TỪ JOHN KENNEDY ÐẾN JOHN KERRY
NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ SỰ LỰA CHỌN CHÍNH TRỊ

Thế Hùng tổng hợp

Tại Vatican hôm 23/4/2004, Ðức Hồng Y Tổng trưởng Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Các Bí Tích Francis Arinze đã họp báo ra mắt Huấn thị mới Redemptionis Sacramentum ("Bí Tích Cứu Ðộ") nhằm chấn chỉnh một số lạm dụng trong việc cử hành Bí Tích Thánh Thể bấy lâu nay trong Hội Thánh Công Giáo. Trong phần đặt câu hỏi sau đó của các ký giả, có người đặt vấn đề về việc có nên cho rước lễ đối với ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ John Kerry của Ðảng Dân Chủ tuy là Công Giáo nhưng lại ủng hộ phá thai. ÐHY Arinze trả lời: "Qui định của Giáo Hội thật rõ ràng. Giáo Hội Công Giáo có ở Hoa Kỳ và có những giám mục ở đó. Hãy để cho các ngài giải thích điều này." Khi được các ký giả hỏi tới về trường hợp của các chính trị gia Công Giáo rõ ràng ủng hộ phá thai thì sao, ÐHY Arinze cho rằng những chính trị gia đó không thích hợp cho việc rước lễ. Ngài nói: "Nếu họ không nên rước lễ, thì đừng nên cho họ."

Khi câu chuyện này được giới truyền thông Hoa Kỳ loan tải rộng rãi, phát ngôn viên của ông Kerry là David Wade đã không trả lời trực tiếp về câu nói của ÐHY Arinze nhưng nhắc lại lập trường cố hữu của Kerry về việc phân cách giữa giáo hội và nhà nước. Ðây cũng là lập trường của một ứng cử viên Tổng Thống người Công Giáo của Ðảng Dân Chủ 44 năm về trước, Thượng Nghị sĩ John Kennedy.

Chuyện Xưa Lặp Lại: Từ John F. Kennedy Ðến John F. Kerry

Năm 1960, khi Thượng Nghị sĩ John F. Kennedy của tiểu bang Massachusetts ra tranh cử chức tổng thống như là ứng cử viên của Ðảng Dân Chủ để đối địch với Phó Tổng thống Richard Nixon và là ứng cử viên tổng thống của Ðảng Cộng Hoà, ông bị công chúng Hoa Kỳ theo hệ phái Tin Lành chất vấn với câu hỏi đại loại như: "Làm sao chúng tôi biết rằng ông tách biệt niềm tin Công giáo của ông ra khỏi lập trường chính trị của mình?"

Năm 2004, Thượng Nghị sĩ John F. Kerry như là ứng viên của Ðảng Dân Chủ cũng của tiểu bang Massachusetts đang cố tìm cách tiến vào Toà Bạch Ốc thay thế Tổng thống George W. Bush của Ðảng Cộng Hoà, bị những người Công Giáo đặt câu hỏi: "Là một người Công Giáo, làm sao ông lại có thể tách biệt niềm tin tôn giáo của mình khỏi trách nhiệm chính trị được chứ khi ông ủng hộ phá thai?"

Trong khoảng thời gian 44 năm giữa hai ông Kennedy và Kerry, bầu khí chính trị và tôn giáo có thay đổi. Thời Kennedy, ông ta phải đối đầu với những cử tri Tin Lành bài Công Giáo muốn bảo đảm rằng vị giáo hoàng của Công Giáo không dính líu vào việc điều hành chính trị của Hoa Kỳ. Thời Kerry, do ủng hộ phán quyết 1973 của Tối Cao Pháp Viện cho phép phá thai, ông ta phải đối diện với sự chất vấn của người Công Giáo về đời sống đức tin của ông trong đời sống công cộng.

Nhưng cho dù có sự khác biệt giữa hai thời kỳ John Kennedy và John Kerry, cách giải quyết của cả hai ông cho những chất vấn của người Tin Lành hoặc người Công Giáo, xét về mặt đức tin Công Giáo, là khó chấp nhận.

Trước Kennedy, chỉ có một người Công Giáo được một chính đảng lớn (Ðảng Dân Chủ) đề cử ra tranh chức tổng thống Hoa Kỳ, đó là Thống đốc Al Smith của tiểu bang New York. Mặc dầu là một chính trị gia thành công và làm Thống đốc New York đến 4 nhiệm kỳ, ông ta vẫn thua phiếu vào năm 1928 trước ứng cử viên Herbert Hoover của Ðảng Cộng Hoà phần lớn là vì lập trường của ông chống lại Luật Cấm Bán Rượu (Prohibition) của Hoa Kỳ thời bấy giờ. Nhưng mặt khác, những lời tố cáo, xuyên tạc mang tính cách bài Công Giáo của đối phương cũng góp phần làm cho dân chúng không bỏ phiếu cho ông.

Trong một bài diễn văn đọc ở Thượng viện Hoa Kỳ, Nghị sĩ Thomas Heflin (Dân Chủ, tiểu bang Alabama) cảnh báo người dân Hoa Kỳ là nếu được bầu làm tổng thống, Al Smith sẽ áp đặt đức tin Công Giáo lên người dân và bóp chết Tin Lành.

Sự ngờ vực của công chúng đối với người Công Giáo vẫn tiếp tục mãi đến 32 năm sau đó khi John Kennedy nhắm vào Toà Bạch Ốc.

Tại Ðại Hội Tin Lành Baptist miền Nam (Southern Baptist Convention), các đại biểu đã đồng lòng thông qua một quyết định bày tỏ sự nghi ngờ nếu Kennedy hay bất kỳ người Công Giáo nào được làm tổng thống. Một tuyên ngôn khác được 150 mục sư và đạo hữu Tin Lành do Mục sư nổi tiếng Norman Vincent Peale cầm đầu, ký tên cho rằng một tổng thống Công Giáo sẽ bị áp lực nặng nề từ phía hàng giáo phẩm Công Giáo để đưa chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đi theo chính sách của Toà Thánh Vatican.

Ðể trả lời cho "vấn đề Công Giáo", Kennedy trong một diễn văn truyền hình vào năm 1960 gửi đến Hiệp Hội Mục Sư Vùng Houston (Greater Houston Ministerial Association), nói rằng nạn cộng sản, nghèo đói, giáo dục và cuộc chạy đua lên không gian là những đề tài bầu cử quan trọng hơn. Nhưng khi bị chất vấn về đức tin Công Giáo trong đời sống chính trị của ông, Kennedy cho rằng tại Hoa Kỳ, có sự tách biệt hoàn toàn giữa giáo hội và nhà nước. Do đó, không thể có trường hợp một giám mục Công Giáo nào có thể bảo tổng thống người Công Giáo hành động ra sao hoặc không một mục sư Tin Lành nào lại có thể bảo đạo hữu trong nhà thờ mình phải bầu cho ai. Trong dịp này, Kennedy đã thốt ra một câu nói mà sau này các chính trị gia Công Giáo lặp đi lặp lại để không tuân theo giáo huấn Hội Thánh Công Giáo trong đời sống chính trị của mình: "Tôi không phải là ứng cử viên tổng thống của Công Giáo. Tôi là ứng viên tổng thống của Ðảng Dân Chủ ngẫu nhiên cũng là người Công giáo. Tôi không nói thay cho Giáo hội về những vấn đề công cộng và Giáo hội cũng không nói thay cho tôi."

Nhờ những câu trả lời đại loại như thế, Kennedy đã thắng Nixon với một tỉ lệ phiếu rất nhỏ để được vào Toà Bạch Ốc vào năm 1960.

Việc Kennedy tách biệt tôn giáo khỏi vai trò dân cử của mình tuy nhiên đã không được tán thành rộng rãi trong giới nguời Công Giáo.

Trả lời cho một cuộc phỏng vấn của Tạp chí Look, chủ bút của tờ The Register của Giáo phận Kansas City-St. Joseph (tiểu bang Missouri) viết rằng câu trả lời của Kennedy đối với "vấn đề Công Giáo" "cho thấy một người khi chấp nhận chức vụ trong Hoa Kỳ không còn là người biết sống theo lương tâm mình nữa."

Tuần báo America của dòng Tên vùng Bắc Mỹ, khi nhận định về năm cầm quyền đầu tiên của Kennedy, cho rằng vị tổng thống này không tỏ ra thiên vị đối với người Công Giáo. Hơn thế nữa, cũng theo ghi nhận của tạp chí này, Kennedy hiếm khi chụp hình chung với các lãnh đạo Công Giáo trong khi lại cố lấy lòng người Tin Lành bằng cách chụp hình với các đại diện của Tin Lành, trong đó có vị mục sư nổi tiếng Billy Graham.

Chính Trị Gia Công Giáo Sau Thời Kennedy

Kể từ thời Kennedy trở đi, việc đưa một người Công Giáo ra làm ứng viên phó tổng thống được cả hai Ðảng Dân Chủ lẫn Cộng Hoà nhắm làm chiến lược mặc dầu không thành công, trong các cuộc bầu cử từ 1964 đến 1972.

Năm 1973, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ra phán quyết Roe vs. Wade hợp thức hoá việc phá thai trong cả nước. Các Ðảng Dân Chủ và Cộng Hoà bắt đầu cho thấy rõ dần lập trường của 2 đảng trong vấn đề phá thai: Nghị trình của Ðảng Dân Chủ ủng hộ phá thai còn nghị trình của Ðảng Cộng Hoà chống phá thai.

Tựu chung, người ta có thể nói rằng đa số chính trị gia thuộc Ðảng Cộng Hoà là phò sự sống trong khi đa số các nhà chính trị của Ðảng Dân Chủ lại ủng hộ phá thai. Chẳng hạn, trong kỳ Quốc Hội 108 hiện nay, trong số 24 thượng nghị sĩ tự nhận là Công Giáo (10 Cộng Hoà, 14 Dân Chủ) thì ông John Breaux (Louisiana) là nghị sĩ duy nhất của Ðảng Dân Chủ bênh vực sự sống, trong khi bà Lisa Murkowsky (Alaska) và bà Susan Collins (Maine) của Ðảng Cộng Hoà là hai nghị sĩ duy nhất ủng hộ phá thai. Cũng vậy, trong số 126 dân biểu Công Giáo của Quốc Hội khoá này, đa số dân biểu Công Giáo thuộc Ðảng Dân Chủ (73) ủng hộ phá thai trong khi đa số dân biểu theo Ðảng Cộng Hoà (53) lại chống phá thai.

Ở các cấp chính quyền tiểu bang và nhỏ hơn, cũng có những vị dân cử Công Giáo thuộc Ðảng Cộng Hoà nhưng lại ủng hộ phá thai như trường hợp của đương kim thống đốc tài tử Arnold Schwarzenegger, tiểu bang California. Nhưng đồng thời người ta cũng nhớ đến cố thống đốc Công Giáo Robert Casey (1932-2000) của tiểu bang Pennsylvania dù theo Ðảng Dân Chủ nhưng lại ra sức bảo vệ và bênh vực sự sống đến nỗi tại Ðại hội Ðảng Dân Chủ Toàn quốc vào những năm 1992 và 1996 để đề cử Bill Clinton làm ứng cử viên tổng thống của Ðảng, ông Casey đã bị giới lãnh đạo Ðảng từ chối không cho ông phát biểu trước đại hội!

Trở lại "vấn đề Công Giáo", vào năm 1984, đề tài này lại bùng nổ với hai chính trị gia Công Giáo thuộc Ðảng Dân Chủ ở tiểu bang New York: Nữ dân biểu Geraldine Ferraro và Thống đốc Mario Cuomo.

Khi Ferraro được Ðảng Dân Chủ đề cử làm ứng viên phó tổng thống cùng với ứng viên tổng thống Walter Mondale (tiểu bang Minnesota), người Công Giáo đã chất vấn rằng làm sao bà có thể là một người Công Giáo tốt khi bỏ phiếu ủng hộ phá thai.

Cố Tổng Giám mục John O’Connor của Tổng Giáo phận New York, đã công khai chỉ trích Cuomo về việc ông ta đã ủng hộ lấy tiền thuế tiểu bang để yểm trợ người nghèo phá thai cũng như việc Cuomo cho rằng việc ủng hộ phá thai của ông không có gì sai trái với tư cách là một người Công Giáo.

Một bài diễn văn của Cuomo vào năm 1984 tại Ðại học Công Giáo Notre Dame (tiểu bang Indiana) được tường thuật rộng rãi và đã trở thành nền tảng cho nhiều chính trị gia Công Giáo sau này khi lập luận rằng họ là những kẻ "phò chọn lựa" (đúng hơn là phò phá thai) và phân biệt việc chấp nhận giáo huấn Hội Thánh Công Giáo trong đời sống cá nhân với vai trò dân cử. Lý luận của Cuomo và những chính trị gia Công Giáo ủng hộ phá thai, trong đó có John Kerry, đại ý như sau: "Cá nhân tôi chống phá thai, nhưng tôi không tin là tôi lại ra luật lệ dựa trên niềm tin của mình khi cả đất nước này hợp thức hoá phá thai."

Khi Các Ðức Giám Mục Ðối Phó Với Chính Trị Gia Công Giáo Ủűng Hộ Phá Thai

Một trong những giải pháp các giám mục thường dùng đối với những chính trị gia Công Giáo đi ngược lại giáo huấn Hội Thánh đặc biệt là vấn đề phá thai là nhắc nhở riêng hay ngoài công chúng, như trường hợp Ðức Cố Hồng Y O’Connor và một vài giám mục khác đã từng làm. Năm 1990, Ðức Hồng Y O’Connor cho rằng lối biện hộ "cá nhân tôi chống phá thai nhưng." như thế của Thống đốc Cuomo khiến ông có nguy cơ bị vạ tuyệt thông vì xem thường giáo huấn Hội Thánh. Cũng theo Ðức Hồng Y O’Connor, lối lập luận của Thống đốc Cuomo "khiến gia tăng nạn phá thai bằng cách cổ võ luật lệ ủng hộ phá thai, hay bằng cách dùng tiền người dân cho việc phá thai."

Một cách thế nữa các giám mục thường dùng đến đối với những chính trị gia Công Giáo đi ngược lại giáo huấn Hội Thánh đặc biệt là vấn đề phá thai là ngăn việc sử dụng các cơ sở Giáo hội cho những sinh hoạt có sự hiện diện của các chính trị gia ủng hộ phá thai. Tuy nhiên, điều này dễ thực hiện đối với các giáo xứ hơn là với các đại học Công Giáo thường lấy cớ cổ võ tự do tư tưởng và giáo dục để mời những nhân vật nổi tiếng bất kể là ủng hộ phá thai hay không đến nói chuyện vào các dịp hội thảo hay ra trường.

Việc nhiều chính trị gia Công Giáo một đàng bỏ phiếu tán thành phá thai, một đàng khác cứ việc đi lễ và rước lễ "một cách vô tội vạ" cũng khiến một số giám mục nghĩ rằng cần phải lên tiếng mạnh mẽ hơn nữa đối với những thành phần này.

Vì thế, vào ngày 22/1/2003 nhân đánh dấu 30 năm Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cho phép phá thai qua phán quyết Roe v. Wade, trong một Thánh Lễ cầu nguyện cho sự sống, Ðức Cha William Weigand của Giáo phận thủ phủ Sacramento đã công khai nói rằng vì lập trường ủng hộ phá thai của ông Gray Davis (Ðảng Dân Chủ) lúc đó còn làm thống đốc California, ông Davis nên tự nguyện đừng lên rước lễ. Cũng chính Davis là người đã ký một đạo luật tiểu bang buộc các cơ sở y tế, xã hội và giáo dục các tôn giáo, trong đó có Công Giáo, phải cung ứng bảo hiểm ngừa thai nhân tạo, một điều đi ngược lại với giáo lý Công Giáo. Hiện vấn đề này có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với cả Giáo Hội Hoa Kỳ và đang được đưa lên Tối Cao Pháp Viện Liên Bang để giải quyết.

Một trường hợp khác liên quan đến Thượng Nghị sĩ Công Giáo Tom Daschle là lãnh tụ khối thiểu số (Ðảng Dân Chủ) tại Thượng Viện. Vào tháng 4 năm 2003, người ta được biết chính Ðức Cha Robert Carlson của Giáo phận Sioux Falls thuộc tiểu bang South Dakota là tiểu bang nhà của Daschle đã viết thư yêu cầu ông ta hãy bỏ đi khỏi tiểu sử và các tài liệu tranh cử của mình các phần giới thiệu liên quan đến tư cách Công Giáo của ông. Lý do là sau vài năm thảo luận riêng tư với Daschle về lập trường ủng hộ phá thai của ông, Ðức Cha Carlson đã không thể nào thuyết phục Daschle đi theo đúng lời Chúa dạy và giáo huấn Hội Thánh về việc bảo vệ sự sống. Thật ra, ông Daschle đã không được phép rước lễ cả 20 năm nay bởi vì ông đã ly dị và kết hôn với người khác không có "phép tiêu hôn" của Giáo Hội.

Gần đây nhất, trước khi được Toà Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Tổng Giáo phận St. Louis (Missouri) vào tháng 12 năm 2003, Ðức Cha Raymond Burke khi còn cai quản Giáo phận La Crosse (tiểu bang Wisconsin) đã ra lệnh cho các linh mục trong giáo phận không được cho rước lễ đối với các chính trị gia Công Giáo địa phương nào không đi theo giáo huấn Hội Thánh về vấn đề phá thai và trợ tử. Trước đó, ngài có gửi thư cảnh báo đến các vị dân cử này nhưng họ lại làm ngơ! Và khi làm Tổng Giám mục St. Louis, Ðức Cha Burke thẳng thắn báo trước nếu ông Kerry đến tham dự Thánh Lễ ở Tổng Giáo phận của ngài thì ngài chỉ đặt tay chúc lành chứ không cho rước lễ.

Cùng quan điểm với Ðức TGM Raymond Burke có Ðức Cha Samuel Aquila của Giáo phận Fargo (tiểu bang North Dakota), Ðức Cha Thomas Wensky là Giám mục Phó Giáo phận Orlando (tiểu bang Florida). Ngoài ra các Ðức Cha John Smith của Giáo phận Trenton, Ðức Cha Joseph Galante của Giáo phận Camden, và Ðức Tổng Giám mục John Myers của Tổng Giáo phận Newark, cả 3 giáo phận đều thuộc tiểu bang New Jersey, cũng đã lên tiếng yêu cầu các chính trị gia Công Giáo chống lại sự sống hãy tự nguyện đừng lên rước lễ. Riêng ÐC Galante, một ngày trước khi nhậm chức Giám mục chính toà GP Camden, tuyên bố rằng nếu Thống đốc tiểu bang James McGreevey của Ðảng Dân Chủ vốn là người Công Giáo nhưng lại ủng hộ phá thai, có đến dự lễ của ngài mà lên rước lễ thì ngài chỉ ban phép lành mà thôi bởi vì ông thống đốc đã ly dị và tái hôn nhưng không có phép "tuyên bố vô hiệu" (annulment) hôn nhân trước. Trước những lời tuyên bố rõ rệt của các vị chủ chăn này, Thống đốc James McGreevey cuối cùng phải tuyên bố rằng ông ta sẽ không lên rước lễ nữa.

Một giám mục khác còn tuyên bố mạnh mẽ hơn về trách nhiệm luân lý nặng nề không những của các chính trị gia Công Giáo ủng hộ phá thai mà ngay cả của những người Công Giáo bỏ phiếu cho những ứng cử viên cổ võ việc làm ác đức này. Hôm 1/5/2004, Ðức Cha Michael Sheridan của Giáo phận Colorado Springs (tiểu bang Colorado) đã ra một lá thư mục vụ mạnh mẽ nhắc lại bổn phận của mọi người Công Giáo, trong đó có các chính trị gia, phải tuân theo lời dạy của Chúa và giáo huấn của Hội Thánh, không thể có thái độ "bắt cá hai tay" được. Ðức Cha Sheridan nhấn mạnh là các nhà chính trị Công Giáo nào ủng hộ việc phá thai, nghiên cứu tế bào gốc bằng cách dùng phôi nhi bị giết, hôn nhân đồng tính và các hình thức trợ tử, là tự đặt mình ra khỏi sự hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh và có nguy cơ gây hại cho phần rỗi của mình. Vì thế, theo Ðức Cha Sheridan, người Công Giáo nào, dù là ứng cử viên hoặc cử tri bỏ phiếu cho các chính trị gia ủng hộ phá thai, không nên lên rước lễ cho đến khi nào từ bỏ quan điểm sai trái của mình và hoà giải với Chúa và Hội Thánh qua bí tích Giải Tội.

Dĩ nhiên, không chỉ những người được đề cập trên đây là các chính trị gia Công Giáo duy nhất ủng hộ phá thai. Người ta còn có thể kể ra một loạt những chính trị gia tại thủ đô Washington tự nhận là Công Giáo nhưng lại hoàn toàn đi ngược lại với giáo huấn Hội Thánh về vấn đề bảo vệ sự sống, trong số đó có bà Nancy Pelosi (San Francisco-California) là lãnh tụ khối thiểu số Dân Chủ ở Hạ Viện, các Thượng Nghị sĩ thuộc Ðảng Dân Chủ John Kerry (Massachusetts), Joe Biden (Delaware), Christopher Dodd (Connecticut), Richard Durbin (Illinois), Tom Harkin (Iowa), Mary Landrieu (Lousiana), Barbara Mikulski (Maryland), Edward Kennedy (Massachusetts), Jack Reed (Rhode Island), Patrick Leahy (Vermont), Patty Murray (Washington), Maria Cantwell (Washington) và các Thượng Nghị sĩ Cộng Hoà Lisa Murkowski (Alaska) và Susan Collins (Maine).

Tuy nhiên, cách thức đối phó với những chính trị gia Công Giáo ủng hộ phá thai lại tùy thuộc vào mỗi giám mục địa phương.

Chẳng hạn, Thượng Nghị sĩ Edward Kennedy, em trai của Cố Tổng thống Kennedy, mặc dù liên tục bỏ phiếu tán thành những dự luật chống lại sự sống từ nhiều năm nay nhưng các giám mục sở tại ở Boston vẫn không có một giải pháp cứng rắn hơn đối với ông ta.

Mùa hè 2003, Ðức Tân Tổng Giám mục Sean O’Malley của TGP Boston của tiểu bang Massachusetts là tiểu bang nhà của ứng cử viên tổng thống John Kerry và của Thượng Nghị sĩ Edward Kennedy, có nhắc lại lập trường của Giáo Hội, đó là những chính trị gia Công Giáo nào ủng hộ phá thai thì tự nguyện đừng lên rước lễ. Tuy nhiên, Ðức Cha O’Malley cũng nói rằng nếu họ có lên rước lễ ngài cũng không từ chối.

Ngoài vấn đề ủng hộ phá thai, ông Kerry còn ly dị vợ trước vào năm 1988 và cưới bà Teresa Heinz là vợ goá của Thượng Nghị sĩ John Heinz III (Cộng Hoà, tiểu bang Pennsylvania) bị chết trong một tai nạn máy bay. Ông John Heinz III thuộc dòng họ triệu phú Heinz nổi tiếng sản xuất ketchup. Người ta không rõ là ông có được phép "tuyên bố vô hiệu" hôn nhân trước hay chưa vì văn phòng của ông cũng như của Tổng Giáo phận Boston không tiết lộ.

Ðức Hồng Y Roger Mahony của Tổng Giáo phận Los Angeles là giáo phận lớn nhất Hoa Kỳ, trong cuộc tiếp xúc hôm 11/5 với Hãng Thông Tin Công Giáo Hoa Kỳ (CNS) ở Roma nhân chuyến ad limina đã cho rằng việc giáo dục những người Công Giáo, đặc biệt là phụ nữ, về tính vô luân của nạn phá thai thì có hiệu quả hơn là dùng các biện pháp chế tài đối với những chính trị gia Công Giáo ủng hộ phá thai.

Còn Ðức Tổng Giám mục John Vlazny của Tổng Giáo phận Portland (tiểu bang Oregon) trong một bài viết trên tờ báo Catholic Sentinel của Tổng Giáo phận bàn về việc người Công Giáo có được rước lễ không khi chọn bỏ phiếu cho những chính trị gia ủng hộ phá thai, đã lập luận rằng: "Nếu họ bỏ phiếu vì lập trường ủng hộ chọn lựa [phá thai] của các chính trị gia, tôi tin là họ nên đừng rước lễ bởi vì họ không hiệp thông với Giáo Hội về một vấn đề nghiêm trọng. Nhưng nếu họ bỏ phiếu cho một chính trị gia nào đó bởi vì theo phán đoán của họ, các ứng cử viên khác thất bại nặng nề trong việc giải quyết một số vấn đề quan trọng như chiến tranh và hoà bình, nhân quyền và công bằng kinh tế, như thế là [họ] không có lập trường rõ ràng chống lại giáo huấn Hội Thánh và [do đó] việc rước lễ xem ra là thích đáng và có ích. Tuy nhiên, Ðức Cha Vlazny cũng thêm rằng: "Những người Công Giáo ủng hộ các chính trị gia ủng hộ chọn lựa (pro-choice) vẫn có những trách nhiệm nặng nề xét về lập trường của họ về vấn đề này. Họ phải làm sao cho những chính trị gia và các vị lãnh đạo chính phủ biết rõ sự ủng hộ của họ tuyệt nhiên không dựa trên việc ủng hộ chọn lựa (phá thai) của các lãnh tụ chính trị."

Do tính cách nghiêm trọng của vấn đề khi có những nhà chính trị Công Giáo hành động ngược với giáo huấn Hội Thánh trong đời sống công cộng, vào tháng 11 năm ngoái, Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ đã ủy nhiệm Ðức Hồng Y Theodore McCarrick của Tổng Giáo phận thủ đô Washington D.C. cầm đầu một Ủy ban đặc nhiệm có nhiệm vụ soạn thảo những chỉ dẫn về việc các giám mục nên có thái độ như thế nào đối với các chính trị gia Công Giáo như thế.

Trong kỳ họp tĩnh tâm của Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ từ 14-19/6 năm nay tại Englewood, tiểu bang Colorado, đề tài về việc có nên cho rước lễ đối với những chính trị gia Công Giáo khăng khăng đi ngược với giáo huấn Hội Thánh, đã được ÐHY McCarrick và Ủy ban đặc nhiệm của ngài trình cho cho cả Hội đồng Giám mục trong những báo cáo sơ khởi. Sau đó, các giám mục đã bàn thảo về vấn đề này và cuối cùng với đa số phiếu (183-6) đã đồng ý với một tuyên bố có tựa đề "Người Công Giáo Trong Ðời Sống Chính Trị" (Catholics in Political Life) được đưa ra hôm 18/6.

Nội dung tổng quát của bản tuyên bố dài khoảng 1000 chữ này khẳng định việc sát hại trẻ sơ sinh vô tội luôn là sự dữ tự bản chất và do đó, việc hợp pháp hoá việc làm này là sai lỗi. Ðồng thời bản tuyên bố cũng nhấn mạnh đến việc các giám mục phải nỗ lực hơn nữa trong việc đối thoại với các chính trị gia Công Giáo không đi theo giáo huấn Hội Thánh nhằm giúp họ tìm hiểu sự thật về các giá trị luân lý. Riêng về việc có từ chối không cho rước lễ đối với các chính trị gia Công giáo ủng hộ phá thai hay không, các giám mục nói rằng vì tầm quan trọng của Bí Tích Thánh Thể, mọi người phải xét lương tâm để thấy mình xứng đáng hay không trong việc trung thành giáo huấn luân lý của Hội Thánh trong đời sống cá nhân lẫn công cộng. Tuy nhiên, bản tuyên bố cũng xác nhận các giám mục địa phương tùy theo phán đoán của mình mà có thể đưa ra những quyết định cụ thể về việc cho rước lễ đối với các chính trị gia Công Giáo không đi theo giáo huấn Hội Thánh, miễn là những quyết định này phù hợp với các nguyên tắc về mặt giáo luật và mục vụ. Dẫu vậy, xét về mặt chính trị đảng phái trong mùa bầu cử năm nay, bản tuyên bố cũng cảnh báo người Công Giáo chống lại việc lạm dụng giáo huấn Hội Thánh và việc thực hành bí tích cho những mục tiêu chính trị.

Phản Ứng Của Các Chính Trị Gia Công Giáo Ủng Hộ Phá Thai

Với những lối nhìn và cách giải quyết khác nhau của các giám mục Hoa Kỳ về việc những chính trị gia Công Giáo khi hành xử trong công quyền đi ngược với giáo huấn luân lý của Hội Thánh, người ta có thể dễ dàng thấy được có những phản ứng khác nhau từ phía các chính trị gia liên hệ và giáo dân.

Phản ứng trước lời yêu cầu của Ðức Cha William Weigand của Sacramento vào năm 2003 là Thống đốc Gray Davis của California đừng lên rước lễ vì sự sai lầm ương ngạnh của ông ta khi ủng hộ phá thai, một phát ngôn viên của Gray Davis là Russ Lopez phàn nàn rằng Ðức Cha Weigand muốn dạy "người tín hữu cách sống đạo" bởi vì đây là vấn đề riêng tư giữa ông Davis và Thiên Chúa (!).

Trong số những phản ứng chống đối về lá thư mục vụ của Ðức Cha Michael Sheridan của Giáo phận Colorado-Springs có ông Ric Kethcart, một luật sư và doanh gia, đã cho đăng một lá thư ngỏ dài 4 trang tố cáo Ðức Cha Sheridan là cứng rắn. Ông đe doạ rút lại lời hứa đóng góp 100,000 Mỹ kim để xây dựng cơ sở của giáo xứ ông sinh hoạt và kêu gọi những người Công Giáo khác cũng làm như thế trừ phi là Ðức Cha phải rút lại nội dung lá thư (!)

Riêng ứng cử viên Tổng thống năm 2004 của Ðảng Dân Chủ John Kerry mặc dù đã được các giám mục khuyến cáo nhưng ông vẫn lên rước lễ bởi vì ông cho rằng việc thực hành đức tin ngoài công cộng và rước lễ là hai điều riêng biệt. Khi được hỏi về các văn kiện Toà Thánh gần đây kêu gọi những nhà chính trị Công Giáo hãy ra sức bảo vệ sự sống và chống lại hôn nhân đồng tính, ông Kerry lặp lại cùng một luận điệu của ông Kennedy 40 năm về trước: "Tôi tin vào Hội Thánh và tôi rất quan tâm đến Hội Thánh. Nhưng tôi nghĩ điều quan trọng là đừng có để Giáo Hội chỉ dẫn các chính trị gia. Ðó là vượt khỏi lằn ranh trong xã hội Hoa Kỳ."

Dĩ nhiên, dù ông Kerry có nói gì đi chăng nữa thì thành tích ủng hộ phá thai của ông quá rõ rệt. Ông đã chống đối lại các dự luật cấm phá thai bán phần, ủng hộ việc bỏ lệnh cấm phá thai tại các căn cứ quân sự Mỹ ở ngoại quốc.

Ủy Ban Toàn Quốc Về Quyền Sự Sống (National Right to Life Committee) ghi nhận ông Kerry bỏ phiếu ngược với lập trường bảo vệ sự sống 100%. Trong khi đó, một trong những tổ chức ủng hộ phá thai lớn nhất của Mỹ là Liên Ðoàn Hành Ðộng Cho Quyền Phá Thai và Sinh Sản Toàn Quốc (NARAL Pro-Choice America) cho hay Kerry bỏ phiếu đúng theo lập trường của họ 100%.

Dĩ nhiên, giới truyền thông đời đã không bỏ lỡ dịp để khai thác đề tài sôi nổi này và nhiều khi không hiểu hay cố tình bóp méo các giáo huấn của Hội Thánh. Họ cho rằng các giám mục có thái độ cứng rắn đối với các chính trị gia Công Giáo ủng hộ phá thai đã dùng việc cho rước lễ như là một vũ khí trừng trị những ai không đồng quan điểm với giáo huấn Hội Thánh, rằng các chính trị gia có quyền hành động theo tiếng nói lương tâm của mình khi lên rước lễ, rằng các giám mục quá nhấn mạnh đến tội lỗi của việc phá thai nhưng lại không nhấn mạnh đến những vấn đề luân lý khác, rằng các giám mục nếu thẳng tay quá sẽ khiến người ta không chịu đóng góp tài chính và có thể xa lìa Giáo Hội,.

Cho dù có sự xuyên tạc ít nhiều của giới truyền thông đời, việc một số giám mục mạnh mẽ lên tiếng đòi hỏi các chính trị gia Công Giáo ủng hộ phá thai hãy xét lại thái độ sống đạo của mình đã giúp đánh thức lại lương tâm của mọi người Công Giáo tại Hoa Kỳ cũng như giúp họ đào sâu thêm về các giáo huấn của Hội Thánh liên quan đến những vấn đề lương tâm, tính cách hiệp thông Giáo Hội trong việc rước lễ, cùng những vấn đề luân lý mấu chốt khác.

Thái Ðộ Chính Trị Của Người Công Giáo Ðích Thực

Một trong những lập luận của các chính trị gia Công Giáo hành xử ngược với giáo huấn Hội Thánh, đó là họ làm theo lương tâm. Nhưng như lá thư của Ðức Cha Sheridan vạch rõ, lương tâm không phải chỉ là ý thích cá nhân hay một cảm giác mơ hồ về điều gì đúng hay điều gì sai. Sự phán đoán của lương tâm đúng nghĩa phải tuân theo sự thật khách quan được đặt căn bản nơi luật tự nhiên và mạc khải của Thiên Chúa. Như thế, người nào tự xưng là Công Giáo phải có "tâm tư của Chúa Kitô" trong phán đoán và hành động, nghĩa là họ phải tuân thủ giáo huấn của Giáo Hội về mặt tín lý và luân lý.

Cũng trong lập luận của những chính trị gia Công Giáo ủng hộ phá thai, đó là họ phải tách biệt giữa đức tin cá nhân và hoạt động chính trị bên ngoài, bởi vì theo họ ở Hoa Kỳ có sự tách biệt giữa nhà nước và tôn giáo. Nhưng theo lời Ðức Cha Sheridan, sự tách biệt này mục đích là để khỏi thiết lập một tôn giáo nhà nước và áp đặt niềm tin cùng việc thực hành của một tôn giáo nào đó. Vì thế, Công Ðồng Vatican II chỉ rõ, "sự ly dị" giữa niềm tin và lối sống hằng ngày của những nhà chính trị là một trong những sai lầm nghiêm trọng nhất trong thời đại ngày nay (Gaudium et spes, 43). Do đó, bất kỳ người nào tuyên xưng đức tin Công Giáo trên môi miệng trong khi công khai ủng hộ các luật lệ hay các ứng cử viên thách đố lại luật Chúa là một sự chế nhạo chính niềm tin và căn tính Công Giáo của mình.

Sự kiện ông Kerry và một số chính trị gia Công Giáo ủng hộ phá thai vẫn tiếp tục đi rước lễ cho dẫu đã được khuyến cáo từ các vị giám mục cũng cho thấy có một sự thiếu hiểu biết hoặc cố tình nhạo báng đức tin Công Giáo. Ðối với những nhà chính trị này, việc đi rước lễ xem ra chỉ phản ánh niềm tin cá nhân giữa họ đối với Thiên Chúa mà thôi. Nhưng đứng về mặt giáo lý Công Giáo, điều này thật sai lầm về căn bản.

Trong Tuyên Bố Mục Vụ "A Time for Honesty" (Một Thời cho Sự Thành Thật) ngày 5/5 năm nay, Ðức Tổng Giám mục John Myers của TGP Newark nói rằng trong khi đức tin là một hành động tự do và đích thân của một cá nhân khi đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa với ơn Chúa Thánh Thần khởi hứng, đức tin này vẫn có chiều kích cộng đồng Giáo Hội. Vì thế, đức tin dù mang tính cách tự do và cá nhân đến đâu cũng phải là một sự cam kết đón nhận niềm tin trọn vẹn của cả Hội Thánh làm của mình. Cho nên, khi một chính trị gia hay một cử tri Công Giáo chọn lựa lập trường đi ngược lại đối với những giáo huấn của Hội Thánh về các vấn đề luân lý, thì họ vẫn có thể còn là người Công Giáo theo một nghĩa nào đó, nhưng thực ra họ đã từ bỏ đức tin Công Giáo trọn vẹn. Do đó, việc họ đi rước lễ để biểu lộ sự hiệp thông với Chúa Kitô và Hội Thánh về mặt khách quan mà nói là một hành động không thật thà (dishonest).

Trong Thông điệp Giáo Hội Từ Bí Tích Thánh Thể được ban hành ngày 17/4/2003, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II ghi rằng trong việc rước lễ, không một ai, ngoại trừ cá nhân người đó, có thể xét rằng mình có sống trong tình trạng ân sủng hay không. Tuy nhiên, trong những trường hợp hành vi bên ngoài của đương sự có tính cách nghiêm trọng và rõ ràng ngoan cố đi ngược lại với những tiêu chuẩn luân lý, Hội Thánh vì mối quan tâm đến sự ổn định của cộng đoàn và vì tôn trọng phép bí tích, không thể không can dự trực tiếp, có nghĩa là có thể từ chối việc cho rước lễ đối với những người khăng khăng trong việc phạm tội trọng tỏ tường.

Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Côrintô cũng đã cảnh báo người tín hữu đừng rước lễ trong tình trạng tội trọng vì đó là phạm sự thánh. Ngài viết: "Người ta hãy tự hạch xét mình, rồi như vậy mới ăn Bánh ấy và uống Chén ấy. Vì kẻ ăn và uống, mà không phân biệt được Thân mình, tức là ăn và uống án phạt cho mình." (1 Cor 11:27-29).

Khi có người cho rằng những nhận định mới đây của một số giám mục xem ra ủng hộ các ứng cử viên Ðảng Cộng Hoà trong khi chống lại những ứng cử viên của Ðảng Dân Chủ, Ðức Cha Sheridan lập lại rằng Giáo Hội không bao giờ chỉ định những người Công Giáo phải bầu cho cá nhân ứng cử viên nào cả. Có điều Giáo Hội có quyền và có bổn phận dạy bảo rõ ràng và đầy đủ sự thật khách quan về phẩm giá và quyền lợi của con người để soi sáng lương tâm các chính trị gia và cử tri Công Giáo. Dĩ nhiên, ai cũng thấy nghị trình của Ðảng Dân Chủ chống phá thai tức đi ngược với giáo huấn Hội Thánh, trong khi nghị trình của Ðảng Cộng Hoà bênh vực sự sống thai nhi thì gần hơn với giáo lý Công Giáo.

Chắc chắn rằng, không phải lập trường của Ðảng Dân Chủ lúc nào cũng đi ngược lại với niềm tin Công Giáo hoặc chủ trương của Ðảng Cộng Hoà hoàn toàn đúng với giáo huấn Hội Thánh. Bằng chứng là Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II chống đối việc Tổng thống Bush tấn công Iraq bởi vì ngài thấy trước những hậu quả tai hại của nó về thiệt hại nhân mạng và của cải cùng gia tăng xung đột giữa các quốc gia. Nhưng giáo lý Công Giáo cũng chỉ ra, không phải lúc nào chiến tranh hoặc án tử hình là sự dữ tự bản chất bởi vì có những cuộc chiến tranh chính nghĩa hay là án tử hình có thể được thi hành nhằm bảo đảm trật tự xã hội.

Ngược lại, có những vấn đề luân lý mà tự bản chất là sự dữ, đó là phá thai, trợ tử, nghiên cứu tế bào gốc trên những thai nhi bị giết, và hôn nhân đồng tính luyến ái. Trái hẳn với những suy nghĩ sai lầm của nhiều người, những vấn đề luân lý này không phải là của Công Giáo mà thôi nhưng đây là vấn đề luân lý tự nhiên liên quan đến việc tôn trọng sự sống và phẩm giá con người. Mặc dầu chiến tranh, nghèo đói là những vấn đề luân lý có hậu quả nghiêm trọng nhưng cách thế giải quyết có thể khác nhau dựa vào suy luận và phán đoán của người trong cuộc có trách nhiệm. Ðồng thời, những người trong cuộc ít ra cũng còn có cơ hội để phản kháng hay giải quyết bằng những cách thế khác nhau. Nhiều chính trị gia Công Giáo đã hiểu sai lầm như thế khi cho rằng tội ác phá thai chỉ là một trong các vấn đề luân lý khác như án tử hình, chiến tranh, nghèo đói. Vì thế, trong một lá thư gửi cho ÐHY McCarrick hôm 10/5 năm nay, có 48 dân biểu Công Giáo thuộc Ðảng Dân Chủ (chỉ có 3 dân biểu là có lập trường bênh vực sự sống) cho rằng thật không công bằng khi có giám mục không cho rước lễ đối với các chính trị gia ủng hộ phá thai (phần nhiều thuộc Ðảng Dân Chủ) trong khi đó lại không đề cập gì đến những chính trị gia ủng hộ án tử hình (phần nhiều thuộc Ðảng Cộng Hoà) là điều Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II luôn chống đối. Nhưng rõ ràng là đối với việc sát hại thai nhi vô tội không có khả năng tự bảo vệ thì đương nhiên mức độ tội ác nặng nề hơn nhiều; đây là một sự tước đoạt sự sống và phẩm giá con người cách trắng trợn và do đó mức độ trầm trọng của tội phá thai không có gì sánh bằng.

Hơn 1 năm chiếm đóng Iraq, có khoảng 900 quân nhân Hoa Kỳ bị sát hại tại Iraq khiến người dân Hoa Kỳ lo ngại và buồn phiền. Nhưng điều đáng buồn hơn là hằng ngày tại Mỹ có từ 3000 đến 3500 thai nhi bị giết hại nhưng hình như ít người để tâm vì thảm sát này được ngụy trang dưới nhãn hiệu quyền tự do lựa chọn. Ðây cũng là một lập luận khác của các chính trị gia Công Giáo ủng hộ phá thai khi cho rằng cá nhân tôi chống đối việc này nhưng tôi phải tôn trọng tự do người khác. Ðây lại cho thấy một sự giả hình nữa của những người này bởi vì nếu nhìn nhận rằng phá thai là một hành động giết người, vậy tại sao lương tâm ta lại có thể cho phép chấp nhận điều đó tiếp tục diễn ra mà không làm gì để ngăn chặn? ÐTC Gioan Phaolô II có nói: "Khi tự do tách rời khỏi sự thật khách quan thì không thể nào có được quyền cá nhân dựa trên lý lẽ chắc chắn, và nền tảng xã hội tùy thuộc vào ý muốn không kiểm soát của cá nhân hoặc của chế độ độc tài chuyên chế của nhà cầm quyền." (Thông điệp Evangelium Vitae, 101)

Kết Luận

Các giám mục đã thông qua bản tuyên bố "Người Công Giáo Trong Ðời Sống Chính Trị" để tái khẳng định giáo huấn luân lý ngàn đời của Hội Thánh mà các nhà chính trị phải tuân theo trong đời sống cá nhân cũng như đời sống công cộng. Tuy vậy, có lẽ đã đến lúc giới lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ cần phải tỏ ra mạnh mẽ hơn trong vai trò mục tử và thầy dạy đức tin và luân lý đối với các giáo hữu qua những lời dạy bảo, sửa sai rõ rệt, không úp mở.

Ðức Hồng Y Mahony của TGP Los Angeles trong một cuộc phỏng vấn dành cho Hãng Thông Tin Công Giáo Hoa Kỳ (CNS) tại Rôma hôm 11/5 trong dịp ad limina đã cho hay ngài hơi ngỡ ngàng ("slightly mystified") về đề tài tranh luận sôi nổi hiện nay là có nên hay không nên cho các chính trị gia Công Giáo lên rước lễ bởi vì theo ngài, từ trước đến giờ có vẫn có những chính trị gia ủng hộ lựa chọn (phá thai) rước lễ. Phản ứng trước tuyên bố này của ÐHY Mahony, có người cho rằng nhận định đó của ngài cho thấy giới lãnh đạo Giáo Hội Hoa Kỳ bấy lâu nay vẫn chưa thực hiện đủ vai trò mục tử là phải dạy dỗ tín hữu sống đúng theo lời Chúa và Hội Thánh dạy.

Còn phản ứng trước việc Ðức Hồng Y McCarrick của TGP Washington D.C., cho rằng ngài cảm thấy "không được dễ chịu" (uncomfortable) khi từ chối các chính trị gia Công Giáo ủng hộ phá thai lên rước lễ, bà Judy Brown là Chủ tịch của Liên Ðoàn Bênh Vực Sự Sống Hoa Kỳ (American Life League) liền cho làm một mẫu "flier" có in hình Chúa Giêsu chết trên thập giá với dòng chữ bên dưới: "Ðức Hồng Y Theodore McCarrick, giờ ngài có dễ chịu chưa?"

Hiện vẫn chưa biết được phản ứng sau này của các chính trị gia Công Giáo không chấp nhận giáo huấn Hội Thánh trong đời sống công cộng đối với tuyên bố mới đây của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ. Liệu họ có chịu nhìn nhận sự thật luân lý Hội Thánh dạy hay không? Hoặc là họ và những người Công Giáo cùng quan điểm với họ sẽ có thể từ bỏ Giáo Hội?

Ðức Cha Michael Sheridan khi được ký giả Anderson Cooper của Hãng Tin CNN phỏng vấn về việc liệu hành động của ngài có đẩy người ta ra khỏi đạo Công Giáo hay không trong khi thống kê cho thấy số người Công Giáo tham dự Thánh Lễ hàng tuần vào năm 1972 từ 49% hiện giảm xuống mức 26% vào năm 2000, đã cho biết như sau:

"Chắc chắn là tôi không muốn đẩy bất kỳ người Công Giáo nào ra khỏi Giáo Hội. Ðó không phải là ý định của tôi nhưng vấn đề là sự thật và tôi tin là tôi nói sự thật của Hội Thánh, của Thiên Chúa. Ðiều này đôi khi gây chia rẽ và đôi khi bỏ lại một số người đàng sau.

"Ðó là một hậu quả không may và không cố ý, nhưng một giải pháp khác là đừng nói gì cả, và nếu tôi làm thế, tôi làm hại đến phần rỗi của chính mình. Tôi tin rằng, là một giám mục, tôi được trao mệnh lệnh phải nói sự thật."


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com