Tiến Sĩ Thần Học Luân Lý

Mục ‘Hiểu Ðạo - Sống Ðạo’ mong ước được trở nên người bạn đồng hành để chia sẻ với Quý Ðọc Giả những băn khoăn trong hành trình Ðức Tin hằng ngày. Mọi thắc mắc liên quan đến việc tìm hiểu để sống đạo, xin Quý Vị vui lòng gởi về cho chúng tôi quađịa chỉ email Dominiquebao@hotmail.com hay tòa soạn ÐMHCG

Anh em họ lấy nhau

Hỏi: Thưa cha, con có một việc thật khó giải quyết xin cha giúp đỡ ý kiến. Con có quen một bạn gái. Chúng con đã thương nhau nhiều và có dự định làm đám cưới. Khi con nói chuyện với ba má con. Ba má con hỏi han, điều tra về tông tích người ‘bồ’ gái đó thì mới nói với con rằng ...đó là em họ của con. Con buồn lắm và chắc có lẽ không nên lấy người ấy. Nhưng lại cũng lo không biết người ấy họ hàng thế nào, vì nếu bỏ lầm người mình thương và tốt tính như cô ta thì cũng... uổng. Vậy xin cha cho con biết, luật công giáo về việc cấm lấy người họ hàng như thế nào?

(Xin dấu tên)

Ðáp: Chúng tôi rất thông cảm cho tâm trạng buồn của anh. Và chúng tôi cũng hiểu và đồng ý với nỗi âu lo của anh nữa. Như anh nói, ‘bỏ lầm’ một ‘người tốt tính’ thì quả thật là điều ...phí phạm. Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là làm sao để biết là ‘lầm’ hay ‘không lầm’. Nói cách khác làm sao để biết rằng theo luật giáo hội công giáo, anh phải tránh hoặc được phép lấy một người trong họ hàng.

Theo giáo luật công giáo số 1091 chúng ta ghi nhận hai nguyên tắc căn bản liên quan đến việc hôn nhân với những người trong họ như sau:

a- Cấm kết hôn giữa những người liên hệ họ máu hàng dọc, bất kể là mấy đời. (Họ máu là bà con họ hàng do một dòng máu, một ông bà tổ sinh ra. Họ máu hàng dọc (trực hệ) là cha sinh ra con, con sinh ra cháu, cháu sinh ra chắt, v.v. Còn họ máu hàng ngang (bàng hệ) là anh chị em, con của anh chị em, cháu của anh chị em, chắt của anh chị em, v.v.).

b- Cấm kết hôn giữa những người liên hệ họ máu hàng ngang trong vòng 4 đời (generation).

Cũng nên ghi nhận rằng, cách tính đời theo giáo luật công giáo là: không kể ông bà tổ, có bao nhiêu cấp (vai) thì có bấy nhiêu đời.

Ðể minh họa khoản giáo luật trên đây, chúng ta có thể lấy 2 ví dụ sau:

a- Ông A sinh ra ông B, ông B sinh ra ông C, ông C sinh ra ông D, ông D sinh ra ông E, ông E sinh ra cô F. Từ ông tổ phụ A cho đến cô F tất cả đều liên hệ theo họ hàng dọc (direct line). Cho dù bao nhiêu đời cách biệt, không ai trong những người này được phép lấy nhau, vì họ là bà con hàng dọc.

b- Ông A sinh ra ông B và bà C là hai anh em. Một đàng, ông B sinh ra ông B1. Ông B1 sinh ra ông B2. Ông B2 sinh ra bà B3. Một đàng, bà C sinh ra ông C1. Ông C 1 sinh ra bà C2. Vậy bà C2 có thể lấy từ đời ông B1 về sau. Lý do: Ông B1 là một đời, lên ông B là đời thứ 2, qua bà C là đời thứ ba, xuống ông C1 là đời thứ tư, xuống bà C2 là đời thứ năm. Họ hàng ngang cách biệt 5 đời có thể lấy nhau.

Tóm lại, thay vì lo âu hoặc buồn phiền, anh hãy cẩn thận tìm hiểu chính xác xem giữa anh và cô bạn của anh liên hệ họ hàng với nhau thế nào, hàng dọc hay hàng ngang. Nếu là họ hàng ngang thì giữa anh và cô cách biệt nhau mấy đời.

 

Vợ Chồng Ngừa Thai

Hỏi: Thưa cha, vợ chồng chúng con đã lấy nhau được 20 năm và có được 5 người con. Nay chúng con không muốn có con nữa nên chúng con thường xuyên ngừa thai. Con nghĩ rằng có thể đó là một điều lỗi luật công giáo. Nhưng hoàn cảnh của vợ chồng con rất tế nhị, không thể làm khác hơn được. Xin cha cho chúng con biết thật ra giáo hội dạy gì về vấn đề vợ chồng ngừa thai. Xin cho chúng con biết trong những hoàn cảnh tế nhị như chúng con, có cách nào giáo hội cảm thông không?

John Nguyễn, Minnesota

Ðáp: Câu hỏi này của anh có thể xét theo 2 phương diện. Thứ nhất, anh nói rằng hoàn cảnh của vợ chồng anh ‘rất tế nhị’ nhưng anh không cho biết sự tế nhị đó là gì nên chúng tôi không thể bàn gì cụ thể trong trường hợp của anh. Ðể thẩm định giá trị luân lý của một hành động, ta cần phải nắm vững ít là 3 yếu tố căn bản: Sự việc (Object), Ý định (Intention), và Hoàn cảnh (Circumstance).

Thứ hai, ‘thật ra, giáo hội dạy gì’ về vấn đề ngừa thai thì chúng ta có thể ghi nhận cách khách quan như sau. Nói chung, theo giáo huấn của Hội thánh, ngừa thai là một hành động luân lý xấu tự tại (instrinsically evil), và do đó, là một tội trọng theo nghĩa khách quan (objective mortal sin) (xem sách GL CG # 1855-1860, 2370; các Tông thư Casti Connubii # 14, 56-57, Humanae Vitae # 10, 14, 16, 18, 28; v.v.). Vậy người ngừa thai bị mắc tội trọng. Và, người phối ngẫu đồng lõa trong việc ngừa thai cũng chia sẻ trách nhiệm về mặt luân lý về việc này.

Dĩ nhiên, tính cách xấu và tội của hành động ngừa thai như nói trên là xét về ý nghĩa khách quan. Ðể biết mức độ cụ thề của sự xấu ấy, cần phải cứu xét đến các yếu tố khác như đã nêu trên. Ví dụ, về ’Sự Việc’: ngừa thai cách nào (uống thuốc, giải phẫu, hay bằng phương thức nào khác để khỏi có bầu)? Về Ý Ðịnh: mục đích vợ chồng thật sự nhắm tới trong việc tránh có con là gì (để rảnh rỗi thời giờ làm việc khác, bảo vệ sắc đẹp, điều hòa sinh sản, v.v.). Về Hoàn Cảnh: tình trạng tài chánh, sức khỏe thể lý và tinh thần, đời sống đức tin của vợ, môi trường xã hội của vợ chồng, v.v. ra sao? Chính những yếu tố này giúp nhận định cách chính xác mức độ luân lý về hành động ngừa thai của một cặp vợ chồng cụ thể.

 

Giáo hội cho phép ly dị?

Hỏi: Thưa cha, con có một thắc mắc về lẽ đạo khiến con hoang mang đức tin quá, cầu xin cha giúp đỡ. Thằng con trai đầu lòng của con gái con đã lấy vợ cách đây 4 năm. Ðám cưới linh đình lắm. Thánh lễ có gần 10 cha đồng tế. Rước dâu có 3 chiếc xe hoa. Nhưng thật ra, chúng nó chỉ mới biết nhau được một mùa hè. Cha mẹ chúng nó là bạn thân với nhau nên móc nối tình duyên cho chúng.

Từ hơn hai năm nay, chúng nó cãi cọ rồi đưa nhau ra ly dị tòa đời. Giấy ly dị phần đời đã xong. Hiện nay, con biết rằng thằng cháu ngoại của con sắp được giáo hội cho giấy tháo gỡ bí tích hôn phối cũ để chuẩn bị lấy vợ lại. Tại sao giáo hội dạy rằng cấm ly dị mà trong thực tế lại cho cháu con giấy ly dị như thế khi mà vợ cũ nó còn sống nhăn? Con không hiểu giữa giáo lý thời đại này và thời xưa của con khác nhau thế nào!!?

Cụ Minh Trí - San Jose

Ðáp: Thưa cụ, trước nhất xin khẳng định rằng, từ xưa đến nay, không có sự khác biệt trong giáo huấn của giáo hội về vấn đề ly dị. Giáo huấn ấy đặt trên lề luật của Thiên Chúa được mạc khải rõ ràng trong Phúc Âm "Sự gì Thiên Chúa liên kết, con người không được tháo gỡ’ (Mt. 19:6).

Chúng tôi hiểu rằng việc mà người cháu ngoại của cụ đang thực hiện có lẽ là thủ tục "tiêu hôn" (annulment). Và nếu đúng như thế thì thắc mắc của cụ cho phép chúng tôi, một lần nữa, nhắc lại 2 trường hợp cần phải phân biệt rõ ràng: Tiêu hôn (annulment) và Ly dị (divorce).

‘Tiêu hôn’ khác biệt hoàn toàn với ‘ly dị’. Tiêu hôn là xác nhận rằng một cuộc hôn nhân đã không thành bí tích (sacramentally invalid). Ngược lại, ly dị là tự ý phân ly, phá đổ một khế ước hôn nhân đã thành bí tích (sacramentally valid).

Một giao ước hôn nhân có thể không thành bí tích khi bị vướng vào những yếu tố như: bị ép buộc cưới nhau, gian dối hay lừa gạt tình cảm, thiếu sự hiểu biết và ưng thuận rõ ràng về bản chất, mục đích, quyền lợi trong hôn nhân (xem Giáo luật từ số 1095 đến số 1107); bị rơi vào những điều đã được Giáo hội quy định (xem Giáo luật số 1083 đến số 1094).

Nghĩa là, một giao ước hôn nhân tuy đã được cử hành theo nghi thức công giáo bên ngoài (...và bất kể là có bao nhiêu cha đồng tế hay rước dâu bằng bao nhiêu xe hoa!) vẫn có thể được coi là không thành bí tích (bên trong) khi bị mắc vào những yếu tố nêu trên. Và, nếu cuộc hôn nhân quả thật không thành sự, thì hôn nhân ấy cũng không bị giây bí tích ràng buộc (sacramental bond). Do đó, tự nó, việc tái hôn trong trường hợp này sẽ không bị ngăn trở, hoặc bất hợp pháp, xét theo luật đạo Công giáo.

Vậy, khi nghe nói rằng có một cặp hôn phối công giáo nào đó đã ly dị mà được phép tái hôn trong nhà thờ qua bí tích, ta phải hiểu rằng không phải giáo hội cho phép hủy bỏ một bí tích hôn phối đã thành sự. Tính chất vĩnh viễn của bí tích hôn phối là luật mà chính Thiên Chúa thiết định (divine law), và không ai trong giáo hội có thể phá đổ. Giáo hội chỉ có quyền điều tra dữ kiện, suy tư và phán quyết rằng một cuộc hôn phối đã thật sự thành bí tích chưa. Nếu chưa, thì đương nhiên giáo hội có thể cho phép cử hành bí tích hôn phối, sau khi giấy ly dị phần đời đã xong.

Tuy nhiên, để việc cử hành hôn nhân mới được thật sự hợp pháp, giáo luật yêu cầu hai người phải làm thủ tục tiêu hôn, và phải nhận được phán quyết tiêu hôn chính thức (nullity decree) của giáo quyền trước khi tiến hành nghi thức hôn phối lại (xem Giáo luật số 1085: 2).


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com