấy sức mình yếu đuối nhưng vẫn cố gắng đưa tay hướng về Chúa. Khi tay ông vừa chạm đến luồn sáng trên bàn tay Người, thì ông hốt hoảng thấy như mình đang bay trên không trung. Nhiều hình ảnh lướt qua trước mặt ông cực nhanh. Ông cảm thấy sợ hãi và muốn bỏ tay ra, nhưng ngay lúc ấy, ông nhận ra ánh nhìn trìu mến của Chúa khiến ông an lòng và phó thác. Ông vẫn tiếp tục bay trên khoảng không phía trên giòng sông nhỏ. Bên dưới, nước sông chảy cuồn cuộn. Rồi ông nhận ra nhiều hình ảnh của quá khứ hiển hiện chớp nhoáng hai bên bờ giòng sông. Có khi sáng tỏ, có khi lu mờ tùy theo trí nhớ của ông. Ông thấy lại những ngày tươi vui khi gặp gỡ người linh mục trẻ và nghe lời giảng về Thiên Chúa. Ông nhìn thấy những ngày bé Thanh ngồi đọc sách cho ông nghe. Ông nhìn thấy nhiều cơn mưa hối hả và lạnh lẽo rớt xuống chuyến đò thân thương của ông. Và rồi những ngày nắng hạn khiến người ông đen sạm cả đi. Ông mỉm cười khi thấy lại hình ảnh của các chuyến đò đã đi qua đời ông, khi ông đưa khách ra phố chợ. Kìa, những ngày ghe ông được trang hoàng lộng lẫy, để giúp đàng trai sang nhà gái mà rước dâu. Hình ảnh của ngày vợ ông còn sống; bà chờ ông về trước mâm cơm thơm ngon. Hình ảnh của bao lần ông giận giữ, la mắng vợ hiền. Lòng cảm thấy xúc động, ông khóc. Rồi vóc dáng của ông thời còn trai trẻ. Chiếc ghe máy lướt chạy trên con sông định mệnh của đời ông. Bây giờ thì ông đã trở về với tuổi trẻ thơ dại. Chiều chiều cùng nhóm bạn thả mình bơi lội trên con sông nhỏ. Ông khóc nức nở. Rồi bỗng dưng, ông thấy mình đang chìm dần xuống giòng nước sông phía bên dưới. Từ từ.từ từ.ông chìm xuống. Ông sợ hãy và la lớn:

"Xin Chúa thương xót con!"

Ông giật mình tỉnh dậy. Mồ hôi ra ướt toàn thân. Ông cố gắng gượng dậy, mà còn chưa rõ đây là hiện thực hay vẫn còn trong mơ. Trời đã ngã sáng. Ánh đèn dầu leo loét cháy trên đầu tủ trông yếu dần đi. Ông xoay người nhìn lên tấm hình Chúa Giêsu trên đầu giường. Vẫn đó với ánh nhìn trìu mến và yêu thương. Ông Năm cảm thấy xốn xao trong lòng. Lòng ông mừng hơn cả ngày Tết đến. Lễ hội cũng không thể nào so sánh được với diễm phúc của giấc mơ đêm qua. Ông phải tìm bé Thanh, nhờ nó viết lại một lá thư gửi cho linh mục Tân, vì mấy ngày qua, linh mục đi vắng.

Bé Thanh ngồi ở đầu giường. Tay cầm cây bút chì và cuốn tập, nhìn ông Năm và chờ đợi. Ông ho một tràng dài. Lấy khăn lau mồ hôi trên trán rồi đọc cho Thanh viết:

"Kính gửi cha Tân:

Tui bị bệnh nặng suốt trong mấy ngày cha đi vắng. Chắc là tui sẽ không qua khỏi cơn bệnh này. Tui nhờ Thanh giúp viết lại lời sau cuối để chào cha. Cám ơn cha đã giúp tôi trong mấy tháng qua. Ðời cô đơn, tui chỉ có cha và thằng Thanh là bạn. Khi tui đi rồi, cha nhớ tiếp tục dạy cho bé Thanh. Phần tui thì tui thấy an vui, vì đêm qua trong giấc mơ tui đã thấy Chúa Giêsu đến với mình. Tui đã can đảm bay cùng Ngài qua thời gian để trở về với quá khứ. Thời gian xưa đã trở lại trước mặt tôi. Những ngày thơ ấu cho đến những ngày sống đạm bạc cùng người vợ hiền. Thời gian đã trở về với tui, vậy là tui sắp ra đi vĩnh viễn. Bây giờ thì tui thấy lòng thanh thản, không nuối tiếc gì hết. Nhưng còn một điều chưa rỏ. Tui đã gặp Ðức Giêsu rồi, vậy tui có còn là người ngoại nữa hay không?

Chúc cha mọi sự bình yên

Ký tên: Ông Năm Lái.

Khi đọc xong lá thư cho bé Thanh viết, ông Năm cảm thấy mệt rủ người. Ông thều thào:

"Con nhớ đưa thư này cho cha Tân."

Tội nghiệp thằng bé, nó hiểu chuyện gì sẽ xảy ra, nên nó ngồi nhìn ông Năm mà khóc. Tay cầm cuốn tập mà không biết phải nên làm gì. Ông Năm khẻ đưa cánh tay gầy yếu về phía Thanh. Thằng bé nắm lấy tay ông. Ông Năm bảo:

"Ðừng khóc làm ông sợ.Con ra sau nhà đem đàn gà đang ấp về mà nuôi. Ông biết con thích đàn gà của ông lắm. Nhớ đưa thư cho cha Tân. Thôi con đi về đi."

Nói đến đó, ông lại ho quặn người. Bé Thanh biết nó không thể làm gì được hơn. Nó ra ngoài và bỏ con gà mái cùng mấy cái trứng vào giỏ rơm, rồi lẵng lặng ra đi. Ông Năm nhìn theo dáng khuất dần của bé Thanh. Ông mỉm cười và nhắm mắt lại.

Từ đó, người ta không còn thấy chiếc ghe máy của ông Năm Lái nữa. Giòng sông vẫn im lặng chảy như thời gian vẫn biền biệt trôi. Từ ngày ông Năm qua đời, nhiều người đã chuyển qua làm nghề lái ghe như ông. Có một bài thơ ngắn đã trở thành quen thuộc với người dân thôn quê nơi đây. Người ta không rõ ai đã viết nên bài thơ ngắn đó, nhưng có lời đồn là do một linh mục trẻ sống tại làng Hai Cống viết nên bài thơ. Rồi có một ngày, người ta không biết ai đã làm một tấm bia có khắc bài thơ đó trước nấm mộ của ông Năm Lái. Theo thời gian, bài thơ trở thành quá quen thuộc với mọi người, và ngay cả trẻ con cũng biết. Chúng thường ngâm nga bài thơ như sau:

Chuyến đò về với cõi lòng thổn thức.
Hỏi trọn đời, tôi đã thật biết yêu?
Với giòng sông ghi lại bóng thời gian,
Thời đã mất hay thời còn tươi thắm.
Ðời ghi lại nét buồn vui cô độc.
Ông lái đò tự vấn với con tim:
"Con đã sống như lòng người ngoại đạo,
nhưng vẫn tin Chúa hằng ngự trên cao."
Ôi, nhỏ bé với con tim rung động
Xin đưa về với chuyến đò thời gian.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com