|
Maria Cô Gái Israel (kỳ cuối) Paul Diệp Qui Chế Của Người Ðàn Bà
Khi một người phụ nữ ra đường, họ phải che mặt để không ai thấy gương mặt. Người ta muốn các thiếu nữ, trước khi kết hôn, không ra khỏi nhà. Tuy nhiên, trong các làng, vì người phụ nữ không thể có một lối sống hoàn toàn "dấu kín" như vậy, nên người ta ít khắt khe. Các sự giao tế, giữa người ở thôn quê, được tự do hơn là ở Giêrusalem chẳng hạn, mặc dù là người phụ nữ vẫn không được có mặt một mình giữa đồng áng. Trước khi lập gia đình, các cô gái hoàn toàn lệ thuộc phụ quyền: Cho đến 12 tuổi rưỡi, người cha có quyền tuyệt đối (Một cô gái không có quyền khước từ cuộc hôn nhân do cha mình quyết định). Chỉ khi đã trưởng thành ( từ 12 tuổi rưỡi) mới có thể tự quyết định. Lới hứa của một phụ nữ trẻ tuổi có giá trị hoặc bị hủy bỏ tùy theo sự ưng thuận hay không của người cha hoặc người chông. Tuổi trẻ được đính hôn của một cô gái thường là giữa 12 và 12 tuổi rưỡi. Lễ đính hôn (iroussim) chuẩn bị cô gái để từ sự tùy thuộc quyền của cha sang tùy thuộc quyền chồng. Theo nghi thức, bắt đầu là lễ hỏi và việc thiết lập một khế ước hôn nhân bằng cách trả một số tiền hồi môn (mohar). Các hành-vi ấy có nghĩa: người muốn lập gia đình "mua" vị hôn thê, được gọi là "vơï". Với tư cách ấy, họ có thể là góa chồng hoặc bị chồng boû bằng một đơn ly hôn và, trong trường hợp ngoại tình, bị tử hình. Như vậy, lễ đính hôn là một cam kết hệ trọng mặc dù chỉ là giai đoạn đầu tiên của cuộc hôn nhân Do thái, chưa có hành vi vợ chồng. Hôn nhân (nissouim) (2) chỉ là một hành vi dân sự thường được cử hành một năm sau lễ đính hôn. Trong dịp này, người nam phải trả một số tiền lớn hơn cho cha mẹ cô gái. Qui chế của cô thay đổi: cô hội nhập vào thị tộc của chồng. Ðám cưới là một lễ mừng, kéo dài đến bảy ngày. Nghi tiết chính là việc cô gái nhập gia của chồng. Trên thực tế, việc cặp vợ chồng trẻ vào sống trong gia đình của chồng có nghĩa, đối với cô gái, là một sự bước vào trong một cộng đồng gia đình ngoại tộc: Người đàn bà bắt buộc phải vâng lời chồng cũng là chủ mình. Sự vâng lời ấy được xem như là một bổn phận tôn giáo. Các đứa con được sinh ra thành phần chi tộc của chồng. Nơi nhà, người vợ dường như đồng quyền với chồng, ít nữa là đối với các con. Trong đời sống thường nhật, người đàn bà làm gần hết mọi việc: xay thóc, làm bánh mì, nấu ăn, xách nước từ giếng hoặc từ các ngọn suối về nhà, nuôi dạy con, lo việc sạch sẽ (3), chăm lo việc đạo đức, sự thánh hóa của gia đình... Lề Luật chú trọng bảo vệ người phụ nữ trong lãnh vực riêng của họ: sự sống. Trên phương diện tôn giáo, theo Kinh Thánh, người đàn bà không được đặt ngang hàng với người đàn ông: người nữ phải tuân phục tất cả sự cấm đoán của Lề Luật cũng như các bó buộc của dân luật và hình luật, kể cả án tử hình. Trái lại, đối với các mệnh lệnh của Lề Luật, có một số nghĩa vụ không buộc đối với người nữ như đọc Kinh Torah, hành hương đến Giêsusalem, khi có lễ trọng. Trong hôi đường, người đàn bà được vào nơi cử hành phụng vụ nhưng bị cấm vào lớp học của các Ký lục. Khi cử hành phụng vụ, người đàn bà không giữ vai trò chi cả, chỉ ở đó để nghe thôi. Việc học hành bị cấm đối với phụ nữ. Học đường được dành riệng cho nam giới, trong gia đình, phụ nữ không thuộc vào số được mời để nói lên lời cảm tạ, sau bữa ăn. Họ cũng không thể làm chứng vì bị xem là "hạng người nói láo." Tuy nhiên, sẽ thiếu sự trung thực, nếu chỉ dừng lại trên các hành vi bị cấm đối với phụ nữ thôi. Sự thấp kém của phụ nữ Do thái chỉ có tính cách xã hội. Israel không thể quên là, theo Kinh Thánh, trong các tường thuật về việc tạo thành vũ trụ lúc khởi nguyện, hai giới nam nữ bình quyền hoàn toàn. Dưới mắt Thiên Chúa, người nữ được nhiều ưu quyền: họ là người cất giữ kho báu hạnh phúc của gia đình. Ðó là nguyên do của vai trò "kín đáo". Nếu ở miền Cận đông, người ta nhốt kín các phụ nữ vì sự ghen tương, ở Israel, người ta muốn bảo vệ một bí nhiệm. Vai trò "kín đáo" của người nữ có lý do trong lịch sử của việc cứu chuộc. Tất cả sự sống bắt nguồn từ người đàn bà. Mỗi người nữ đều có thể sinh hạ đấng Mêsia; do một trong các người nữ, sự cứu độ Israel sẽ đến. Thiếu người nữ, người nam chỉ có sự hiu quạnh và sẽ vô dụng. Người nữ là trung tâm của tổ ấm. Tuy người nam là chủ nhưng gia đình sẽ trống không, thiếu sự sống nếu thiếu bà mẹ. Kinh Torah đã đặt sự cách biệt giữa nam và nữ để tạo sự kính trọng, để bảo vệ sự bí nhiệm. Nhóm Nhỏ Còn Lại Của Israel Là cô gái Israel, Maria mang nơi mình tất cả sự mong đợi của dân tộc. Ðó là một sinh khí thổi dài suốt dòng lịch sử và được nuôi dưỡng bởi việc tụng niệm "Thánh Vịnh" thường nhật. Vì Thiên Chúa đã hứa bảo tồn đời đời "nhà Ðavít", dân tộc Israel, giữa những sự thử thách, mong đợi sự xuất hiện và giải cứu của Ðấng Mêxia mới, từ dòng tộc Ðavít. Sách Tiên tri Isaia I, tiên báo sự sinh ra của một hài nhi, đã mô tả hình dáng của đấng ấy, dấu hiệu của sự trung tín của Thiên Chúa (1 Is 9,5). Isaia II đặt cho hình dáng ấy gương mặt của một người tôi tớ dịu hiền, hòa hậu, bị bách hại, bị xử tử để đền tội lỗi của người khác, trước khi được Thiên Chúa tôn vinh (2 Is 53) Nhưng vì dân tộc do thái bị đè bẹp dưới ách đô hộ của các đế quốc lớn, nên họ ấp ủ hình ảnh của một đấng Mêxia giải phóng và chiến thắng. Dưới thời Lamã chiếm đóng, sự mong đợi càng thắm thiết hơn bao giờ hết. Maria thuộc thành phần của nhóm nhỏ còn lại của Israel, nhóm tôn giáo ưu tú ghi nhớ lời hứa của Thiên Chúa, các người nghèo của Yahvê với tấm lòng thanh khiết, chờ đợi đấng Mêxia trong sự vững tin nơi Lời Chúa. Maria Ở Nazarét TÊN MARIA Ngày nay, tên của mỗi người được dùng, chính yếu, để chỉ định người ấy trong các giao tế xã hội. Ngày xưa, nhất là trong Kinh Thánh, tên có một ý nghĩa đặc biệt, đáng chú ý. Một phần nào, tên bao gồm cả cuộc đời của đương sự: ý nghĩa của sứ mạnh ở trần thế, tính nết và vận mệnh của họ. Trong Kinh Thánh, có nhiều thí dụ về việc đổi tên để nhấn mạnh đến việc cải đổi sứ mệnh của cuộc đời. Chẳng hạn như: Abram trở thành Abraham, Giacóp trở thành Israel, Simon đổi ra Phêrô. Có thể nói: Khi Thiên Chúa cho một tên, Lời của Ngài sáng tạo, trong con người ấy, những điều kiện thích ứng với tên ấy. Ðổi tên tức là muốn ảnh hưởng, muốn biến đổi, muốn dùng đương sự trong một sứ mệnh mới. Maria, theo tiếng Hy-lạp là "Marian", phiên âm tiếng Hi-pri "Myriam". Tên này thông dụng thời ấy. Trong Phúc âm, có nhiều tên Maria như: Maria ở Ma-đa-la, Maria ở Betania, Maria Salômê, mẹ của Gia-cô-bê hậu và Jude (4) và Maria, mẹ của Gioan-Mác-cô (Cv 12,12). Tưởng nên dừng lại để tìm hiểu thêm về ý nghĩa của tên Maria. Tên ấy có thể có nguồn gốc Ai-cập: chị của Môisen có tên là Myriam (Xh 15,20). Người Ai-cập ghép vào tên một tĩnh từ liên hệ đến tên của một thần linh. Tên Myriam gồm hai thành phần: "Myr" = người đáng yêu, "Yah"=Thiên Chúa. "Myriam" có nghĩa là "người đáng yêu của Thiên Chúa". Nếu tìm nguồn gốc ở Syrie, thì ta thấy chữ "Mar" = vợ của hoàng đế, hoặc vợ của một vị chúa và Myriam sẽ có nghĩa là "Nữ Hoàng". Thánh Jérôme phiên dịch tên Maria là "Ðức Bà" (La Dame). Ðó cũng là cách xưng hô thông dụng ở Tây Phương: Ðức Bà của chúng tội (Notre Dame) "KHÔNG THẤY NÓI CHI VỀ NGƯỜI ÐÀN BÀ ẤY" Về cô gái làng Nadarét, chúng ta gần như không biết chi cả vì cô nhỏ bé, khiêm hạ và nghèo khó. cô giống như các đồng hương. Và có thể nói, đối với con mắt của thế gian, cô chỉ rất tầm thường. Chúng ta có thể hình dung cô còn trẻ lắm (lối 12 tuổi rưỡi, tuổi để được đính hôn) lúc được truyền tin. Cô có đời sống của một người ở làng quê, nghèo khó, trung thành với Lề Luật. Về gia đình của Cô, chúng ta gần như không biết chi cả. Cũng rất khó ấn định sự liên hệ bà con giữa Cô và "bà chị" (cousin) Y-sa-ve. Cuộc đời của Cô, qua một số ghi chú trong các quyển Phúc âm, là một cuộc đời đánh dấu bởi nhiều đau khổ: sự sinh con trong hoàn cảnh khó khăn, phải chạy trốn sang Ai-cập, sự bồi hồi lo lắng vì lạc mất cậu con trai trong một cuộc hành hương ở Giêrusalem, góa bụa, con bị chính quyền của dân tộc chống đối, lên án và xử tử trong các điều kiện nhục nhã. Phải, đó là hình ảnh của Maria với cái nhìn bên ngoài của thế gian, cái nhìn không đi sâu được vào chính bản vị của Cô được. Và, có thể kết luận, khi nhắc đến "Maria, Cô gái Israel", điều quan trọng là người ta biết nhận ra các việc Thiên Chúa đã làm nơi Maria. Chú Thích: (1) Mặc dù vậy, một số phụ-nữ đã giữ một vai trò trọng hệ trong Kinh Thánh: - Miriam, em gái của Môisen (Xh 15,20); Anna, mẹ của Tiên-Tri Samuel (1 S 1). - Các nữ Hoàng: Bethsabée (mẹ vua Salômon), Isabel (vợ vua Akhab), và Athalie (mẹ vua Ochozias). - Các nữ tiên Tri: Dêbôra(Thp 4,5) vàø Hukla (2 V 22,14); - Bà mẹ của 7 anh em tử đạo trong sách Macabê (2 M 7,20) - Bà Anna, con của Phanuel đã nói về sự xuất hiện của Ðấng Cứu độ, nơi đền thánh Giêrusalem (Lc 2, 36-38) (2) Trong thời Ðức Maria, chế độ đơn hôn là quy tắc thông hành đối với các gia đình Do thái. Quyền rẫy vợ thuộc hoàn toàn phía người nam (3) Sự thanh khiết là một tình trạng bắt buộc để đến gần bàn thờ và các vật thánh. có nghi lễ "về việc sạch sẽ" bằng cách tắm rửa và bằng các hy lễ (lễ tế đễ đền tạ) (4) Hai vị này là Tông đồ và là "anh em" (cousin) của Chúa Giêsu (theo tác phẩm "Phúc Âm Như Ðã Ðược Tiết Lộ Cho Tôi" của Maria Valtoria). Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |